TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
------***------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA VIỆT NAM SANG
KHU VỰC ASEAN: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thanh Thư
Mã sinh viên: 111 111 0590
Lớp: Anh 6
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Vũ Thị Kim Oanh
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
2
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
Từ viết tắt
Giải nghĩa tiếng Việt
CHDCND
Cộng hòa dân chủ nhân dân
CTCP
ASEAN Economic Community
Cộng đồng kinh tế ASEAN
ASEAN
Association of southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á
FDI
Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
TNCs
Transnational Corporations
Tập đoàn xuyên quốc gia
WTO
World Trade Organization
Tổ chức Thương mại
thế giới
Khu vực ASEAN có môi trường đầu tư tương đối hấp dẫn, lại có thêm sự
tương đồng về văn hóa, sự gần gũi về khoảng cách địa lí đối với Việt Nam. Chính vì
vậy, thị trường này đã đón nhận đến 60% vốn đầu tư trực tiếp từ các doanh nghiệp
nước ta. Tuy nhiên, hoạt động đầu tư trực tiếp ra thị trường ASEAN vẫn còn tồn tại
những hạn chế nhất định, đồng thời những thành quả đạt được vẫn chưa tương xứng
với tiềm năng sẵn có. Do đó rất cần có những nghiên cứu cụ thể về tình hình đầu tư
trực tiếp từ Việt Nam ra khu vực Đông Nam Á, đồng thời chỉ ra những thành tựu,
hạn chế và kiến nghị các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động đầu tư này.
Vì những lí do đề cập trên đây, tác giả đã lựa chọn đề tài “Đầu tư trực tiếp
của Việt Nam sang khu vực ASEAN: thực trạng và giải pháp”, với mục đích đáp
ứng những nhu cầu nghiên cứu đó.
5
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của khóa luận là dựa trên nghiên cứu thực trạng đầu tư trực tiếp của
Việt Nam sang khu vực ASEAN, đưa ra đánh giá về những thành tựu, hạn chế còn
tồn tại để từ đó đề ra những giải pháp giúp đẩy mạnh hoạt động này.
Để đạt được mục tiêu đó, đề tài có những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, làm sáng tỏ vai trò của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cũng như
những thuận lợi, khó khăn khi đầu tư ra khu vực ASEAN.
Thứ hai, phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra khu vực ASEAN
nhằm đánh giá các thành tựu đã đạt được cũng như những hạn chế cần khắc phục
của hoạt động này.
Thứ ba, kiến nghị những giải pháp giúp tăng cường hiệu quả cũng như quy mô của
dòng vốn FDI từ Việt Nam sang khu vực ASEAN.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tìm hiểu cơ sở lí luận của hoạt động đầu tư trực tiếp, môi trường đầu
tư của khu vực ASEAN nhằm tạo cơ sở nghiên cứu thực trạng đầu tư trực tiếp của
tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), FDI được thực hiện nhằm thiết lập
các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, đặc biệt là đối với những
khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp
nói trên bằng cách: (1) thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi
nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; (2) mua lại toàn bộ doanh nghiệp
đã có; (3) tham gia một doanh nghiệp mới; (4) cấp tín dụng dài hạn (>5 năm).
Theo luật đầu tư 2005 của Việt Nam, từ các khái niệm “đầu tư”, “đầu tư trực
tiếp”, “đầu tư nước ngoài” được dẫn ra, có thể hiểu “FDI là hình thức đầu tư do nhà
đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở Việt
Nam.
Tóm lại, FDI là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một
nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án đầu tư ở nước khác
nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó. Vốn đầu tư có thể
là tài sản hữu hình (tiền mặt, máy móc thiết bị, quy trình công nghệ, các loại hợp
đồng và giấy phép có giá trị,...); tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ, kinh nghiệm
quản lý,...) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ,...).
