TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
---------***--------
KHÓA
NGHIỆP
LUẬN TỐT
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI TRỰC
TUYẾN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
TẠI VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY
MẠNH
Họ và tên sinh viên
Mã sinh viên
Lớp
Khóa
Giáo viên hướng dẫn
: Nguyễn Văn Vinh
: 1111110481
: Anh 6 - Khối 2 KT
: 50
: Nguyễn Huyền Minh
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
2
Click Through Rate
Tỷ lệ nhấp qua
EC
European Commission
Ủy ban châu Âu
ERP
Enterprise Resource Planning
ESP
Email service provider
GDP
Gross Domestic Product
Hoạch định nguồn lực
doanh nghiệp
Nhà cung cấp dịch vụ
email
Tổng sản phẩm quốc nội
HTML
HyperText Markup Language
SEM
Search Engine Marketing
SEO
Search Engine Optimization
B2B
B2C
CPA
CPM
CRM
Tổ chức xúc tiến bán hàng
Ấn Độ
Cooperation Cơ quan Hợp tác Quốc Tế
Nhật Bản
Chi phí trên lượt nhấp
Quản lý dây chuyền cung
ứng
Marketing trên công cụ
tìm kiếm
Tối ưu công cụ tìm kiếm
4
SME
trên nền tảng mạng viễn thông kết hợp với các thiết bị điện tử hình thành hoạt động
thương mại điện tử. Khởi nguồn từ các nước phát triển, hình thức thương mại điện
tử nhanh chóng khẳng định vị thế so với thương mại truyền thống và lan sang các
nước đang phát triển thông qua quá trình phổ cập Internet và công nghệ thông tin.
Việt Nam là một trong những nước đang trong quá trình chuyển giao từ giai
đoạn 2 lên giai đoạn 3 của thương mại điện tử, giai đoạn đòi hỏi có sự cộng tác toàn
diện giữa doanh nghiệp với chính phủ, doanh nghiệp với doanh nghiệp và doanh
nghiệp với khách hàng. Thực tế, Việt Nam đang bắt kịp khá nhanh với xu thế phát
triển của công nghệ thông tin, theo Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin
(2014) tính đến tháng 11/2014, số người dùng Internet ở Việt Nam là trên 34 triệu
người, chiếm 36% dân số, 80% trong số đó truy cập hàng ngày với thời gian trung
bình từ 1-1,5 giờ, 36% trong số 900 người tham gia khảo sát sử dụng Internet 3-5
giờ ; cùng với đó là hơn 134 triệu thuê bao di động đang hoạt động. Đây là những
thuận lợi không nhỏ để các doanh nghiệp triển khai thương mại điện tử. Tuy nhiên,
một bộ phận các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam còn gặp khó khăn, lúng
túng trong việc triển khai hoặc triển khai còn nhỏ lẻ, chưa đồng bộ thương mại điện
tử đặc biệt là hoạt động xúc tiến thương mại trực tuyến. Theo kết quả điều tra khảo
sát năm 2014 của Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin, giá trị mua hàng
trực tuyến của một người trong năm ước tính đạt khoảng 145 USD và doanh số thu
từ thương mại điện tử B2C chỉ đạt khoảng 2,97 tỷ USD, chiếm 2,12 % tổng mức
bán lẻ hàng hóa cả nước. Trong khi đó, xúc tiến thương mại trực tuyến là một nhân
tố quan trọng trong mô hình thương mại điện tử, khi hoạt động trao đổi, buôn bán
hàng hóa, dịch vụ trực tuyến phát triển sẽ tạo tiền đề để triển khai giao dịch điện tử,
7
thanh toán điện tử, và tích hợp công nghệ thông tin ở các cấp độ cao hơn. Trên cơ
sở đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Hoạt động xúc tiến thương mại trực tuyến của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh” với
8
Khóa luận tốt nghiệp: “Xúc tiến thương mại trong thương mại điện tử và một
số giải pháp với các doanh nghiệp Việt Nam” của Trần Thị Thủy, năm 2003.
Khóa luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu mô hình xúc tiến và hỗ trợ thương mại
điện tử cho doanh nghiệp. Kinh nghiệm trên thế giới và bài học đối với Việt Nam”
của Phạm Thanh Hường, năm 2008.
