MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1. Thị hiếu
1.2. Thị hiếu điện ảnh
Chương 2: THỰC TRẠNG THỊ HIẾU ĐIỆN ẢNH CỦA SINH VIÊN MỘT
SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI HÀ NỘI
2.1. Khái quát về đời sống vật chất, đời sống tinh thần của sinh viên một số
trường đại học và cơ sở điện ảnh tại Hà Nội
2.2. Thực trạng thị hiếu điện ảnh của sinh viên một số trường đại học tại Hà Nội
2.3. Nguyên nhân tác động đến thị hiếu điện ảnh của sinh viên
các trường đại học tại Hà Nội
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO THỊ
HIẾU ĐIỆN ẢNH CỦA SINH VIÊN MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI
HÀ NỘI
3.1. Thị hiếu điện ảnh của sinh viên qua dư luận
3.2. Một số kiến nghị, đề xuất nhằm nâng cao thị hiếu điện ảnh của sinh viên
một số trường đại học tại Hà Nội
KẾT LUẬN
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Điện ảnh là môn nghệ thuật tổng hợp có sức thu hút kì lạ đối với công
chúng. Và lực lượng khán giả đông đảo của điện ảnh là sinh viên. Họ có những
thị hiếu điện ảnh khác nhau, có người thích xem bộ phim này, nhưng có người
lại thích xem bộ phim khác. Thị hiếu điện ảnh của họ góp phần làm phong phú,
đa dạng thêm thị hiếu điện ảnh của công chúng. Bởi vậy, khi nắm bắt được thị
hiếu điện ảnh của sinh viên sẽ giúp cho các nhà điện ảnh hiểu rõ hơn về một bộ
Quản lý văn hoá.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về thị hiếu điện ảnh thì đã có rất nhiều công trình, nhiều bài
báo như: luận án phó TS của Nguyễn Văn Thủ với đề tài “Nhu cầu điện ảnh của
công chúng Việt Nam hiện nay”, “Khán giả điện ảnh Việt Nam, nhu cầu và thị
hiếu” của Phòng nghiên cứu khán giả điện ảnh – Fafilm Việt Nam, “Về nhu cầu
và thị hiếu điện ảnh của công chúng” ở An Giang của Hoàng Trần Doãn, “Nhu
cầu và thị hiếu khán giả điện ảnh” - Đặng Minh Liên… Nhìn chung các công
trình này đều đi vào khảo sát trên diện rộng. Còn nghiên cứu thị hiếu điện ảnh
của sinh viên lại rất ít, chủ yếu chỉ dưới dạng các bài báo.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài đi vào tìm hiểu, phân tích, đánh giá thị hiếu điện ảnh của sinh viên
một số trường đại học tại Hà Nội để rút ra những biện pháp nhằm nâng cao thị
hiếu cho sinh viên.
Đối tượng nghiên cứu là nghiên cứu về thị hiếu điện ảnh của sinh viên.
Với dự hạn hẹp của thời gian nghiên cứu, người viết chỉ xin nghiên cứu
đề tài ở 4 trường đại học tại Hà Nội (2 trường thuộc khối xã hội và hai trường
thuộc khối tự nhiên) là: Đại học Văn hoá Hà Nội, Đại học Khoa học xã hội và
nhân văn, Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Bách khoa Hà Nội.
4. Nhiệm vụ của khoá luận
- Tìm hiểu thực trạng thị hiếu điện ảnh của sinh viên các trường đại học
tại Hà Nội.
- Nêu nguyên nhân thị hiếu điện ảnh của sinh viên
- Đóng góp một số giải pháp nhằm nâng cao thị hiếu điện ảnh của sinh
viên
3
5. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu
Tác giả Đỗ Huy cho rằng: “Thị hiếu là khả năng lựa chọn phổ biến của
con người, là sở thích trong mọi lĩnh vực của cá nhân và tập thể” [10, tr. 177].