So với các hình thức đầu tư khác, FDI có một số đặc điểm khác biệt sau:
Thứ nhất, mục đích chính của FDI là tìm kiếm lợi nhuận. Phần lớn vốn FDI
là đầu tư tư nhân, và trong một số trường hợp đặc biệt FDI có thể có sự tham gia
góp vốn của Nhà nước. Tuy nhiên, dù chủ thể đầu tư là gì thì mục đích ưu tiên hàng
đầu vẫn là lợi nhuận. Chủ đầu tư được tự do chọn lựa lĩnh vực đầu tư, quy mô đầu
tư, thị trường đầu tư, hình thức hoạt động,.. nhằm tối ưu hóa hiệu quả và lợi nhuận
thu được. Hình thức này mang tính khả thi và kinh tế cao. Tuy vậy, các nước nhận
đầu tư cần lưu ý đề ra các cơ chế, chính sách hợp lí nhằm đảm bảo phát triển kinh tế
7
đi liền với phát triển an sinh xã hội, tránh các hậu quả nhãn tiền như ô nhiễm môi
trường, suy kiệt tài nguyên,..
8
việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi
ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại
của doanh nghiệp sáp nhập; mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua
toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn
bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại. FDI chủ yếu được tiến hành
dưới hình thức M&A. Các nhà đầu tư ưa chuộng hình thức này hơn vì chi phí đầu tư
thấp hơn và ít rủi ro hơn, đồng thời thời gian tiếp cận thị trường ngắn hơn.
2.1.2.2. Phân theo hình thức pháp lí
Theo Luật Đầu tư Việt Nam 2005, Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được
thực hiện dưới một số hình thức pháp lý chủ yếu sau:
Thứ nhất, là hợp đồng hợp tác kinh doanh. Hợp đồng hợp tác kinh doanh là
văn bản ký kết giữa hai hay nhiều bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ở một quốc
gia trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà
không thành lập pháp nhân mới. Các hình thức: hợp đồng xây dựng - kinh doanh chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO) và hợp
đồng xây dựng - chuyển giao (BT).
Ưu điểm: giúp nhà đầu tư thâm nhập vào những lĩnh vực hạn chế đầu tư, thị trường
truyền thống của nước chủ nhà: viễn thông, dầu khí,... hoặc thị trường mới mà nhà
đầu tư chưa biết rõ.
Nhược điểm: thời gian đàm phán và thực thi thường kéo dài, dễ thất bại do mục
đích thiếu nhất quán giữa các bên.
Thứ hai, là doanh nghiệp liên doanh. Doanh nghiệp liên doanh là doanh
nghiệp được thành lập tại nước chủ nhà trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa hai
bên hoặc các bên nước chủ nhà với các bên nước ngoài để đầu tư, kinh doanh tại
nước chủ nhà.
Ưu điểm: giúp nhà đầu tư tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của nước chủ
nhà, đầu tư vào lĩnh vực dễ thu lời, lĩnh vực bị cấm hoặc hạn chế đối với hình thức
Thứ hai, nước chủ đầu tư có thể sử dụng lợi thế của nơi tiếp nhận vốn giảm
chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tỷ suất lợi nhuận, khắc phục tình trạng
thừa vốn tương đối. Khi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, các quốc gia này sẽ đem các
nguồn lực có lợi thế của mình để tiến hành đầu tư. Các nguồn lực sẽ được khai thác
tối đa trong môi trường kinh doanh rộng lớn hơn, với mật độ cạnh tranh thấp hơn
với những ngành mà quốc gia đó có thế mạnh.
Thứ ba, FDI giúp nước chủ đầu tư mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm,
đồng thời kéo dài vòng đời sản phẩm. Trong giai đoạn đầu vòng đời của sản phẩm
mới, giai đoạn thử nghiệm sản xuất được tiến hành tập trung tại chính quốc gia đó,
các doanh nghiệp có thể thực hiện xuất khẩu trực tiếp sản phẩm. Khi sản phẩm đã
trở nên tiêu chuẩn hoá trong giai đoạn phát triển, sản phẩm đã “bão hoà” ở thị
10
trường trong nước, nhà sản xuất sẽ tích cực đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
nhằm tận dụng lợi thế chi phí thấp (yếu tố đầu vào, ưu đãi của nhà nước tiếp nhận
đầu tư) và quan trọng hơn là nhằm ngăn chặn khả năng mất thị trường vào tay các
nhà sản xuất địa phương. Các nhà sản xuất sẽ tiến hành di chuyển máy móc, thiết bị
và công nghệ sản xuất sang các nước đó để sản xuất, kéo dài “tuổi thọ” sản phẩm.