3.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nhằm đề xuất các giải pháp đẩy mạnh hoạt
động xúc tiến thương mại trực tuyến của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam.
Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể trong khuôn khổ đề tài khóa luận bao gồm:
Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động xúc tiến thương mại trực
tuyến và các công cụ thường được sử dụng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
Việt Nam;
Thứ hai, phân tích thực trạng triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại
của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam;
Thứ ba, trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị ở cả cấp độ vĩ
mô và vi mô nhằm đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại trực tuyến của doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam trong thời gian tới.
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hoạt động xúc tiến thương mại trực
tuyến.
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt
Trong quá trình nghiên cứu đề tài khóa luận, tác giả đã nhận được sự góp ý
và giúp đỡ rất tận tình từ thầy giáo Nguyễn Huyền Minh. Tác giả xin bày tỏ lòng
cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn và các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế và
Kinh doanh quốc tế đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tác giả có thể hoàn thành đề
tài này.
10
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN
THƯƠNG MẠI TRỰC TUYẾN
1.1.
Khái quát chung về xúc tiến thương mại
1.1.1. Khái niệm, bản chất của xúc tiến thương mại
1.1.1.1.
Khái niệm
Xúc tiến thương mại là thuật ngữ xuất hiện từ những năm đầu của thế kỷ 20,
hình thành và phát triển cùng với sự ra đời của khái niệm “marketing”. Xúc tiến
thương mại đóng vai trò quan trọng trong các mô hình 4Ps bao gồm Product, Price,
Place, Promotion (đối với sản phẩm là hàng hóa) hay 7Ps bao gồm Product, Price,
Place, Promotion, People, Process, Physical Evidence (Physical Environment) (đối
với sản phẩm là dịch vụ) của các doanh nghiệp, các yếu tố này luôn được đặt trong
mối quan hệ tương hỗ và không thể tách rời.
Ngay từ khi mới hình thành đến nay, các học giả nổi tiếng đã đưa ra nhiều
quan điểm riêng về hoạt động xúc tiến thương mại, hình thành nhiều định nghĩa
khác nhau về hoạt động này.
Theo Philip Kotler (2011): Xúc tiến thương mại là hoạt động thông tin
marketing tới khách hàng tiềm năng. Trong kinh doanh, thông tin marketing là việc
trao truyền, đưa đến, chuyển giao những thông điệp cần thiết về doanh nghiệp, về
được khả năng cung ứng của doanh nghiệp, biết được sản phẩm nào đang tồn tại
trên thị trường với những đặc tính gì, sản phẩm đó được phân phối như thế nào, ở
đâu…đồng thời qua đó, doanh nghiệp cũng lắng nghe được những phản hồi của
người tiêu dùng thông qua các chỉ số đo lường.
Không chỉ là cầu nối giữa các quyết định của doanh nghiệp về sản phẩm, giá,
phân phối…với thị trường mà xúc tiến thương mại còn là việc tìm kiếm cơ hội cơ
hội kinh doanh một cách chủ động, định hướng hoạt động bán hàng theo kịp xu thế
thị trường. Triển khai một hoạt động xúc tiến không đồng nghĩa với việc phải bán
được sản phẩm, đôi khi nó mang tính chất “nghe ngóng” và định hướng hành vi
người tiêu dùng, đưa người tiêu dùng làm quen với một thói quen thanh toán mới,
một kênh phân phối mới mà doanh nghiệp có thế mạnh.
1.1.2.
Vai trò của xúc tiến thương mại
Vai trò của xúc tiến thương mại gắn liền với bản chất của hoạt động này, do
đó nó có một số vai trò cơ bản sau:
Xúc tiến thương mại là cầu nối giữa doanh nghiệp với khách hàng, hoặc giữa
các doanh nghiệp với nhau trong cùng một dây chuyền sản xuất, một hệ thống phân
phối sản phẩm. Xúc tiến thương mại thể hiện năng lực, uy tín, hình ảnh công ty, cho
12
người tiêu dùng thấy doanh nghiệp có gì, có thể làm gì và sẵn sàng làm gì. Với các
bạn hàng, đối tác, xúc tiến thương mại góp phần thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác
hai bên cùng có lợi, đẩy mạnh sự lưu thông, phân phối hàng hóa.