Theo tác giả, thị hiếu là sự yêu thích của đa số công chúng chứ không phải của
một cá nhân cụ thể.
Còn ý kiến thứ hai, tác giả Trần Độ trong cuốn “Thoả mãn nhu cầu văn
hoá và nâng cao thị hiếu nghệ thuật” lại bày tỏ rằng: “Thị hiếu là kiểu ưa thích
nào đó, kiểu ưa thích này thường bộc lộ ngay lập tức, nó biểu thị toàn bộ khả
năng đánh giá, cảm xúc của chủ thể” [6, tr. 21]. Sở dĩ kiểu ưa thích này bộc lộ
ngay lập tức vì khả năng đánh giá, xúc động của ta bao giờ cũng thể hiện trước
một đối tượng thẩm mỹ và tạo ra một sự ưa thích ngay lập tức theo một kiểu nào
đó. Chẳng hạn như khi đứng trước một bức tượng (đối tượng thẩm mỹ) thị hiếu
(tức là kiểu ưa thích) của ta lập tức sẽ xuất hiện ngay. Ta sẽ thấy ngay một trạng
thái thích thú, khoái cảm hay thờ ơ thậm chí khó chịu…Với định nghĩa này ông
đã phủ nhận thị hiếu cá nhân bởi cách lựa chọn, cách ưa thích của mỗi cá nhân
không thể xác lập thành một kiểu. Kiểu là do nhiều sự vật có thuộc tính giống
5
nhau tạo nên. Do đó nhiều cá nhân cùng thích một tác phẩm nào đó mới có ý
nghĩa kiểu ưa thích. Còn nếu mỗi cá nhân có thị hiếu của riêng mình thì chúng ta
có thể gọi là sở thích cá nhân mà thôi.
Khái niệm thị hiếu trong đời sống cũng như trong khoa học đều bao hàm
sự ưa thích của một cá nhân hay một nhóm cá nhân về một quyển sách hay một
bức tranh nào đó. Thị hiếu tuy gắn với tình cảm cá nhân nhưng biểu thị các kiểu
ưa thích khác nhau. Bởi vậy, người viết xin lấy một khái niệm rất đơn giản
nhưng lại khá bao quát của TS Hoàng Trần Doãn để chúng ta cùng sử dụng
trong cuốn khoá luận này: “Thị hiếu là biểu hiện sự yêu thích của cá nhân và xã
hội trong một khoảng thời gian nào đó đối với vật chất hay tinh thần. Thị hiếu
thay đổi theo sự thay đổi của cá nhân và xã hội trong khoảng thời gian khác
nhau” [5, tr. 26] .
lố bịch, cầu kỳ và buồn cười. Thị hiếu thấp là thị hiếu của những người chưa
được tiếp xúc với nhiều cái đẹp thực sự vì thế nó thô sơ, kệch cợm.
Ngược lại thị hiếu cao (hay thị hiếu phát triển) là thị hiếu của những
người có học vấn, có trình độ kiến thức cao, thực sự tiếp xúc nhiều với cái đẹp.
Ở những người này, thị hiếu tinh tế hơn, sâu sắc hơn nhất là ở những người
được giáo dục thẩm mỹ.
Thị hiếu cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ kiến thức, trong đó kiến thức
về ngôn ngữ các loại hình nghệ thuật là yếu tố rất quan trọng. Bởi vì nếu thưỏng
thức nghệ thuật mà không hiểu ngôn ngữ nghệ thuật thì không thể thưởng thức
được.
Khi nói tới thị hiếu lành mạnh và thị hiếu không lành mạnh lại đề cập tới
một vấn đề khác.
