PHÒNG GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO HUYỆN CẦN ĐƯỚC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI
Xây dựng và thử nghiệm một số biện pháp
dạy kỹ năng sống cho trẻ 3 - 4 tuổi tại trường
mầm non Thị Trấn Cần Đước
Họ và tên: Nguyễn Thị Phương Trúc
Đơn vị: Trường Mầm Non Thị Trấn Cần Đước
Huyện: Cần Đước
THÁNG 4 NĂM 2012
I/ Lý do chọn đề tài:
-1-
1. Đặt vấn đề:
“ Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định”. Đây là
mục đích và đặc trưng của giáo dục – dạy học trong thế kỉ XXI. Xu hướng đó đặt ra
yêu cầu cao về xây dựng con người hiện đại, đáp ứng được nhu cầu xã hội. Song
nhìn nhận chung của xã hội ngày nay cho thấy một thực trạng là nhiều trẻ em thụ
động, không biết ứng phó trước những tình trạng nguy cấp, chưa biết cách bảo vệ
bản thân trước nguy hiểm hay tìm kiếm sự giúp đở,…Có nhiều nguyên nhân khác
nhau dẫn đến thực trạng trên, trong đó có một nguyên nhân rất cơ bản đó là sự thiếu
hụt kỹ năng sống – những kỹ năng hết sức quan trọng để giúp các em có một hành
trang bước vào đời. Đây cũng là một vấn đề được xã hội rất quan tâm trong thời gian
gần đây.
Trên thế giới, từ nhiều năm qua giáo dục kỹ năng sống đã được đưa vào chương
trình học ở bậc tiểu học. Ở Việt Nam, năm học 2009 – 2010, lần đầu tiên Bộ Giáo
hoạch dạy kỹ năng sống cho trẻ.
2. Mục đích đề tài:
Mục đích của đề tài là hệ thống lí luận tìm hiểu về các kỹ năng sống cần thiết
để dạy trẻ. Trên cơ sở đó xây dựng và thử nghiệm một số biện pháp dạy kỹ năng
sống cho trẻ 3 – 4 tuổi. từ kết quả thử nghiệm đề xuất một số giải pháp sư phạm
góp phần nâng cao hiệu quả việc dạy kỹ năng sống cho trẻ 3-4 tuổi tại trường mầm
non.
3. Lịch sử đề tài:
Mục tiêu giáo dục mầm non hiện nay nhằm hình thành và phát triển ở trẻ những
chúc năng tâm lý, năng lực và những phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ
năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy những khả năng tìm ẩn, chuẩn
bị tốt cho sự phát triển của trẻ trong các giai đoạn sau. Giáo dục kỹ năng sống là
một nội dung quan trọng trong chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mầm non, nó có
ảnh hưởng rất lớn tới quá trình hình thành và phát triển nhân cách trẻ. Chính vì thế
ta có thể tìm thấy những nghiên cứu, những bài viết của các tác giả trong và ngoài
nước đề cập đến vấn đế này.
Trong cuốn “ Học cách sống tự lập”, tác giả Tova Navara đã cung cấp cho các
bậc cha mẹ một số phương pháp đơn giản, hữu hiệu để giải quyết các vấn đề
thường gặp ở trẻ, để giúp trẻ sử lý một số tình huống đơn giản thường gặp trong
cuộc sống hằng ngày, giúp trẻ phát triển tư duy và ngày càng hoàn thiện tính cách
của mình, nâng cao khả năng thích ứng với xã hội. [3]
Theo TS Nguyễn Thị Oanh, giáo dục kỹ năng sống được xem như là một
thành tố quan trọng để đánh giá chất lượng giáo dục ngày nay.[5]
TS Nguyễn Thu Cúc, chuyên gia tư vấn ABS Training ( trung tâm đào tạo kỹ
năng sống) đã chia sẻ: “ Ở các nước phát triển, trẻ rất độc lập. Và vì thế chúng
tránh được nhiều rủi ro đáng tiếc. Còn ở Việt Nam, vấn đề này chưa được quan
tâm đúng mức. Chúng tôi mở lớp học này vì nhận thấy có nhiều trẻ em bị xâm hại,
bị lạm dụng chỉ vì thiếu kỹ năng sống”. Cô còn cho biết “Kỹ năng sống không phải
- Các cháu đều ở cùng lứa tuổi. Trường lớp rộng rãi, thoáng mát có đủ đồ
dùng, dụng cụ phục vụ cho giảng dạy
- Giáo viên nhiệt tình, có trách nhiệm, có tinh thần học hỏi, đồng nghiệp, có
năng lực sư phạm.