Thứ tư, các nhà đầu tư có thể tìm kiếm các nguồn cung nguyên, nhiên liệu ổn
định. Nguồn lực và khả năng khai thác các nguồn lực là vấn đề quan trọng để giảm
thiểu chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, góp phần
đắc lực cho doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh và tăng lợi nhuận. Khi tiến hành
sản xuất kinh doanh, mỗi nhà quản lý đều phải luôn tìm cách tối thiểu hoá chi phí
và tối đa hoá lợi nhuận nên họ cố gắng sử dụng các nguồn lực sao cho có hiệu quả
nhất và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một giải pháp.
Thứ năm, FDI giúp các nước đầu tư tránh được hàng rào thuế quan và hàng
rào bảo hộ phi thuế quan của nước tiếp nhận đầu tư. Hầu hết các quốc gia trên thế
giới đều sử dụng hàng rào thuế quan cũng như các hàng rào phi thuế quan để kiểm
phát triển, đào tạo đội ngũ lao động ở nước chủ nhà phục vụ cho các dự án đầu tư.
Thứ ba, FDI giúp nước nhận đầu tư chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
tích cực. FDI chủ yếu được tiến hành bởi các TNCs và thường tập trung vào các
ngành công nghiệp và dịch vụ, góp phần tăng nhanh tỷ trọng về sản lượng, việc
làm, xuất khẩu,… của các ngành công nghiệp, dịch vụ trong nền kinh tế của các
nước đang phát triển, giảm tỷ trọng các ngành truyền thống.
Thứ tư, FDI giúp nước nhận đầu tư mở rộng thị trường xuất khẩu, tăng năng
lực cạnh tranh trên thế giới. Không chỉ đáp ứng nhu cầu nội địa, FDI ngày càng
hướng mạnh vào xuất khẩu. Nguồn ngoại tệ đáng kể từ xuất khẩu đã giúp các nước
đang phát triển cải thiện cán cân thương mại.
Tuy có nhiều tác động tích cực đến cả nước chủ đầu tư và nước nhận đầu tư
như vậy, nguồn vốn FDI không phải là không có những hạn chế nhất định. Ví dụ,
đối với nước chủ đầu tư, FDI có thể làm thất thoát các bí quyết công nghệ, giảm
việc làm cho lao động trong nước, … Trong khi đó, nước nhận đầu tư FDI có thể sẽ
phải đối mặt với các vấn đề về ô nhiễm môi trường, vấn đề xã hội gây ra bởi các
doanh nghiệp FDI, vốn chỉ tập trung vào mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận; cùng với đó
là sự lệ thuộc về nguồn cung việc làm, kinh tế vào các doanh nghiệp vốn FDI này.
Do đó, mỗi quốc gia cần có một sự cân nhắc hợp lí về cả những mặt tích cực và tiêu
cực khi đầu tư hoặc nhận đầu tư FDI, để có thể phát huy đươc những mặt tốt, đồng
12
thời xây dựng những hành lang pháp lí, chế tài phù hợp nhằm hạn chế những tác
động xấu của nguồn vốn này.
2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến FDI
2.2.1. Các yếu tố thuộc về nước chủ đầu tư
Theo Bùi Thị Lý (2010), các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài sẽ tiến hành
hoạt động FDI khi phát huy được lợi thế độc quyền riêng và lợi thế nội bộ hóa.
Lợi thế độc quyền riêng: Khi tiến hành đầu tư FDI ra nước ngoài, các doanh
13
-
Khuyến khích chuyển giao công nghệ. Chính phủ các nước có thể hỗ trợ vốn, trợ
giúp về kĩ thuật, dành các ưu đãi cho các dự án về FDI ở nước ngoài kèm theo
chuyển giao công nghệ.