Thị hiếu không lành mạnh có hai loại ở mức cao là thị hiếu độc hại, ở
mức thấp là thị hiếu xấu. Sở dĩ có sự phân biệt như vậy vì có tác phẩm xuất phát
từ thị hiếu độc hại, tức là xuất phát từ âm mưu chính trị độc hại, nó có thể mang
sự độc hại đến cho khán giả. Thế nhưng cũng có tác phẩm xuất phát từ thị hiếu
xấu nhưng tác hại của nó khó nhận thấy hơn nó bị chen lẫn với những yếu tố
nghệ thuật thực sự…nó cũng thuộc về loại không lành mạnh. Loại thị hiếu
không lành mạnh (độc hại và xấu) này tác động xấu đến sự phát triển tinh thần
và nhân cách của con ngưòi.
7
Còn thị hiếu lành mạnh là loại thị hiếu tốt không chỉ đảm bảo cho nhân
cách phát triển toàn diện mà con giúp cho chủ thể hưởng thụ, đánh giá đúng đắn,
trọn vẹn các đối tượng thẩm mỹ mà còn tạo ra nhiều giá trị thẩm mỹ cao đẹp.
1.2. THỊ HIẾU ĐIỆN ẢNH
1.2.1. Điện ảnh
Theo luật Điện ảnh, năm 2006 quy định: “Điện ảnh là loại hình nghệ thuật
chưa xảy ra) được các tác giả sắp xếp thành chuỗi liên quan qua đó câu chuyện
kể về các số phận của các nhân vật. Và người xem coi những biểu hiện trên
phim là phản ánh đời sống thực, họ tin vào những gì xảy ra trong phim, đôi khi
còn vận dụng nó vào trong đời sống của mình.
Điện ảnh là loại hình có tính hấp dẫn. Điện ảnh cho phép người ta đọc
sách bằng hình ảnh, với sự hỗ trợ của âm thanh cuộc sống (tiếng động, âm nhạc,
ngôn ngữ của con người). Hiệu quả của việc đọc sách này tăng lên nhiều lần vì
những hiện tượng văn học đã trở nên cụ thể trước mắt người xem với sự sống
động, linh hoạt giúp cho họ cảm nhận chúng một cách rõ ràng. Với cách diễn
xuất của diễn viên, cách ghi hình sinh động, linh hoạt và cách hỗ trợ tối đa âm
thanh, ánh sáng mà người nghe có thể cảm nhận được đầy đủ các vấn đề của xã
hội, của con người được đề cập trong tác phẩm. Hơn thế con người có thể tìm
thấy mình, những người thân, những người xung quanh mình trong đó.
Điện ảnh đã được hàng triệu người trên thế giới hào hứng chào đón.
Trong lịch sử phát triển của mình điện ảnh đã chứng tỏ tính ưu việt của một bộ
môn nghệ thuật tổng hợp có tác động mạnh mẽ đến tinh thần của quần chúng
người xem. Chưa có một bộ môn nghệ thuật nào lại có tính phổ cập đến vậy,
đồng thời lại đa năng đến như thế. Nó có khả năng hình thành quan điểm và thị
hiếu của người xem. Trong cuộc sống con người thường xây dựng cho mình
cách ứng xử theo một khuôn mẫu nhất định. Những khuôn mẫu này được tìm
thấy ở hình ảnh cụ thể của người cha, người mẹ, người thầy, người anh hay thần
tượng của mình…Và điện ảnh giới thiệu với họ những khuôn mẫu điển hình như
thể bằng hình tượng nghệ thuật, theo ngôn ngữ của điện ảnh. Điện ảnh đã tác
động đến trí tuệ, tâm hồn, mang đến cho người xem những hiểu biết mới, những
tình cảm mới góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hội, hành vi theo lý tưởng của
thời đại. Điện ảnh xây dựng nên hình tượng, hình mẫu mà người xem thường
tìm thấy ở đó thần tượng, mầu người cho mình bắt chước. Điện ảnh mang đến
9
10
Ở đây chúng ta cần phân biệt hai khái niệm nhu cầu điện ảnh và thị hiếu
điện ảnh. “Nếu nhu cầu điện ảnh là động cơ thúc đẩy con người hành động để
lĩnh hội, thưởng thức và sáng tạo ra các giá trị điện ảnh thì thị hiếu điện ảnh lại
là khả năng thẩm thấu, đánh giá của con người với các giá trị đó” [5, tr.46]. Nhu
cầu điện ảnh thôi thúc sự tìm kiếm, kích thích tính tích cực của con người vượt
qua trở ngại, khắc phục điều kiện và hoàn cảnh đến với tác phẩm điện ảnh thì thị
hiếu là cánh cửa đón con người vào với thế giới điện ảnh. Nhu cầu điện ảnh là
những thuộc tính tiềm ẩn bên trong vốn có của con người, còn thị hiếu điện ảnh
được dần dần hình thành trong quá trình hoạt động thực tiễn của họ. Tuy có sự
phân biệt nhưng nhu cầu điện ảnh và thị hiếu điện ảnh lại có quan hệ mật thiết
với nhau. Nếu nhu cầu điện ảnh là cơ sở để nảy sinh thị hiếu điện ảnh thì thị
hiếu điện ảnh lại là một dạng động cơ của nhu cầu điện ảnh.