- Qua ba năm trực tiếp đứng lớp thực hiện công tác dạy và chăm sóc các trẻ,
tôi nhận thấy trẻ ở lớp tôi rất thích được làm những công việc rèn luyện kỹ năng
sống và hầu hết các trẻ ở lứa tuổi này đều thích làm những công việc đó.
Khó khăn:
- Một số cháu chưa hề được đến trường, lớp và một số cháu còn chậm phát
triển về một mặt nhận thúc nào đó.
- Đa số phụ huynh đều bận bịu với công việc, và một số phụ huynh lo kinh
tế gia đình, chưa hiểu biết và quan tâm đến tẩm quan trọng của việc rèn kỹ năng
sống cho trẻ.
- Một số cháu được cha mẹ cưng chiều quá mức làm thay mọi việc.
- Vào đầu năm học qua một cuộc khảo sát 115 trẻ ở 4 lớp mầm thì tôi rút ra
được kết luận: đa số trẻ chưa có kỹ năng sống. ( N= 115 )
-4-
Tỉ lệ % trẻ đã có kỹ năng sống theo từng nhóm kỹ năng đầu năm như sau:
Nhóm kỹ năng sống
Số lượng
Tỉ lệ %
Nhóm kỹ năng vận động
38
33
Nhóm kỹ năng nhận thức
23
20
* Với những thuận lợi và khó khăn trên, tôi đã nghiên cứu tìm hiểu nội dung
và biện pháp khặc phục thực trạng trên như sau:
2. Nội dung dạy kỹ năng sống cho trẻ 3-4 tuổi tại trường
mầm non Thị Trấn Cần Đước:
2.1. Tìm hiểu về các nhóm kỹ năng sống của phù hợp để dạy trẻ 3-4
tuổi:
Những kỹ năng sống cần giáo dục cho trẻ mẫu giáo nhỏ được chia thành 7 nhóm
kỹ năng, đó là:
+ Kỹ năng vận động: bao gồm kỹ năng phối hợp các vận động cơ bản, kỹ năng
phối hợp các vận động tinh khéo léo, kỹ năng phối hợp các vận động trong nhóm.
+ Kỹ năng tự phục vụ: bao gồm kỹ năng ăn uống, kỹ năng vệ sinh cá nhân, kỹ
năng tự bảo vệ sức khỏe, kỹ năng tự phòng chống các tai nạn thông thường, kỹ
năng sử dụng đồ dùng.
+ Kỹ năng tình cảm: bao gồm kỹ năng đồng cảm, kỹ năng chia sẻ cảm xúc, kỹ
năng thể hiện tình cảm, kỹ năng kiềm chế cảm xúc.
