MỞ ĐẦU
Thực hiện nghĩa vụ dân sự là một vấn đề quan trọng khi có giao dịch dân sự.
Vấn đề này BLDS 2005 đã quy định nhiều cách thực hiện nghĩa vụ dân sự như
theo định kỳ, có điều kiện, có đối tượng thay thế được, liên đới, phân chia được
theo phần, không phân chia được theo phần. Trong đó, thực hiện nghĩa vụ dân sự
có đối tượng tùy ý lựa chọn đặt ra nhiều vấn đề vướng mắc về đối tượng, cơ sở
phát sinh, quyền lựa chọn. Chính vì thế em xin chọn đề bài số 3: “Xây dựng một
tình huống cụ thể về thực hiện nghĩa vụ dân sự có đối tượng tùy ý lựa chọn.
Yêu cầu: Trình bày cơ sở phát sinh nghĩa vụ dân sự có đối tượng tùy ý lựa chọn
trong tình huống, Phân tích rõ từng loại đối tượng trong tình huống, Chỉ rõ
trường hợp người có nghĩa vụ được quyền lựa chọn và trường hợp người có
quyền lựa chọn”.
NỘI DUNG
I.
Cơ sở lý luận thực hiện nghĩa vụ dân sự và thực hiện nghĩa vụ dân sự
có đối tượng tùy ý lựa chọn.
1. Thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Sau khi quan hệ nghĩa vụ được xác lập theo các căn cứ do pháp luật quy định, để
đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền, người có nghĩa vụ phải
triển khai hành vi của mình để thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận với người có
quyền hoặc theo quy định của pháp luật.
Thực hiện nghĩa vụ dân sự là việc triển khai hành vi của người có nghĩa vụ trong
việc chuyển giao một tài sản, thực hiện một công việc hoặc không được thực hiện
một công việc vì lợi ích của người có quyền.
Thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ, quyền và lợi ích
chọn, trừ trường hợp có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định dành quyền lựa
chọn cho bên có quyền.
Bên có nghĩa vụ phải thông báo cho bên có quyền biết về việc tài sản hoặc công
việc được lựa chọn để thực hiện nghĩa vụ. Trường hợp bên có quyền đã xác định
thời hạn thực hiện nghĩa vụ được lựa chọn thì bên có nghĩa vụ phải hoàn thành
đúng thời hạn.
Trong trường hợp chỉ còn một tài sản hoặc một công việc thì bên có nghĩa vụ phải
giao tài sản đó hoặc thực hiện công việc đó."
Nghĩa vụ có đối tượng tùy ý lựa chọn là nghĩa vụ cho phép được lựa chọn một
trong số tài sản hoặc một trong số các công việc để thực hiện nghĩa vụ. Với tính
chất lựa chọn để thực hiện nghĩa vụ, nên nếu các bên không có thỏa thuận hoặc
pháp luật không quy định thì thông thường, quyền lựa chọn nghĩa vụ thuộc về
người có nghĩa vụ. Tuy nhiên, bên có quyền có thể xác định thời hạn để thực hiện
nghĩa vụ đó. Để tạo điều kiện thuận lợi cho bên có nghĩa vụ hoàn thành tốt nghĩa
vụ, các bên có thể thỏa thuận về nhiều đối tượng cho phép bên có nghĩa vụ hoặc
bên có quyền lựa chọn đối tượng của nghĩa vụ.
Khi thực hiện quyền lựa chọn, bên có nghĩa vụ phải thông báo sự lựa chọn nghĩa
vụ của mình cho bên có quyền biết. Như vậy, đối tượng của nghĩa vụ đã xác định,
người lựa chọn phải thực hiện đúng nghĩa vụ mà mình đã lựa chọn và phải thực
hiện đúng thời hạn mà bên có quyền đã xác định đối với nghĩa vụ đó.
Việc lựa chọn đối tượng của nghĩa vụ chỉ xảy ra trong trường hợp có nhiều tài
sản hoặc nhiều công việc để lựa chọn. Trong trường hợp chỉ còn một tài sản hoặc
một công việc thì người có nghĩa vụ phải giao tài sản hoặc thực hiện công việc đó
mà không có quyền lựa chọn nữa.
Chế định thực hiện nghĩa vụ dân sự có đối tượng tùy ý lựa chọn có ý nghĩa quan
trọng trong việc tăng cường giao lưu dân sự, tạo điều kiện cho các bên thực hiện
nghĩa vụ. Bởi vì, về thực chất đối tượng thực hiện nghĩa vụ dân sự có sự thay đổi,
nhưng quan hệ nghĩa vụ vẫn ổn định. Việc thay đổi đối tượng nghĩa vụ không phải
Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng chuyển quyền sở hữu đối với tài sản từ bên cho
vay sang bên vay, khi bên vay nhận tài sản. Vì vậy bên vay có toàn quyền đối với
tài sản vay, trừ trường hợp vay có điều kiện sử dụng. Anh B có tiền để cho Anh A
vây khi gặp khó khăn trong vấn đề tiền vốn khi mở doanh nghiệp tư nhân cho nên
Anh A là người nhận số tiền 500 triệu có toàn quyền với số tiền này trong công
việc làm ăn của mình mà không có điều kiện nào về việc sử dụng số tiền này trong
việc kinh doanh.