- Trợ giúp tiếp cận thị trường, ưu đãi thương mại (thuế quan và phi thuế quan) cho
-
hàng hóa của các nhà đầu tư ra nước ngoài.
Cung cấp thông tin, trợ giúp kỹ thuật. Chính phủ hoặc các cơ quan của Chính phủ
đứng ra cung cấp cho các chủ đầu tư các thông tin cần thiết về môi trường và cơ hội
đầu tư.
Các biện pháp hạn chế đầu tư có thể bao gồm:
-
Hạn chế chuyển vốn ra nước ngoài. Để kiểm soat cán cân thanh toán, hạn chế thâm
hụt, các nước chủ đầu tư có thể áp dụng biện pháp này.
- Hạn chế bằng thuế, đánh thuế đối với thu nhập của chủ đầu tư ở nước ngoài, có các
chính sách ưu đãi về thuế đối với đầu tư trong nước, khiến cho việc đầu tư ra nước
ngoài trở nên kém ưu đãi hơn.
- Hạn chế tiếp cận thị trường, đánh thuế cao hoặc áp dụng chế độ hạn ngạch hay các
rào cản phi thương mại đối với hàng hóa của công ty nước mình sản xuất ở nước
ngoài và xuất khẩu ngược lại.
- Cấm đầu tư vào một số nước. Do căng thẳng trong quan hệ ngoại giao, chính trị, một
nước có thể không cho phép chủ đầu tư nước mình tiến hành hoạt động FDI ra một
nước nào đó.
trường và thu nhập bình quân đầu người; tốc độ tăng trưởng của thị trường; khả
năng tiếp cận thị trường khu vực và thế giới; các sở thích đặc biệt của người tiêu
dùng và cơ cấu thị trường. Trong khi đó, các chủ đầu tư tìm kiếm nguồn nguyên liệu
và tài sản sẽ quan tâm đến tài nguyên thiên nhiên; lao động chưa qua đào tạo với giá
rẻ; lao động có tay nghề; công nghệ, phát minh, sáng chế và các tài sản doanh
nghiệp sang tạo ra; cơ sở hạ tầng phần cứng. Mặt khác, các chủ đầu tư tìm kiếm
hiệu quả sẽ chú trọng đến chi phí mua nguyên liệu, bán thành phẩm; tham gia các
hiệp định hội nhập tạo thuận lợi thành lập mạng lưới doanh nghiệp toàn khu vực.
Thứ ba, là các yếu tố tạo thuận lợi trong kinh doanh. Trong các yếu tố này,
có thể kể đến: chính sách xúc tiến đầu tư; các biện pháp ưu đãi khuyến khích đầu tư;
giảm tiêu cực phí bằng cách giải quyết nạn tham nhũng, cải cách thủ tục hành chính
để nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước; nâng cao chất lượng
các dịch vụ tiện ích xã hội để đảm bảo cuộc sống cho các chủ đầu tư nước ngoài;
các dịch vụ hậu đầu tư,.. Cụ thể, hoạt động xúc tiến đầu tư gồm việc quảng bá ra
bên ngoài hình ảnh, chính sách, lợi thế, tiềm năng của nước nhận đầu tư nhằm cung
cấp thông tin giúp nhà đầu tư hiểu đúng về môi trường đầu tư tiềm năng ấy. Các
hình thức khuyến khích đầu tư chủ yếu là khuyến khích về tài khóa như giảm tỷ lệ
thuế thu nhập doanh nghiệp, trợ cấp đầu tư và tái đầu tư, miễn giảm thuế, khuyến
15
khích về tài chính cũng như hỗ trợ của chính phủ dưới dạng tín dụng trợ cấp, tham
gia vốn nhà nước, bảo hiểm tín dụng của chính phủ. Ngoài ra, còn có các ưu đãi về
thị trường như hỗ trợ độc quyền, bảo vệ cạnh tranh nhập khẩu, ưu đãi về trao đổi
ngoại hối và cơ sở hạ tầng.