+ Kỹ năng xã hội: bao gồm kỹ năng hợp tác, kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ, kỹ
năng nhận và hoàn thành nhiệm vụ, kỹ năng vượt qua khó khăn, kỹ năng tôn trọng
những quy tắc, nội quy chung, kỹ năng chở đợi đến lượt, kỹ năng giữ gìn đồ dùng
đồ chơi, kỹ năng quý trọng đồng tiền.
vào đó để xây dụng dạy cho trẻ của mình:
Về thể chất: dạy trẻ thực hiện các kỹ năng vận động cơ bản như đi, chạy,
thăng bằng, bò, trườn, trèo, tung, ném, bắt, bật- nhảy, biết phối hợp các giác quan
và vận động, vận động nhịp nhàng khéo léo trên nhiều địa hình khác nhau, trong
khi luyện tập vui chơi và làm việc vặt giúp cô. Trẻ có một số kỹ năng tốt trong việc
chăm sóc và giữ gìn sức khỏe cho bản thân như tự đánh răng, rửa mặt, lau mặt, rửa
tay bằng xà phòng, tự thay quần áo khi bị ước, bẩn và để vào đúng nơi quy định; đi
vệ sinh đúng nơi quy định, đi xong biết dội nước; trẻ có một số thói quen, kỹ năng
tốt trong ăn uống ( mời cô, mời bạn khi ăn, ăn từ tốn, không đùa nghịch, không làm
đổ vãi ra bàn, ăn được nhiều loại thức ăn khác nhau: không uống nước lã và ăn quà
vặt ngoài đường,…); biết cách sử dụng đồ dùng phục vụ cho ăn uống đúng cách và
thành thạo; biết cách làm một số món ăn thức uống đơn giản; trẻ có một số hành vi
và thói quen tốt trong vệ sinh, phòng bệnh ( đánh răng ba lần trên ngày, rữa tay
bằng xà phòng trước khi vào lớp, sau khi đi vệ sinh….); lựa chọn và sử dụng trang
phục phù hợp với thời tiết và biết lợi ích của việc làm đó; nói với người lớn khi bị
-6-
đau; biết che miệng khi ho, hắt hơi; bỏ rác đúng nơi quy định; không khạc nhổ bừa
bải;…)
Về nhận thức: giúp trẻ lĩnh hội kiến thức, mở rộng vốn hiểu biết. Dạy trẻ
những kỹ năng nhận thức như: quan sát, so sánh, phân loại, phán đoán, thảo luận;
dạy trẻ kỹ năng tư duy sáng tạo; dạy trẻ kỹ năng phát hiện và giải quyết các vấn đề
đơn giản theo những cách khác nhau. Trẻ có khả năng tự hoạt động và hoạt động
theo nhóm. Trẻ có một số kỹ năng học tập như sử dụng đồ dùng học tập, kỹ năng
khảo sát hiện tượng, kỹ năng đếm đong, đo, xếp tương ứng, so sánh và sắp xếp
theo quy tắc, phân biệc hình dạng,…
lề đường, không làm ồn nơi công cộng, muốn đi chơi phải xin phép người lớn,…).
Dạy trẻ biết sử dụng đồ dùng, đồ chơi đúng cách; biết chăm sóc cây cối, vật nuôi,
bảo vệ môi trường, bỏ rác đúng nơi quy định và biết nhắc nhở người khác,không
-7-
hái hoa, bẻ cành; biết tiết kiệm trong sinh hoạt như tắt điện, tắt quạt khi ra khỏi
phòng, khóa vòi nước sau khi dùng, không để thừa thức ăn…
Về thẩm mỹ: trẻ có khả năng cảm nhận và biết thể hiện thái độ, tình cảm
khi nghe âm thanh gợi cảm, các bài hát, bản nhạc và ngắm nhìn vẽ đẹp các sự vật,
hiện tượng trong thiên nhiên, cuộc sống và các tác phẩm nghệ thuật; có khả năng
thể hiện cảm xúc, sáng tạo trong các hoạt động âm nhạc, tạo hình; yêu thích hào
hứng tham gia các hoạt động nghệ thuật.