Sở thích cá nhân là biểu hiện cụ thể của thị hiếu điện ảnh. Ở trình độ nào
đó nó đơn thuần là “thích” hay “không thích”. Trong quá trình thực tiễn, thị hiếu
thẩm mỹ nói chung trong đó có thị hiếu điện ảnh dần dần được nâng lên và con
người có những phản ứng nội tâm phong phú, sâu sắc, nhạy bén có khả năng
phát hiện, đánh giá những giá trị sâu lắng, tinh tế của tác phẩm, có khả năng tiếp
thu những cái mới lạ…Lúc này không chỉ còn đơn thuần là thích hay không
thích mà nhờ có thị hiếu chủ thể có thể lý giải rõ ràng “tại sao thích” hay “tại sao
không thích”. Đối với mỗi người thì thói quen thị hiếu được hình thành lâu dài
thể hiện tính cách của cá nhân. Sức mạnh thói quen nhất là thói quen thị hiếu
được củng cố về mặt tình cảm trong tính cách cá nhân là rất lớn.
Sở thích cá nhân nhưng diễn ra liên tục và lâu dài đến một mức độ nhất
định là biểu hiện ổn định của nhu cầu điện ảnh. Sự ưa thích đó là cơ sở cho sự
lựa chọn tích cực hoạt động điện ảnh của công chúng. Thị hiếu điện ảnh là
khuynh hướng và cũng là kết quả lựa chọn nhu cầu điện ảnh, không những thế
nó còn biểu hiện năng lực thưởng thức điện ảnh của cá nhân.
cảm như tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ. Những tình cảm
này biểu hiện rất phong phú trong các hoạt động của sinh viên. Để thoả mãn tình
cảm trí tuệ, sinh viên không chỉ học những gì có sẵn trong chương trình bắt buộc
mà họ còn mở rộng, đào sâu kiến thức của mình bằng nhiều cách với nhiều
nguồn cung cấp kiến thức thông tin như: tìm đọc ở thư viện, học trên các
phương tiện truyền thông, tham gia các hoạt động ngoại khoá, các hoạt động
12
nghiên cứu khoa học hay các hội thảo khoa học…Chính tình cảm trí tuệ đã làm
cho luợng trí thức sinh viên tích luỹ thường lớn.
Sinh còn là người yêu vẻ đẹp thể hiện ở hành vi, đạo đức, vẻ đẹp thẩm mỹ
ở các sự vật, hiện tượng tự nhiên hoặc con người tạo ra. Và tình cảm đạo đức,
tình cảm thẩm mỹ thể hiện ở một chiều sâu rõ rệt, yêu thích cái gì họ đều thể
hiện cố gắng lý giải và phân tích một cách có cơ sở. Đặc biệt đời sống tình cảm
của sinh viên khá phong phú bởi những đòi hỏi cấp thiết khi tâm sinh lý của họ
đã phát triển. Cũng chính vì thế mà nhu cầu tinh thần của họ càng lớn. Họ muốn
thưởng thức, đánh giá và tham gia vào các loại hình văn hoá văn hoá nghệ thuật.