2.2.3. Các yếu tố quốc tế
Các yếu tố thuộc môi trường quốc tế cũng có ảnh hưởng đến hoạt động FDI,
cụ thể hơn, đó là môi trường kinh tế, chính trị, xã hội toàn cầu có ổn định hay
không, các yếu tố đó thuận lợi hay không thuận lợi cho nước chủ đầu tư, nước nhận
Năm 1992: Hiệp định Khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN và thỏa
thuận về Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) được kí vào dịp Hội nghị Cấp
cao ASEAN lần thứ tư, tổ chức tại Singapore từ ngày 27-28/1/1992. Nhân dịp này, 5
nước thành viên ban đầu của ASEAN cũng ký thỏa thuận về lập Khu vực Mậu dịch
Tự do ASEAN (AFTA), đặt nền tảng quan trọng cho mở rộng hợp tác kinh tếthương mại và xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) sau này.
Tháng 12/1997: Thông qua Tầm nhìn ASEAN 2020. Trong đó, nêu định
hướng phát triển lớn của ASEAN trong những thập kỷ đầu thế kỷ 21, hướng tới mục
tiêu xây dựng một tập hợp hài hòa các dân tộc ở Đông Nam Á, sống trong hòa bình,
ổn định và thịnh vượng, gắn kết chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ đối tác năng
động và một cộng đồng của các xã hội đùm bọc lẫn nhau.
Năm 2002: ASEAN và Trung Quốc ký Tuyên bố về ứng xử của các bên ở
Biển Đông (DOC) vào ngày 4/11/2002 tại Phnôm Pênh. Tuyên bố nêu cam kết của
các bên ký kết giải quyết bằng biện pháp hòa bình các tranh chấp, không sử dụng vũ
lực và thông qua đàm phán giữa các bên liên quan.
Năm 2005: Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) lần thứ nhất, được tổ chức tại
Kuala Lumpur, Malaysia tháng 12/2005, với sự tham gia của nguyên thủ các nước
thành viên ASEAN, Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc và New
Zealand. Tại Hội nghị này, lãnh đạo các nước đã ký Tuyên bố chung về Cấp cao
Đông Á, trong đó đề ra mục tiêu, nguyên tắc, lĩnh vực và các phương thức chính
cho hoạt động của EAS.
Tháng 11/2007: Hiến chương ASEAN được ký ngày 20 tháng 11 năm 2007
tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 13. Hiến chương ra đời, tạo tư cách pháp nhân
cho ASEAN là một tổ chức hợp tác khu vực; đồng thời cũng tạo cơ sở pháp lý và
khuôn khổ thể chế để gia tăng liên kết và hợp tác ASEAN, giúp xây dựng ASEAN
trở thành một tổ chức gắn kết hơn và hoạt động hiệu quả hơn, trước mắt là hỗ trợ
mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN.
17
18
có một khu vực rộng lớn nào mà thảm thực vật lại trở nên vô cùng trù phú và xanh
tốt như ở nơi đây. Với lượng mưa lớn 1500 đến 3000 mm/năm), lượng bức xạ mặt
trời phong phú (trên 100 kcal.m2/năm), độ ẩm (trên 80%) và nhiệt độ (từ 20 đến
270) cao, Đông Nam Á đã tạo ra những cánh rừng nhiệt đới bao la với đủ các loại
thảo mộc quý hiếm và có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là các loại cây gia vị và hương
liệu như hồ tiêu, sa nhân, quế, hồi, trầm hương,… Những cây công nghiệp như cao
su, dừa, cọ,… cũng đóng một vai trò đáng kể trong nền kinh tế của Đông Nam Á:
80% cao su tự nhiên, 75% dầu cọ, 73% cùi dừa của thế giới là từ Đông Nam Á đã
trở thành khu vực được mệnh danh là quê hương của lúa nước – cây lương thực số
một của nhân loại. Không phải ngẫu nhiên mà hai trong số ba nước xuất khẩu gạo
nhiều nhất thế giới lại nằm ở khu vực này. Rừng Đông Nam Á còn lưu giữ được
nhiều loại động vật quý mang tính nhiệt đới đặc trưng như voi, tê giác, bò tót, v.v…
Đặc biệt, Đông Nam Á còn được coi là “viện bảo tàng chim thú” – thiên đường của
các nhà động vật học. Chim ở đây có giá trị lớn về nhiều mặt: kinh tế, khoa học, sản
xuất, văn hóa – xã hội, v.v…
Về tài nguyên khoáng sản, Đông Nam Á là vùng khá giàu có về khoáng sản:
sắt, nicken, đồng, thiếc, kẽm, chì, vonfram,… Thiếc ở Đông Nam Á chiếm 70% trữ
lượng thế giới (khoảng 3,6 triệu tấn) và có hàm lượng cao. Malaysia đứng hàng đầu
(1,5 triệu tấn), sau đó là Indonesia (gần 1 triệu tấn). Đồng có ở tất cả các nước
nhưng nhiều nhất là Philippines với trữ lượng 6 triệu tấn, sau đó đến Indonesia (gần
1 triệu tấn), Malaysia (80 vạn tấn). Quặng Mangan trữ lượng chung 25 triệu tấn,
trong đó Indonesia 10 triệu tấn, Thái Lan 7 triệu tấn. Quặng sắt Indonesia 1,7 tỷ tấn,
Philippines gần 1 tỷ tấn, Lào gần 1 tỷ tấn. Trữ lượng dầu mỏ ở Đông Nam Á khá
lớn, tạo thành một vành đai dọc bờ biển Sarawak, Sabah (Malaysia), Brunei cho đến
tận Nam Việt Nam.
Về giao thông, Đông Nam Á có một vị trí đặc biệt quan trọng trên đường
Yearbook 2014, số dân năm 2014 của Đông Nam Á lên tới 650 triệu người, chiếm
14,2% dân số châu Á, 8,6% dân số thế giới. Mật độ dân số bằng trung bình của
châu Á, gấp hơn 2 lần so với thế giới. Tỷ lệ gia tăng tự nhiên cao hơn châu Á và thế
giới, đạt 1,5%. Điều đáng chú ý là khu vực ASEAN có cơ cấu dân số trẻ, với phần
đông dân số nằm trong độ tuổi lao động. điều này tạo nên một thuận lợi vô cùng lớn
cho sự phát triển kinh tế, tăng năng suất lao động trong khu vực này. Tuy nhiên, dân
số đông với mật độ cao cũng gây nên rất nhiều sức ép đối với giáo dục, y tế, văn
hóa, môi trường,.. Các nước Đông Nam Á đang tiến hành các chính sách dân số,
nâng cao ý thức và hiểu biết người dân để kiểm soát gia tăng dân số tự nhiên.
Về kinh tế, ASEAN là một trong những thị trường quan trọng và là một trung
tâm kinh tế phát triển năng động. Mặc dù chịu sự tác động của cuộc khủng hoảng
20
nợ công châu Âu, sự suy yếu của kinh tế Mỹ và sự tăng trưởng chậm lại của nền
kinh tế TQ và Ấn Độ, song trong năm 2013, kinh tế khu vực ASEAN vẫn giữ được
mức tăng trưởng cao. Theo Schwab( 2014), tăng trưởng kinh tế của ASEAN năm
2013 đạt khoảng 5,2%, trong đó, tốc độ tăng trưởng GDP của Lào cao nhất khoảng
8,4%, tiếp đến là Campuchia (6,4%), Indonesia (khoảng 6,1%), Brunei khoảng
3,2%, Malaysia khoảng 4,4%, Myanmar khoảng 6,0%, Philippines khoảng 4,2%,
Singapore khoảng 2,7%, Thái Lan 5,5%, Việt Nam khoảng 5,5%.
Nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của nhiều quốc
gia trong khu vực Đông Nam Á.