3. Biện pháp dạy kỹ năng sống cho trẻ:
Sau quá trình thực hiện, tôi xin đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ 3 -4 tuổi tại trường Mầm Non Thị Trấn Cần Đước như sau:
• Dùng tình cảm để giáo dục trẻ: Trẻ nhỏ có nhu cầu yêu thương và cũng dễ
yêu thương lại mọi người. Vì vậy, những tác động giáo dục kỹ năng sống đến với
trẻ trước hết là bằng con đường tình cảm. là một giáo viên mầm non tôi đã hết lòng
chăm sóc, dạy dỗ, bảo ban trẻ, đồng thời tạo ra những tình huống để trẻ có cơ hội
đáp lại tình cảm bằng những hành vi, cử chỉ, thái độ tốt đẹp của chúng ( VD: cô bị
ghế làm trúng chân đau quá – trẻ xúm lại hỏi han, tìm dầu đưa cho cô với một thái
độ lo lắng,….). Đây là một biện pháp rất hữu hiệu khi dạy cho trẻ kỹ năng giao
tiếp và tình cảm.
• Dùng trò chơi để giáo dục trẻ: Chơi là cuộc sống của trẻ, không chơi trẻ
không phát triển được. trẻ sẽ được học cách giao tiếp với người khác qua hoạt
động chơi. Các tình huống chơi như đóng vai hoặc chơi theo nhóm sẽ giúp trẻ phát
triển các kỹ năng cần thiết để giao tiếp một cách có hiệu quả với người lớn và trẻ
tiện, tận dụng những kinh nghiệm có sẵn để giải quyết những nhiệm vụ đã đặt ra.
Để giúp trẻ giải quyết nhiệm vụ, cô giáo có thể đưa thêm các dấu hiệu bổ sung,
những câu hỏi ngắn gọn,…để giúp trẻ nhanh chóng tìm ra cách giải quyết các
nhiệm vụ được giao. Cô giáo không đưa ra cách giải quyết cụ thể, không làm hộ trẻ
mà động viên, khuyến khích tạo điểu kiện cho trẻ giải quyết tình huống. cô giáo
quan sát trẻ hoạt động, nếu thấy trẻ có khó không thể tự giải quyết thì cô có thể gợi
ý. Và chính những lời gợi ý hoặc các câu hỏi định hướng của cô buộc trẻ phải suy
nghĩ, phải so sánh lựa chọn phương án thích hợp để giải quyết nhiệm vụ ( VD: cô
có những quả bóng, cô muốn trang trí lớp để tổ chức sinh nhật cho một bạn trong
lớp, cô hỏi trẻ “ trang trí như thế nào cho đẹp?”. Trẻ đưa ra ý kiến: treo, kết chùm
gắn lên cửa, cột vào cửa,…cô cho trẻ tự tìm cách thức và phương tiện để treo
bóng, cột bóng vào cây và cắm vào chậu đất sét, kết chùm bóng lên cửa…).
• Tận dụng tình huống phát sinh, tình huống thực tế: Không chỉ tạo ra các
tình huống giáo dục mà giáo viên cần phải tận dụng những tình huống phát sinh và
những tình huống thực tế trong cuộc sống để dạy kỹ năng sống cho trẻ. Đó chính là
những cơ hội rất tốt và hiệu quả để giáo dục trẻ, nhưng đòi hỏi giáo viên phải nhạy
bén, biết qua sát và nắm bắt cơ hội kịp thời ( VD: hiện tượng cầu vống, hiện tượng
chuồn chuồn bay thấp, xắp xếp đồ dùng các nhân gọn gàng mỗi ngày, tại sau khăn
để ngoài nắng mau khô hơn,…).
• Tổ hức hoạt động thật hoặc giống thật cho trẻ tự trải nghiệm thực tế:
Kỹ năng sống không thể học trên lý thuyết suông mà không có trải nghiệm thực tế.