Đối tượng của hợp đồng vay tài sản thông thường là một khoản tiền nhưng thực
tế cũng có thế là vàng, kim khí, đá quý hoặc một số lượng tài sản khác. Đối tượng
của hợp đồng vay giữa A và B chính là tiền. Đồng thời do thỏa thuận về Anh A
không phải trả tiền lãi nên đây là hợp đồng không có đền bù. Trong hợp đồng cũng
ghi rõ thời hạn để A trả tiền gốc là 3 năm.
• Quyền và nghĩa vụ của Anh B khi là bên cho vay
Theo Điều 473 BLDS 2005 . Nghĩa vụ của bên cho vay
Bên cho vay có các nghĩa vụ sau đây:
1. Giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng chất lượng, số lượng vào thời điểm và
địa điểm đã thoả thuận;
2. Bồi thường thiệt hại cho bên vay, nếu bên cho vay biết tài sản không bảo đảm
chất lượng mà không báo cho bên vay biết, trừ trường hợp bên vay biết mà vẫn
nhận tài sản đó;
3. Không được yêu cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn, trừ trường hợp quy
định tại Điều 478 của Bộ luật này
Với hợp đồng vay tiền giữa A và B là 500 triệu, thì Anh B phải có nghĩa vụ đưa
đúng và đủ số tiền là 500 triệu đồng cho Anh A tại địa điểm nhà Anh B. Và Anh B
không được yêu cầu Anh A trả lại tiền trước thời hạn là 3 năm, trừ trường hợp quy
định tại điều 478.
Sau 3 năm thì Anh B được nhận toàn bộ số tiền 500 triệu và được một phần lợi
ích từ phía Anh A. Hoặc nếu như Anh B không nhận được tiền thì có thể nhà
lãnh…
Xét về giá trị tương đương đối với số tiền 500 triệu thì khi B nhận tài sản là nhà
xưởng thì phải có giá trị tương đương với số tiền 500 triệu mà A đã vay đó. Nếu
thiếu thì có thể dùng khoản tiền khác hay một tài sản khác thế vào. Nếu thừa thì có
thể trả lại cho A khi đã trừ đi 500 triệu. Có thể hai bên thỏa thuận là giá trị của nhà
xưởng có thể cao hơn hay thấp hơn thì Anh B vẫn nhận.
Đối tượng là ô tô thì đây là động sản có đăng ký quyền sở hữu cho nên đây là tài
sản hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của Anh A. Chiếc xe này phải đúng là chiếc xe
Toyota màu trắng và đang sử dụng được. Đồng thời chiếc ô tô này không là một
tài sản trong biện pháp bảo đảm.
Xét về giá trị của chiếc xe thì phải tương đương với số tiền đã vay là 500 triệu.
Nếu thiếu thì có thể dùng khoản tiền khác hay một tài sản khác thế vào. Nếu thừa
thì có thể trả lại cho A khi đã trừ đi 500 triệu. Có thể hai bên thỏa thuận là giá trị
của nhà xưởng có thể cao hơn hay thấp hơn thì Anh B vẫn nhận.
4. Trường hợp người có nghĩa vụ được quyền lựa chọn và trường hợp
người có quyền lựa chọn.
• Trường hợp người có nghĩa vụ được quyền lựa chọn.
Đây là trường hợp dành cho Anh A, khi đã đến hạn trả nợ mà Anh A không có
tiền mặt để trả nợ cho Anh B thì Anh A có quyền được lựa chọn nhà xưởng hay
chiếc xe ô tô của mình. Việc được quyền lựa chọn đối tượng để trả cho Anh B là
xét đến vai trò của đối tượng nào có giá trị quan trọng hơn. Nhà xưởng là nơi sản
xuất kinh doanh cho nên nó có thể có giá trị quan trọng hơn như tiếp tục sản xuất
hay cho thuê. Còn ô tô có thể có vai trò quan trọng nhưng nó có thể thay thế được.
Quyền lựa chọn, bên có nghĩa vụ phải thông báo sự lựa chọn nghĩa vụ của mình
cho bên có quyền biết. Như vậy, đối tượng của nghĩa vụ đã xác định, người lựa
chọn phải thực hiện đúng nghĩa vụ mà mình đã lựa chọn và phải thực hiện đúng
hay tiền đã thực hiện thì có thể chọn một đối tượng khác có giá trị tương đương để
hoàn trả; hoàn thành tốt nghĩa vụ của mình.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật Dân sự 2005.
2. PGS.TS Hoàng Thế Liên (Chủ biên), Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp,
Bình luận Bộ luật Dân sự 2005.
3. TS Nguyễn Minh Tuấn, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự của nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Tư Pháp.
4. https://luatduonggia.vn/thuc-hien-nghia-vu-dan-su-co-doi-tuong-tuy-y-luachon.
5. http://luatsurieng.vn/bo-luat-dan-su--khai-quat/thuc-hien-nghia-vu-dan-suco-doi-tuong-tuy-y-lua-chon.html.