Về kinh tế đối ngoại, ASEAN thúc đẩy quan hệ kinh tế thương mại với các
đối tác quan trọng như Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Australia, EU…
Hiện nay, Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN và
ASEAN là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc; ASEAN trở thành thị
trường xuất khẩu lớn thứ 4 và là đối tác thương mại lớn thứ 5 của Mỹ; Nhật Bản đã
vươn lên vị trí thứ nhất trong số các nước nhập khẩu vào ASEAN đồng thời là đối
thống nhất trong nội bộ ASEAN trong một số vấn đề năm vừa qua đang đặt cho tổ
chức này thách thức to lớn về năng lực giải quyết các vấn đề liên quan đến khối và
các thành viên
2.3.3. Các hiệp định hợp tác đầu tư của ASEAN
Một trong những biện pháp quan trọng nhằm nâng cao tính cạnh tranh của
ASEAN trong việc thu hút đầu tư giữa các nước ASEAN và từ các nước ngoại khối
là thông qua thực hiện tự do hoá và bảo hộ đầu tư. Cùng với thương mại hàng hóa
và thương mại dịch vụ, hợp tác về đầu tư của ASEAN cũng được tiến hành từ lâu.
Tính đến thời điểm này, có thể kể đến 3 Hiệp định hợp tác đầu tư, lần lượt là IGA
(kí ngày 15/12/1987), AIA (kí ngày 7/101998) và ACIA (kí ngày 26/2/2009).
2.3.3.1. Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (IGA)
Ngày 15/12/1987 những nhà lãnh đạo phụ trách các vấn đề kinh tế của các
nước ASEAN 6 đã kí kết hiệp định hợp tác về đầu tư mang quy mô toàn ASEAN
đầu tiên có tên là Hiệp định Khuyến khích và bảo hộ đầu tư (Agreement for the
Promotion and Protection of Investments (IGA) để tiến hành hợp tác sâu hơn trong
lĩnh vực đầu tư trong khu vực. Hiệp định Khuyến khích và bảo hộ đầu tư có hiệu
lực từ ngày 2/8/1988, sau đó được sửa đổi một lần vào năm 1996. Hiệp định này
khá ngắn, chỉ bao gồm 13 điều khoảnvới mục tiêu chung là bảo vệ đầu tư như đảm
bảo đối xử công bằng, bình đẳng trong đầu tư, các quy định về quốc hữu hóa và bồi
thường, quyền chuyển vốn và lợi nhuận về nước của nhà đầu tư, thế quyền, cơ chế
giải quyết tranh chấp giữa các thành viên của hiệp định. Tuy nhiên, vì IGA không
có các cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư mà chỉ quy định các bên cần giải quyết
22
trên cơ sở hữu nghị, báo cáo kết quả lên các Bộ trưởng Kinh tế nên tính ràng buộc
pháp lý của hiệp định này chưa cao.
2.3.3.2. Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN (AIA)
Đến những năm 90 của thế kỉ XX, tình hình quốc tế và khu vực Đông Nam
Tạm thời (TEL) và Danh mục Nhạy cảm (SL), trong đó Danh mục Loại trừ tạm thời
được dần dần xoá bỏ, còn Danh mục nhạy cảm được rà soát định kỳ.
Có thể nói rằng hai hiệp định IGA và AIA đã có những tác động tích cực và
quan trọng trong thúc đẩy FDI ở ASEAN kể từ khi ra đời cho tới nay, điển hình là
nâng dòng FDI từ bên ngoài đầu tư vào khu vực tăng một cách đáng ngạc nhiên từ
460 triệu USD năm 1970 đến 34,099 triệu USD vào năm 1997. Đặc biệt năm 2007,
khi các nền kinh tế ASEAN phải đối mặt với nhiều khó khăn mang tính toàn cầu,
dòng FDI nội khối của ASEAN vẫn tăng mạnh mẽ so với dự đoán tới 74,395 triệu
USD. Tuy nhiên, mặc dù AIA đã tạo ra một thị trường tự do hơn để thu hút FDI
nhưng hiệp định này vẫn chưa đủ toàn diện để hấp dẫn thêm các nhà đầu tư nước
ngoài vào ASEAN.