Chính vì thế, giáo viên cần tổ chức thật nhiều các hoạt hoạt động thật hoặt gần
giống thật cho trẻ tham gia. Càng thực hành nhiều và thường xuyên thì trẻ càng
nhớ lâu và kỹ năng mới có thể hình thành được. ( VD: cô có thể cho trẻ đi thăm
một phòng mạch, đi quầy sách, đi công viên, tham quan huyện đội,…) để trẻ thực
hành kỹ năng giao tiếp, ứng xử ở những nơi công cộng, nơi làm việc quân nghiêm
túc… Một cách đơn giản hơn, cô có thể tổ chức một buổi triển lãm tranh tô màu,
sản phẩm của bé và mời phụ huynh đến xem ( cho trẻ sắp xếp triển lảm, tiếp đón
phụ huynh, giới thiệu sản phẩm của mình). Qua đó trẻ được thực hành kỹ năng hợp
-9-
cần làm mẫu các thao tác cho trẻ xem. Điều này đặt biệt cần thiết với các kỹ năng
như: sử dụng đồ vật, làm các món ăn đơn giản, kỹ năng vệ sinh, kỹ năng lật sách,
…Khi làm mẫu cho trẻ xem giáo viên cần làm chậm và rõ ràng, kết hợp chỉ dẫn
bằng lời.
• Làm gương cho trẻ noi theo: Trong độ tuổi này, trẻ “ bắt chước” người
lớn. Vì thế nếu người lớn chúng ta thể hiện thái độ không tốt đối với trẻ, chúng sẽ
học đối xử không tốt với bạn bè và người xung quanh. Nói cách khác hành vi của
giáo viên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý cũng như sự hình thành tính cách của
trẻ. Do đó, giáo viên cần thể hiện mẫu hành vi ứng xử tốt, lời nói hay để trẻ làm
tấm gương bắt chước noi theo. Bên cạnh đó cô cần sử dụng tấm gương của người
xung quanh, của bạn để khuyến khích trẻ noi theo.
- 10 -
• Khen ngợi, động viên, phê bình, đánh giá trẻ: Chúng ta cần sử dụng
nguyên tắc “ khen là chính, trừng phạt là hãn hữu”. Giáo viên cần khen chê đúng
lúc và đúng mức. hạn chế trừng phạt, nhưng phải để trẻ thấy cái sai của mình. Cách
tốt nhất là cô cho trẻ tự nhận xét.
• Phối hợp chặt chẽ với phụ huynh: Việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
muốn đạt hiệu quả cao thì cần có sự phối hợp chặt chẻ với nhà trường và gia đình,
giữa giáo viên và phụ huynh. Giáo viên sẽ quan sát và tìm hiểu xem trẻ có kỹ năng
gì và cần được cung cấp kỹ năng gì. Giáo viên tạo điều kiện cho trẻ luyện tập các
kỹ năng tại lớp học. đồng thời, những giờ đón trẻ, trả trẻ giáo viên trao đổi với phụ
huynh để biết được khi về nhà trẻ có thực hiện các kỹ năng đó như thế nào. Từ đó
giáo viên cùng phụ huynh phối hợp giáo dục và củng cố cho trẻ.
• Dạy kỹ năng sống cho trẻ trong mọi hoạt động : Có thể ứng dụng dạy kỹ
năng sống cho trẻ trong mọi hoạt động như: hoạt động học, hoạt động chơi ( chơi
góc và chơi ngoại trời, chơi tự do), hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh, trả trẻ, đón trẻ, hoạt
động chiều, hoạt động lao động, tham quan dã ngoại.
98
85,2
Nhóm kỹ năng tự phục vụ
94
81,7
Nhóm kỹ năng tình cảm
94
81,7
Nhóm kỹ năng giao tiếp
85
73,9
Nhóm kỹ năng xã hội
87
75,7
Nhóm kỹ năng ngôn ngữ
- Tìm tòi đồ dùng, nguyên vật liệu phục vụ cho trẻ, hấp dẫn tạo sự thu hút đối
với trẻ.
- Biết kích thích động cơ bên trong của trẻ, gây hứng thú cho trẻ; Khen chê
đúng mức, động viên khích lệ kịp thời.