Sinh viên chính là nguồn khán giả đông đảo của trong các buổi biểu diễn ca nhạc,
trình diễn thời trang hay những buổỉ chiếu phim. Sự thoả mãn nhu cầu này của
sinh viên góp phần làm tăng thêm sự hiểu biết của họ về xã hội, những kiến thức
của cuộc sống, những tình cảm mới lạ và đẹp đẽ, những bài học bổ ích, hiểu biết
về nghệ thuật đặc biệt là tình cảm thẩm mỹ.
1.3.2. Thị hiếu điện ảnh của sinh viên
Thị hiếu điện ảnh của sinh viên là những yêu thích, là sự lựa chọn phổ
biến trong lĩnh vực điện ảnh của những người trẻ tuổi đang học tập và nghiên
cứu trong các trường đại học, cao đẳng. Sự yêu thích lựa chọn ấy giúp cho họ
thu thập kiến thức khoa học và những kinh nghiệm chuyên môn giúp cho họ trở
thành những chuyên gia trong tương lai và chuẩn bị bước vào lao động, sản
xuất.
bộ phận sinh viên sống ở nội trú, còn hầu hết sinh viên ở ngoại trú.
Đời sống vật chất của ngày càng tăng nên sinh viên bớt đi gánh nặng, có
điều kiện để học tập hơn. Họ có thể tiếp thu kiến thức trên nhiều hình thức,
nhiều phương tiện khác nhau. Sinh viên không còn phải học “chay” như trước
kia, mà họ có sự hỗ trợ của các thiết bị dạy học như slide, máy chiếu, máy
tính… Giờ học thực hành của sinh viên các trường kĩ thuật như đai học Bách
khoa hiệu quả hơn nhờ được trang bị kĩ thuật hiện đại. Sinh viên khối xã hội như
đại học Văn hoá, đại học Khoa học xã hội và nhân văn được đi thực tế nhiều hơn
làm giàu kiến thức chuyên môn của mình. Hình ảnh của những sinh viên bước
lên giảng đường với chiếc laptop không còn là hiếm. Đặc biệt với sự bùng nổ
14
của mạng lưới truyền thông, cùng với sự năng động nhạy bén, sinh viên có thể
dễ dàng tiếp thu các kiến thức ở khắp mọi nơi trên thế giới. Chỉ cần kích chuột
vào một trang web thì cả chân trời tri thức mở ra. Đất nước bước vào hội nhập
đồng nghĩa với việc nhiều cơ hội mở ra cho sinh viên. Sinh viên có thể tìm ra
nhiều công việc phù hợp với mình. Nó không chỉ giúp cho họ có thêm nhiều
kinh nghiệm thực tiễn, trở nên năng động hơn mà còn mang lại một khoản thu
nhập.
Tuy nhiên với những nhu cầu vật chất ngày càng cao, gia đình lại không
có khả năng đáp ứng nên nhiều sinh viên vì mải đi kiếm đã bỏ bê học hành.
Về đời sống tinh thần
So với thời trước thì đời sống tinh thần sinh viên hiện nay được cải thiện
hơn nhiều. Các trường đại học tổ chức nhiều hơn các buổi diễn ca nhạc, các buổi
nói chuyện chuyên đề về những vấn đề mà sinh viên quan tâm…Các bạn sinh
viên có thể tham gia vào các hoạt động văn hoá, văn nghệ, làm phong phú thêm
tâm hồn của mình.