Xúc tiến thương mại tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tồn tại và phát triển
trên thị trường một cách bình đẳng, hiệu quả với nguồn lực của mình. Trước tiên,
mọi doanh nghiệp đều có thể triển khai hoạt động xúc tiến thương mại, không phụ
xúc tiến mang tính chất phi cá nhân và có thu phí đối với các ý tưởng, hàng hóa hay
dịch vụ của một tổ chức nào đó.
Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (AMA) (1995): Quảng cáo là bất cứ loại
hình nào của sự hiện diện không trực tiếp của hàng hóa, dịch vụ hay tư tưởng hành
động mà người ta phải trả tiền để nhận biết người quảng cáo.
Ở Việt Nam, Theo Luật Quảng cáo (2012): “Quảng cáo là việc sử dụng các
phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục
đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh
doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã
hội; thông tin cá nhân.”
Như vậy, quảng cáo là một cách thức truyền tin nhằm gửi các thông điệp của
doanh nghiệp tới đối tượng mục tiêu nhằm định hướng và kích thích tiêu thị hàng
hóa dịch vụ.
-
Phân loại quảng cáo
Có nhiều cách phân loại quảng cáo và phổ biến nhất là dựa vào thông điệp
quảng cáo và phương tiện quảng cáo.
Theo Phillip Kotler (2011), quảng cáo được phân loại theo thông điệp quảng
cáo:
-
Quảng cáo thông tin
Quảng cáo thuyết phục
Quảng cáo nhắc nhở
Quảng cáo nhấn mạnh
Theo Luật Quảng cáo Việt Nam (2012), quảng cáo được phân loại theo các
phương tiện:
Quan hệ công chúng (Public Relation – PR)
- Khái niệm
Theo Philip Kotler (2011), Công chúng là bất cứ nhóm người hay tổ chức
nào có mối quan tâm và/hoặc có thể gây ảnh hưởng vào thời điểm hiện tại hoặc
trong tương lai đối với hoạt động của doanh nghiệp cũng như khả năng đạt được các
mục tiêu của doanh nghiệp. Quan hệ công chúng bao gồm tất cả các hoạt động
nhằm thúc đẩy hoặc bảo vệ hình ảnh công ty và/hoặc sản phẩm cá nhân của nó.
Theo Hội Quan hệ công chúng Hoa Kỳ (2012): Quan hệ công chúng là một
quá trình truyền thông chiến lược xây dựng các mỗi quan hệ cùng có lợi giữa các tổ
chức và đối tượng công chúng của họ.
Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (1995): Quan hệ công chúng là hình thức
quản trị truyền thông, trong đó sử dụng tuyên truyền và các hình thức xúc tiến và
thông tin không phải trả phí khác nhằm tác động đến cảm nhận, chính kiến và niềm
tin của người mua, khách hàng tiềm năng, cổ đông và các đối tượng khác về doanh
nghiệp, sản phẩm hay dịch vụ, giá trị của chúng cũng như về chính các hoạt động
của bản thân doanh nghiệp.
-
Vai trò của quan hệ công chúng
15
Quan hệ công chúng sẽ thúc đẩy hay cản trở doanh nghiệp trong quá trình
kinh doanh, một doanh nghiệp xây dựng được những mỗi quan hệ hiệu quả với
công chúng sẽ có những bước tiến vững chắc. Vai trò của quan hệ công chúng bao
gồm:
•
•
giá, tặng phiếu ưu đãi, tặng mẫu hàng dùng thử, quay số trúng thưởng, tặng quà
cuộc thi, phát tem thưởng, trả lại một phần tiền nếu có bằng chứng về việc đã mua
hàng (vỏ bao bì, nắp hộp).
Hoạt động khuyến mại thường tỏ ra rất hiệu quả vì nó đánh đúng tâm lý
khách hàng, tạo ra lợi ích cho họ ngay lập tức (giảm chi phí) nên thường được áp
dụng nhiều trong các chiến dịch xúc tiến
1.1.3.4.
Hội chợ - Triển lãm
- Khái niệm
16
Tại Việt Nam, theo điều 129, Luật Thương mại Việt Nam (2005) “Hội chợ,
triển lãm thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại được thực hiện tập trung
trong một thời gian và tại một địa điểm nhất định để thương nhân trựng bày, giới
thiệu hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ.”