- 12 -
- Luôn giữ mối quan hệ chặt chẽ với phụ huynh, nhờ phụ huynh hỗ trợ đồ
dùng, nguyên vật liệu.
2. Phạm vi và đối tượng áp dụng:
- Được áp dụng dạy trẻ 3 – 4 tuổi tại trường mầm non Thị Trấn Cần Đước và
có thể góp một phần kiến thức dạy kỹ năng sống cho trẻ 3 – 4 tuổi nói riêng và trẻ
mầm non nói chung cho các giáo viên mầm non tại một số một số trường mầm
non trên địa bàn huyện Cần Đước.
3. Kiến nghị sư phạm:
- Giáo viên mầm non cần thường xuyên trao dồi, học hỏi để tự nâng cao vốn
hiểu biết của mình về kỹ năng sống.
- Trường mầm non nên tổ chức các hoạt động thực tế ngoài xã hội ( tham
quan, dả ngoại, đi phòng truyền thống huyện,…)
- Ban Giám Hiệu cần tồ chức những hoạt động sinh hoạt, trao đổi chuyên môn
giữa các giáo viên trong trường để giúp giáo viên có thêm kinh nghiệm trong việc
tổ chức các hoạt động kỹ năng sống cho trẻ của mình
Kết luận:
Việc xác định các biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3 – 4 tuổi tại trường
mầm non Thị Trấn Cần Đước đã giúp tôi nhận thấy:
- Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là một vấn đề đang rất được quan tâm và việc
phát triển kỹ năng sống cho trẻ sẽ giúp trẻ tự tin hơn, độc lập và linh hoạt
8. Trang bị kỹ năng sống cho trẻ - càng sớm càng tốt.
Làm bánh mì phết bơ
Làm hoành thánh
Trang trí đĩa trái cây
Xếp giấy vệ sinh – cách sử dụng
Bóc trứng
- 15 -
Pha nước uống
Kỹ năng ứng phó trước tình trạng
Làm trái cây dầm
nguy cấp.
Nước ép trái cây
Cắm hoa
Dạy trẻ kỹ năng xếp khăn ăn
Làm bánh.
Làm bánh mì phết bơ
Bánh mì sandwich và bơ đậu phộng không phải là món ăn xa lạ đối với trẻ nhỏ.
trên máy vi tính rồi nhưng cô cũng cần làm mẫu thao tác trên vật thất cho trẻ quan
sát rõ hơn. Cô dạy trẻ gói hoành thánh theo kiểu dễ nhất, đó là hình tam giác. Trẻ
rất chú ý theo dõi cách cô làm và hào hứng bắt tay vào thực hiện.
Chúng tôi quan sát thấy, tất cà trẻ đều biết gói hoành thánh theo trình tự cô đã dạy
và thao tác khá nhanh. Trẻ biết lấy nhân vừa đủ, đặt nhân vào giữa miếng hoành
thánh, xếp hai miếng hoành thánh cho bằng nhau... Trẻ cũng biết giải quyết một số
tình huống, ví dụ như khi thịt dính chặt vào muỗng thì trẻ biết layấ một muỗng
khác để gạt thịt xuống
Sau khi trẻ gói hoành thánh xong, cô đặt tình huống cho trẻ: “ Làm sao để chúng ta
ăn được món hoành thánh này?”. Vì trong lớp học không thể sử dụng bếp gas nên
trẻ đã nghĩ ra cách là nhờ nhà bếp chiên giúp. Cô cho trẻ thảo luận với nhau xem
khi nhờ các cô cấp dưỡng chiên hoành thánh giúp thì phải nói như thế nào cho lịch
sự. Sau đó, tất cả nhất trí để chọn ra một bạn để xuống nhà bếp nhờ cô cấp dưỡng