2.3.3.3. Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA)
Năm 2003, các nhà lãnh đạo ASEAN đưa ra quyết định thành lập Cộng đồng
kinh tế ASEAN. Tuyên bố Bali 2 ghi nhận rằng: “hướng tới Cộng đồng kinh tế
ASEAN, ASEAN sẽ xây dựng cơ chế và các biện pháp mới để tăng cường thực hiện
các sáng kiến kinh tế hiện có, bao gồm Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA),
Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS) và Khu vực đầu tư ASEAN (AIA);
thúc đẩy hội nhập khu vực các lĩnh vực ưu tiên; tạo điều kiện cho sự di chuyển của
thể nhân, lao động lành nghề và nhân tài; củng cố các thể chế của ASEAN, bao gồm
cả việc cơ chế giải quyết tranh chấp hiện có để giải quyết các tranh chấp về kinh tế
nhanh chóng và ràng buộc về mặt pháp lý hướng tới mục tổng thể là tạo lập “một
khu vực kinh tế ASEAN phát triển ổn định, thịnh vượng, đồng đều, có tính cạnh
tranh cao và hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.” Với những mục tiêu mới của AEC,
nhiều điều khoản trong AIA và IGA không đáp ứng được mục tiêu mà AEC đặt ra
như AIA chỉ bao gồm các thỏa thuận về tiếp cận thị trường, các thỏa thuận về bảo
hộ đầu tư theo IGA cũng trở nên lạc hậu với tình hình đầu tư, thương mại trong khu
vực. Vì vậy, các nước thành viên ASEAN đã thống nhất quan điểm soạn thảo văn
bản mới thay thế hai Hiệp định về đầu tư hiện hành nhằm cải thiện môi trường đầu
tư cạnh tranh, minh bạch, tự do và thông thoáng hơn. Sau hơn 2 năm chuẩn bị và
soạn thảo, Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) đã được kí kết vào ngày
tăng trưởng kinh tế và phát triển của khu vực. Hiển nhiên, điều này cũng tạo một
thuận lợi to lớn cho dòng vốn FDI của Việt Nam ra các nước ASEAN.
25
2.4. Kinh nghiệm đầu tư trực tiếp sang khu vực ASEAN của một số quốc gia
2.4.1. Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nền kinh tế các nước trong khu vực Đông Nam Á có sự gắn bó với nền kinh
tế Nhật Bản thông qua các dự án hợp tác và đầu tư. Ngay từ những năm 50, cùng
với việc thực hiện chính sách ngoại giao chính trị, Nhật Bản đã tiến hành các dự án
đầu tư vào khu vực Đông Nam Á, qua đó tạo ra một khối lượng việc làm lớn cho
nhân sự các nước tại các công ty Nhật. Hầu hết các hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài bắt nguồn từ các công ty xuyên quốc gia, chuyên cung cấp nguồn vốn, công
nghệ và kinh nghiệm quản lý chính trong đầu tư quốc tế. Các nước Đông Nam Á
với lợi thế lao động rẻ, thị trường tiềm năng và ít rủi ro đã thúc đẩy các doanh
nghiệp Nhật Bản đầu tư nhiều hơn nữa. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp Nhật Bản do
lo ngại rủi ro sản xuất và kinh doanh tại thị trường Trung Quốc nên đã bắt đầu
chuyển dần nguồn vốn và hoạt động kinh doanh sang thị trường Đông Nam Á.
Theo Dương Hương Nga (2012), khối lượng đầu tư trực tiếp của Nhật Bản
vào các nước ASEAN có sự gia tăng mạnh mẽ. Từ năm 1990 đến năm 1993, FDI
của Nhật Bản vào các nước này tăng từ 7,8% đến 11,33%. Đến năm 1994, tổng số
vốn đầu tư này đã lên tới 5,13 tỷ USD. Trong năm 2014, con số này đã lên đến
35,57 tỷ USD, tương đương với 12,5% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của Nhật Bản
và 54% đầu tư trực tiếp của Nhật Bản tại Châu Á. Có được điều này là do sau thoả
thuận Plaza, đồng Yên lên giá mạnh so với đồng đô la Mỹ và các đồng tiền
ASEAN, dẫn đến các sản phẩm xuất khẩu ra nước ngoài một mặt bị mất tính cạnh
tranh trên thị trường, mặt khác vì đã được tính bằng đô la nên tiền thu về khi đổi
sang đồng Yên bị giảm đi rất nhiều, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình kinh
doanh của các công ty trong nước, đặc biệt là các công ty vừa và nhỏ. Điều này làm