-
Phân biệt hội chợ và triển lãm
Hội chợ mang tính chất định kì, được tổ chức tại một địa điểm nhất định
trong đó các bên tham gia tiến hành trưng bày hàng hóa nhằm mục đích ký kết hợp
đồng mua bán hàng hóa.
Triển lãm có hình thái gần giống hội chợ nhưng không mang mục đích bán
hàng, mà chỉ là nơi để các cá nhân, tổ chức giới thiệu, quảng bá cho sản phẩm,
thương hiệu của mình hoặc tạo lập các mối quan hệ đối tác.
-
1.2.
Khái quát về xúc tiến thương mại trực tuyến
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của xúc tiến thương mại trực tuyến
1.2.1.1.
Khái niệm
Xúc tiến thương mại trực tuyến là việc thực hiện các hoạt động xúc tiến
thương mại sử dụng các phương tiện điện tử, thông qua mạng viễn thông.
Định nghĩa về xúc tiến thương mại đã được đưa ra ở phần trước, có hai khái
niệm mới từ quan điểm trên cần làm rõ đó là phương tiện điện tử và mạng viễn
thông. Phương tiện điện tử bao gồm: điện thoại, fax, truyền hình, điện thoại không
dây, máy tính và hệ thống mạng Internet. Mạng viễn thông là tập hợp các thiết bị
thu, phát, truyền dẫn thông tin giao tiếp qua một khoảng cách đáng kể về địa lý
1.2.1.2.
Đặc điểm của xúc tiến thương mại trực tuyến
Sự phát triển của xúc tiến thương mại trực tuyến gắn liền và tác động qua lại
với sự phát triển của công nghệ thông tin. Hoạt động của thương mại điện tử nói
chung và xúc tiến thương mại trực tuyến nói riêng lấy các thiết bị điện tử làm
phương tiện, lấy mạng viễn thông làm nền tảng hoạt động. Vì vậy, xúc tiến thương
mại trực tuyến phụ thuộc nhiều vào tốc độ phát triển của công nghệ thông tin, sự
phát triển này sẽ làm động lực cho thương mại điện tử phát triển cũng như thúc đẩy
các hoạt động xúc tiến thay đổi theo hướng sử dụng nhiều hàm lượng công nghệ
hơn là hoạt động truyền thống. Ngược lại, khi xúc tiến thương mại trực tuyến sử
dụng nhiều các thiết bị điện tử, mạng viễn thông, điều đó đòi hỏi thế giới công nghệ
thông tin phải không ngừng phát triển và cập nhật ở nhiều lĩnh vực để đáp ứng nhu
cầu của các hoạt động thương mại điện tử trong đó có hoạt động xúc tiến.
Về hình thức, trong khi hoạt động xúc tiến thương mại truyền thống sử dụng
con người với vai trò trực tiếp truyền tải thông điệp, sử dụng các thiết bị giấy, báo
làm phương tiện truyền tin, thì xúc tiến thương mại trực tuyến sử dụng chủ yếu là
thực hiện nhiều hình thức, hoạt động xúc tiến khác nhau. Ngược lại, một hoạt động
có thể được triển khai bằng việc kết hợp nhiều công cụ trực tuyến. Một số công cụ
phổ biến thường được sử dụng trong hoạt động xúc tiến thương mại trực tuyến bao
gồm: Truyền hình và đài phát thanh, Website, Thư điện tử (Email), Dải băng quảng
cáo (Banner), Các công cụ tìm kiếm (Search engine), Mạng xã hội (Social network),
Tin nhắn thương hiệu (SMS brandname)
19
1.2.2.1.
Truyền hình và đài phát thanh
Truyền hình và đài phát thanh là hai hình thức truyền tải thông tin trực tuyến
đầu tiên nhờ các thiết bị thu phát sóng vô tuyến phát đi những thông điệp tới một
nhóm đối tượng ở xa trong một thời gian ngắn. Đến nay, truyền hình được biết đến
như là một kênh quảng cáo mạnh mẽ nhất và có thể tiếp cận một số lượng lớn các
khách hàng tiềm năng, trong khi đài phát thanh có một nhược điểm là chỉ có thể
truyền thông tin dưới dạng âm thanh mà thiếu đi những hiệu ứng hình ảnh vốn
mang lại hiệu quả cao.