Đời sống tinh thần của sinh viên kí túc xá được quan tâm hơn. Các tổ
chức Đoàn và Hội sinh viên hoạt động tích cực hơn, có hiệu quả hơn. Tại kí túc
Trên địa bàn thành phố Hà Nội, có khá nhiều rạp chiếu phim, trong đó có
thể chia ra thành bốn loại. Loại thứ nhất do Bộ Văn hoá thông tin quản lý, hình
thức hoạt động là doanh nghiệp công ích hoặc sự nghiệp có thu như Trung tâm
chiếu bóng quốc gia, Cinema Ngọc Khánh…Loại thứ hai thuộc sở hữu của các
đơn vị chức năng xuất nhập khẩu và phát hành phim như: Fafilm Cinema (thuộc
fafilm Việt Nam), mạng lưới của các công ty điện ảnh băng hình thuộc thành
phố (rạp tháng Tám, Công ty Điện ảnh băng hình Hà Nội). Loại thứ ba chọn mô
hình liên doanh liên kết như Đăng Dung là địa chỉ liên doanh giữa Cine Net và
công ty điện ảnh và băng hình nhà nước, Dân chủ là liên doanh giữa Fafilm Việt
Nam và công ty Mỹ Visonet. Trong những năm vừa qua, các rạp đều đầu tư tu
sửa hoặc xây dựng lại, đổi mới trang thiết bị để thu hút khán giả đến với rạp. Thí
dụ như rạp Dân chủ có 328 chỗ ngồi, hệ thống đèn và âm thanh được thiết kế
qua máy tính tạo nên độ tin cậy về chất lượng; rạp Đăng Dung đã có tới 140 chỗ
ngồi, 4 buổi chiếu/ngày, trung bình 4000 lượt người xem/tháng; rạp Bạch Mai
có 300 chỗ ngồi…
16
2.2. THỰC TRẠNG THỊ HIẾU ĐIỆN ẢNH CỦA SINH VIÊN MỘT SỐ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI HÀ NỘI
2.2.1. Thị hiếu của sinh viên trong lĩnh vực thưởng thức điện ảnh
2.2.1.1. Sinh viên yêu thích thưởng thức điện ảnh
Khi được hỏi thì 98% sinh viên đều trả lời rằng họ rất yêu thích điện ảnh.
Và nếu được lựa chọn một môn nghệ thuật để thưởng thức sinh viên sẽ chọn
điện ảnh. Theo một cuộc điều tra nhỏ của Tiến sĩ Hoàng Trần Doãn thì ông thấy
rằng trong các loại hình văn hoá nghệ thuật thì sinh viên yêu thích nhất điện ảnh.
Số sinh viên lựa chọn điện ảnh chiếm 51,2%, chiếm tỷ lệ cao nhất. Còn các loại
hình khác thì thấp hơn, chẳng hạn như: hội hoạ chiếm 23,6%, nhiếp ảnh chiếm
26,7%...Ngay cả ca múa nhạc, một loại hình rất gần gũi với công chúng đặc biệt
Rất quan
Quan
trọng
trọng
Ko
quan
1
2
Giải trí
Nắm bắt những thông tin có ích cho
60,5
23,5
32,3
54,0
trọng
7,2
22,5
3
học tập
41,3
29,3
27,0
7
sống
Tìm cho mình thần tượng để mình
4,6
25,9
69,5
noi theo
8
Tìm những rung động nghệ thuật
2,8
34,0
63,2
9
Tái tạo nghệ thuật
5,0
21,0
74,0
Sinh viên đến với điện ảnh với mục đích giải trí là chính. Con số 59,5%
với mức độ quan trọng đã nói lên điều đó. Các sinh viên mà người viết phỏng
vấn đều để cập đến tính giải trí mà điện ảnh mang lại. Có sinh viên đã nói rằng:
sống, giúp họ có thể hình dung được sự việc xảy ra và có thể chủ động giải
quyết. Đây cũng là mục đích mà sinh viên muốn đạt được khi tiếp xúc với điện
ảnh và cũng chứng tỏ hiệu quả điện ảnh đem đến với họ.