chiên hoành thánh giúp. Tuy có phần hơi e dè, nhưng trẻ cũng đã hỏi nhờ một cách
lễ phép: “Cô ơi, lớp con học gói hoành thánh, cô chiên giúp lớp con nha!”. Đầu giờ
chiều, sau khi ngủ dậy, cả lớp vui vẻ thưởng thức món hoành thánh chiên. Những
trẻ được học gói hoành thánh rất tự hào và khoe với tất cả các bạn khác về sản
phẩm của mình
Bóc trứng
Để tạo điều kiện cho trẻ thực hành kỹ năng bóc ttrứng, cô giáo chuẩn bị sẵn một số
trứng cút và trứng gà (đã luộc chín), muối và tiêu. Trẻ cũng giúp cô sắp xếp bàn
- 17 -
ghế, lấy đĩa đựng vỏ và trứng. Cô lảm mẫu thao tác bóc trứng cho trẻ xem: cầm
trứng đập nhẹ xuống mặt bàn, nhẹ nhàng bóc lớp vỏ ra, rồi để trứng đã bóc vào
một cái đĩa sạch. Sau đó, cô mới trẻ cùng nhau bóc trứng. Đồng thời, cô giao cho
một trẻ làm muối tiêu để ăn với trứng. Cô không cần lảm mẫu thao tác làm muối
mà chỉ dùng lời hướng dẫn trẻ công thức: 2-3 muỗng muối + 1 muỗng tiêu, sau đó
trộn đều.
nào xếp chưa đẹp thì cô gợi ý để trẻ chỉnh lại cho đẹp hơn. Bên cạnh đó, cô cũng
luôn khuyến khích cho trẻ sử dụng nhiều loại trái cây có màu sắc khác nhau và xếp
xen kẽ sao cho dĩa trái cây thật bắt mắt, thật nổi bật. Sau một khoảng thời giam,
chúng tôi thấy sản phẩm của trẻ rất đẹp, mỗi dĩa có một kiểu dáng riêng tùy theo sự
sáng tạo của mỗi nhóm. Cuối giờ, trẻ cùng nhau ăn trái cây và uống nước rất vui
vẻ. Cô kết hợp tập cho trẻ dùng tăm xiên trái cây chứ không dùng tay để bóc.
Tại góc đóng vai, chúng tôi tiếp tục ôn luyện cho trẻ kỹ năng xếp dĩa trái cây. Cô
thay đổi các loại trái cây mới để tạo hứng thú, mới lạ cho trẻ. Những dĩa trái cây đó
trẻ được thưởng thức trong giờ ăn trưa.
Khi được thực hành thường xuyên, kỹ năng trang trí dĩa trái cây của trẻ đã thành
thạo hơn rất nhiều. Về nhà, trẻ có thể phụ mẹ xếp dĩa trái cây cho cả nhà cùng
thưởng thức hoặc vào những dịp có khách đến nhà chơi
Pha nước uống
Trẻ mẫu giáo rất thích được pha nước uống. Do đó, chúng ta dạy trẻ kỹ năng pha
nhiều loại nước uống khác nhau như: nước cam, nước chanh, trà nestea, viên sủi
C,... Cô cũng dạy cho trẻ biết công dụng của từng loại, khi nào thì dùng những loại
đó và cách pha chế. Các thao tác pha nước khá đơn giản nên chỉ cần cô hướng dẫn
và làm mẫu một lần là trẻ có thể làm theo được. Loại nước nào cần dùng thêm
đường, và đá thì cô nhắc nhở trẻ lấy một lượng vừa đủ. Khi tập pha những loại
nước này trẻ sẽ có cơ hội thực hành một số kỹ năng như: dùng kéo cắt bao bì, dùng
- 19 -
tay vắt chanh, biết mở và đóng nắp hộp, biết đong nước và lấy lượng vừa đủ, biết
nếm cho vừa khẩu vị,...