-
Các hoạt động xúc tiến trực tuyến trên truyền hình và radio
Hoạt động xúc tiến thường được sử dụng nhất trên truyền hình và radio chính
là đưa ra các thông tin quảng cáo, khuyến mại và PR. Đối với hoạt động xây dựng
thương hiệu, việc xuất hiện trên truyền hình, đài phát thanh tạo cho doanh nghiệp
một uy tín, một sự tin tưởng lớn từ phía khán giả. Tuy nhiên, chi phí để triển khai
hoạt động xúc tiến trên truyền hình hay radio là không hề nhỏ, đặc biệt là truyền
hình. Hơn nữa, thời gian xuất hiện của các thông điệp này thường bị hạn chế bởi
kênh phân phối nhỏ hơn khi họ là người tiếp cận khách hàng trực tiếp, thấy được
thay đổi trong hành vi mua hàng của khách hàng.
Về chỉ số phản hồi, doanh nghiệp có thể thu thập được từ số lượng đơn đặt
hàng được theo dõi từ chiến dịch quảng cáo đó. Tuy nhiên không thể chỉ dựa vào đó
mà đánh giá được hiệu quả của quảng cáo bởi để đi đến quyết định đặt hàng, người
tiêu dùng còn phải chịu những tác động từ các yếu tố chất lượng, giá cả, bảo hành,
chăm sóc khách hàng…Vì vậy chỉ số phản hồi ở đây phải được hiểu là phản hồi nhờ
tác động của quảng cáo.
1.2.2.2. Website
- Khái niệm
Hiều đơn giản, website là tập hợp những tập tin được viết dưới dạng ngôn
ngữ đánh dấu siêu văn bản bằng thẻ HTML (HyperText Markup Language) hoặc
siêu văn bản mở rộng (Extensible HyperText Markup Language). Những tập tin này
được chứa trong một tên miền trên mạng lưới toàn cầu (World Wide Web) và được
các máy tính truy nhập bằng giao thức truyền tải siêu văn bản HTTP (HyperText
Transfer Protocol) thông qua Internet. Như vậy, website là nơi chứa những thông tin
mà chủ sở hữu muốn truyền đạt hoặc lưu trữ. Có hai dạng website tương ứng với
nội dung chứa trong nó:
Website tĩnh: Được thiết kế thuần dưới dạng html, kết thúc bằng đuôi html
hoặc htm, sau khi nội dung được tải từ máy chủ xuống sẽ được hiển thị cho người
21
dùng và không thể nhận phản hồi từ phía họ. Hình thức này xuất hiện ở những ngày
đầu trong lịch sử của website, chủ yếu đóng vai trò truyền tải thông tin, hạn chế sự
tương tác với người dùng
Website động: Thiết kế bằng kỹ thuật ASP (Active Server Pages), được hỗ
trợ bởi một phần mềm cơ sở web, ngoài việc truyền tải thông tin còn có khả năng
dùng và gợi mở những nhu cầu mới đều được thực hiện thông qua website.
Giai đoạn thứ ba của thương mại điện tử: thương mại cộng tác (c-commerce)
là giai đoạn cao nhất của thương mại điện tử hiện nay, nó đòi hỏi sự cộng tác, phân
phối cao giữa nội bộ doanh nghiệp, giữa các doanh nghiệp với nhà cung cấp, khách
hàng, ngân hàng. Website lúc này cũng đạt đến trình độ cao nhất khi tích hợp được
những ứng dụng quản lý khách hàng (CRM), quản trị chuỗi cung ứng (SCM), quản
trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP). Như vậy, khi phát triển đến giai đoạn này,
website thực hiện khá đầy đủ chức năng xúc tiến thương mại khi vừa cung cấp,
truyền tải thông tin đến thị trường, vừa lắng nghe, đáp ứng phản hồi từ phía thị
trường và có những liên kết nhất định với bạn hàng, hay đối tác, dễ dàng đưa ra
những hoạt động xúc tiến dành cho các đại lý nằm trong chuỗi cung ứng.
Ngoài ra, một cá nhân hoàn toàn có thể xây dựng các website của riêng mình
để chia sẻ thông tin, giới thiệu về một sản phẩm hay dịch vụ nào đó, từ đó thuyết
phục khách hàng mua hay sử dụng sản phẩm của công ty. Như vậy hoạt động bán
hàng cá nhân có thể được đưa lên website như là một hình thức xúc tiến thương mại
trực tuyến.