Mục đích đến với điện ảnh của sinh viên hai khối tự nhiên và khoa học xã
hội khác nhau. Sinh viên khối xã hội đến với điện ảnh nhiều hơn với mục đích
tăng thêm hiểu biết về nghệ thuật, tìm những rung động nghệ thuật hay tái tạo
nghệ thật. Phải chăng là do ngành khoa học xã hội là ngành nghiên cứu các vấn
đề của con người, các quan hệ gắn với tâm tư, tình cảm của con người. Nhưng
19
nói tóm lại, dù là sinh viên khối nào thì họ cũng là những người yêu thích
thưởng thức điện ảnh và có niềm đam mê với môn nghệ thuật thứ bảy này.
2.2.1.2. Phương thức thưởng thức điện ảnh của sinh viên
Người viết đã lựa chọn một vài phương thức xem phim chủ yếu của sinh
viên để làm một cuộc điều tra
Bảng điều tra số lần xem phim 1 tuần
Số lần/tuần
Xem trên TV
Xem bằng đĩa Xem trên Internet
0 lần
0
0
0
1 lần
0
0
0
2 lần
12,8
20
18,4 % bạn lựa chọn đến xem phim 1 lần/tháng, 7% là 2 lần/ tháng, còn lại đều
không lần nào.
Bảng điều tra số lần đến xem phim ở rạp 1 tháng (đơn vị %)
Số lần đến xem phim ở rạp 1 tháng
0 lần
1 lần
2 lần
3 lần
Hơn 3 lần
74,6
18,4
7,0
0
0
2.2.1.3. Những yêu thích của sinh viên trong thưởng thức điện ảnh
Sự lựa chọn thể loại điện ảnh của sinh viên
Trong điện ảnh có rất nhiều thể loại phim như phim tài liệu, thời sự, phổ
biến khoa học, phim truyện, phim hoạt hình. Những lựa chọn của sinh viên đối
với các thể loại này thể hiện sự yêu thích hay không yêu thích của họ, người ta
gọi là thị hiếu. Thái độ mong muốn lựa chọn thể loại điện ảnh của sinh viên
được thể hiện như sau:
Bảng điều tra các thể loại điện ảnh sinh viên yêu thích (đơn vị: %)
Mức độ yêu thích
TT
Rất
13,1
42,2
34,3
Qua bảng số liệu thấy rằng sinh viên thích xem phim truyện nhất, tiếp đến
là phim hoạt hình, cuối cùng là phim tài liệu, phóng sự khoa học.
Câu hỏi đặt ra ở đây là sinh viên chỉ thích xem phim truyện mà không
thích xem các thể loại khác nhất là phim phóng sự, tài liệu, khoa học.
Mỗi thể loại phim khác nhau có đặc điểm, chức năng khác nhau và các tác
giả sử dụng thể loại này vào mục đích khác nhau khi muốn chuyển tải những
21
vấn đề của xã hội, con người đến người xem. Các thể hiện của phim truyện phù
hợp với sinh viên hơn các thể loại khác.
Mang tính chính luận, ít tính giải trí, phim tài liệu, phóng sự khoa học là
thể loại báo chí mang nhiều thông tin và tính chân thật. Chức năng chủ yếu của
thể loại này là phổ biến kiến thức người xem nên không có kịch tính, lời nói chủ
yếu của người thuyết minh chứ không phải của diễn viên. Do vậy thể loại này
kém hấp dẫn, ít thu hút với người xem. Như đã nói ở trên sinh viên đến với điện
ảnh với mục đích giải trí là chính nên ít bạn chọn thể loại này (chỉ có 7,3%).