Qua quan sát chúng tôi thấy, trẻ nắm được kỹ năng pha nước uống khá tốt và
nhanh nhẹn. Bên cạnh đó, vẫn còn một số trẻ lấy nước quá ít, không đủ để bột cam,
bột nestea và đường tan được. Cô đã gợi ý cho trẻ lấy thêm nước và khuấy cho bột
tan hết. Khi trẻ cho quá nhiều đường, cô tận dụng tình huống này để trẻ tự suy nghĩ
đã ngọt rồi, cũng có trẻ nói chưa ngọt và lấy thêm đường. Đây cũng là cơ hội để
tập trẻ nêm nếm thức ăn cho vừa khẩu vị của mình. Sau đó, tất cả đều ngồi ăn bơ
dầm và trò chuyện với nhau vui vẻ. Được thưởng thức chén bơ do chình tay mình
làm, trẻ nào cũng thích thú. Không chỉ thế, vài trẻ còn trao đổi mời bạn nếm thử
phần bơ của mình xem như thế nào. Kết thúc, trẻ tự dọn dẹp bàn ghế và rửa chén
đĩa, muỗng sạch sẽ, cất đồ dùng vào đúng vị trí.
Nước ép trái cây
Trẻ vẫn thường được uống nước trái cây tráng miệng sau khi ăn trưa, khi trẻ chưa
biết cách làm thế nào để có loại nước uống này. Xu hướng gần đây người ta thích
dùng nước ép trái cây vì nó có tác dụng tốt cho sức khỏe. Trên thị trường cũng sản
xuất nhiều laoị máy ép trái cây rất dễ sử dụng. Vì thế, chúng tôi tiến hành dạy trẻ
kỹ năng sử dụng máy ép trái cây để làm nước ép dưa hấu. Giáo viên chuẩn bị máy
ép, gọt vỏ dưa hấu, cắt thành từng miếng mỏng và nhờ trẻ giúp cô lấy bỏ hạt dưa
hấu. Sau đó, cô làm mẫu và hướng dẫn trẻ sử dụng máy ép đúng cách và an toàn.
Chúng tôi quan sát thấy, trẻ rất hứng thú khi tham gia làm nước ép trái cây. Nhìn
thấy máy ép lạ mắt, trẻ nào cũng tò mò muốn tìm hiểu và làm thử. Khi trẻ ấn nút
bật công tắc xong, chiếc máy phát ra một âm thanh hơi to làm một vài trẻ hơi sợ.
Một vài phút sau, trẻ đã quen dần và tranh nhau lên làm thử. Mỗi lần hai trẻ hợp
tác với nhau cùng thực hiện: một trẻ lấy dưa hấu vào máy, một trẻ dùng miếng
nhựa ấn dưa hấu xuống. Khi ép xong, cô chia nước ép ra ly cho từng trẻ. Trẻ tự lấy
- 21 -
đá cho vào ly của mình và thưởng thức trong sự thích thú, vui vẻ. Cuối cùng, trẻ
lau dọn bàn, rửa đồ dùng và cất lên kệ giúp cô.
Sau giờ học, trẻ đã có được những hiểu biết cơ bản về cách làm nước ép trái cây:
trái cây gọt vỏ, cắt miếng nhỏ, lấy bỏ hạt rồi cho vào máy ép; nếu là loại trái cây có
vị chua thì nên cho thêm đường vào nước ép, cuối cùng cho thêm đá vào và thưởng
thức. Về nhà, nếu phụ huynh tạo điều kiện cho trẻ thcựi hành thì chắc chắn trẻ sẽ
với kiểu đã học như là kiểu kim cương, kiểu quạt,... Để tạo điều kiện cho trẻ được
ôn luyện kỹ năng xếp khăn ăn, cô để sẵn một số khăn ăn trong góc phân vai, để trẻ
xếp khăn ăn khi chơi đóng vai nhân viên phục vụ nhà hàng bày bàn tiệc, chuẩn bị
bàn tiệc,...
- 23 -
Trang trí dĩa trái cây
- 24 -
Cuốn chả giò
Vắt nước cam
Cuốn gỏi cuốn
Bánh nhân thịt
- 25 -