Một hình thức website nữa cũng đã ra đời, đó là các cổng thông tin thương
mại điện tử. Tại đây các doanh nghiệp có thể đăng ký thành viên và tham gia trực
tiếp cổng thông tin này bằng cách đưa nội dung muốn truyền tải nên. Khi người
dùng tìm kiếm trên cơ sở dữ liệu này, khả năng tìm thấy doanh nghiệp là cao hơn so
với đăng ký trên các công cụ tìm kiếm phổ thông. Các website này thường được gọi
là các “chợ rao vặt” nơi tập hợp nhiều người bán và nhiều người mua nhiều loại mặt
hàng khác nhau.
Trên thế giới, hầu hết các nước đang phát triển ở gian đoạn 2 và 3 của
thương mại điện tử. Như vậy, website có thể thực hiện được hầu hết các hình thức
xúc tiến thương mại phổ biến.
-
Đo lường hiệu quả sử dụng website
Tỷ lệ thoát: Là tỷ lệ truy cập một trang, là tỷ số giữa số lượt truy cập một
trang chia cho tổng số lượt truy cập. Tỷ lệ thoát càng cao cho thấy người dùng có xu
24
hướng chỉ vào 1 trang trên website, không hoặc rất ít tương tác sau đó thoát ra, do
website của doanh nghiệp không hề hấp dẫn, hoặc chỉ đáp ứng được một nhu cầu
của họ chứ không có sự gợi mở sang những nhu cầu khác, điều này thực sự không
được đánh giá cao. Một website tốt chỉ nên có tỷ lệ thoát từ 15%-30%.
Tích hợp tương tác trực tiếp: Website hiện nay đòi hỏi có sự tương tác trực
tiếp giữa khách truy cập và người quản trị để kịp thời giải đáp những thắc mắc, đáp
ứng những yêu cầu của người dùng. Việc liên hệ qua số điện thoại, email là vẫn cần
thiết nhưng nếu có một cửa số trò chuyện trực tiếp giữa khách truy cập và chủ
website sẽ giải quyết được mối quan tâm nhất thời của khách hàng và tránh sự thay
đổi hành vi trong tương lai.
1.2.2.3. Thư điện tử (Email)
- Khái niệm
Thư điện tử, hay email là một hệ thống nhận gửi thư từ qua mạng Internet.
Một mẫu thông tin (thư từ) chứa các dạng thông tin khác nhau như hình ảnh, âm
thanh, phim ngắn, thậm chí một nội dung được soạn thảo bằng ngôn ngữ HTML.
Mẫu thông tin này có thể được gửi đi dưới dạng mã hóa hay thông thường bằng các
thiết bị gửi và nhận thư (chủ yếu là máy tính) thông qua hệ thống mạng internet.
Việc ứng dụng thư điện tử vào kinh doanh nảy sinh ra khái niệm Email
marketing. Email marketing là hình thức marketing trực tiếp bằng cách gửi email
đến một nhóm người nhận nhằm truyền tải nội dung thông điệp. Đặc biệt, email
được sử dụng nhiều trong hoạt động xúc tiến của một chiến dịch marketing và trở
thành một công cụ trực tuyến hiệu quả để triển khai hoạt động này.
-
cho phép của người nhận và email không được sự cho phép của người nhận.
Email được sự cho phép của người nhận (Opt-in Email) là hình thức gửi
email đến người nhận dưới sự cho phép của họ, những thông tin về địa chỉ email
này thường được thu thập từ trước thông qua mẫu đăng ký nhận tin, thông qua các
sự kiện nhằm khuyến khích khách hàng cung cấp thông tin một cách tự nguyện. Do
đó, nội dung gửi đi nằm trong mối quan tâm cao của người nhận, đáp ứng nhu cầu
tìm hiểu thông tin của người nhận và do đó hoàn thành nhiệm vụ truyền bá thông tin
của doanh nghiệp. Opt-in Email giúp duy trì mối quan hệ khách hàng và gây dựng
uy tín của doanh nghiệp
Email không được sự cho phép của người nhận (Spam) là hình thức gửi
email đến người nhận trong khi người nhận không hề đăng ký một cách tự nguyện
để nhận email đó. Những địa chỉ email này thường được thuê/mua từ một nhà cung