Phim truyện là loại phim do diễn viên đóng, có hư cấu với chủ định của
tác giả được gọi là phim nghệ thuật. Với tính nghệ thuật cao ở nội dung và cách
thức thể hiện bằng ngôn ngữ điện ảnh mà mặc nhiên người ta coi phim truyện là
tiêu biểu cho nền điện ảnh quốc gia. Qua các tác phẩm phim truyện, người xem
thấy được các vấn đề của xã hội, con người. Phim truyện phản ánh toàn vẹn và
sinh động hiện thực cuộc sống theo hướng tiếp xúc gần gũi nhất. Người xem có
thể tìm thấy hình ảnh của mình, của người thân, bạn bè trong phim. Mặt khác
với độ dài thích hợp, khả năng mô tả, mổ xẻ những vấn đề thực tiễn được thể
hiện khúc triết hơn, đầy đủ hơn giúp cho người xem dễ theo dõi, dễ đồng cảm
Thích
thường
thích
1
Phim tâm lý xã hội
46,5
21,6
15,6
16,3
2
Chuyển thể văn học
30,5
22,6
12,7
34,2
3
Phim hành động
32,9
23,7
13,8
29,6
4
Phim viễn tưởng
28,6
24,3
19,4
27,7
5
Phim thần thoại
19,8
một loại tình cảm đặc biệt của con người. Loại tình cảm này thường xuất hiện và
23
phát triển mạnh ở lứa tuổi thanh niên, sinh viên. Khi xem thể loại phim này con
người thường cảm nhận và thường liên hệ tới bản thân mình. Phim tâm lý xã hội
thường khai thác những mâu thuẫn nội tâm, những dằn vặt toan tính, những xúc
cảm từ sâu thẳm con người. Do vậy người xem như được trải nghiệm những
rung động của mình từ đó nhận thức rõ hơn và xuất hiện nhiều cảm xúc hơn. Và
như thế những khúc mắc trong cuộc sống, trong tình cảm đã được lý giải. Thời
kỳ sinh viên là thời kỳ con người ta vừa thực tế vừa dễ rung động, lãng mạn. Họ
luôn có nhu cầu lý giải một cách chính xác những vấn đề xác thực của đời sống
vì họ nhìn cuộc sống rất thực tế. Nhưng nhiều khi sinh viên lại cần những cái
lãng mạn trong cuộc sống để thấy lạc quan, yêu đời hơn. Tính thực tế và cả tính
lãng mạn luôn tồn tại trong họ và là nguyên nhân khiến họ yêu thích thể loại
phim này.
Tính ly kỳ mạnh mẽ làm cho sinh viên thích xem phim hành động. Phim
hành động đứng vị trí thứ hai trong lựa chọn thể loại phim yêu thích của sinh
viên. Những pha rượt đuổi gay cấn, những cú lia súng điêu luyện luôn làm cho
các bạn sinh viên thán phục khi xem thể loại phim này (32,9% với mức độ rất
thích).
Những sinh viên thích phiêu lưu mạo hiểm lại thích xem phim khoa học
viễn tưởng. Bạn Vũ Kim Dung, Đại học Kinh tế quốc dân đã nói rằng: “Phim
viễn tưởng đã cho tôi những thứ mà ngoài đời thực không có”. Những bộ phim
như thế này làm giàu thêm trí tưởng tượng của sinh viên và chắp thêm đôi cánh
cho những ý tưởng sáng tạo của họ. Nhiều khi những sáng kiến của sinh viên lại
xuất phát từ ý tưởng của một bộ phim viễn tưởng nào đó.
Sinh viên đa phần không thích xem phim lịch sử (46,3 % với mức độ
không thích) vì họ cho rằng nó quá khô khan, không có tính thời sự chỉ phản ánh
những cái đã qua, mang tính khô cứng, ít có tình tiết tình cảm riêng tư, và do đó
thường thích
1 Chiến tranh
11,0
15,2
27,4
46,4
2 Sản xuất, kinh doanh, học tập
27,4
32,4
14,6
25,6
3 Các vấn đề gia đình
25,4
28,3
16,3
30,0
4 Các vấn đề xã hội
29,0
27,9
13,2
29,9
5 Tình bạn, tình yêu
43,3
29,4
10,7
16,6
6 Lịch sử
16,6
16,3
21,3