BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
VŨ THỊ MINH NGỌC THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP
THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA VIỆT NAM
SANG CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á
Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế
Mã số: 60.31.07 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: T.S PHẠM THU HƯƠNG
THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP
THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA VIỆT NAM
SANG CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Hà Nội - 2006 MC LC
1.3. KINH NGHIM U T TRC TIP CA MT S QUC GIA CHU
SANG CC NC ễNG NAM
24
1.3.1. Kinh nghim ca Nht Bn
24
1.3.2. Kinh nghim ca Trung Quc
26
1.3.3. Kinh nghim ca cỏc nn kinh t cụng nghip mi - NIEs
28
1.3.4. u t trc tip trong ni b khu vc ụng Nam
31
2. CHNG 2. THC TRNG HOT NG U T TRC TIP CA VIT
NAM SANG CC NC ễNG NAM
33
2.1. C S CHO HOT NG U T TRC TIP RA NC NGOI CA
CC DOANH NGHIP VIT NAM
33
2.1.1. Lut u t chung ca Vit Nam nm 2005
33
2.1.2. Ngh nh s 22/1999/N-CP quy nh v u t ra nc ngoi ca doanh
nghip Vit Nam
33
2.1.3. Thụng t s 05/2001/TT-BKH ca B K hoch v u t hng dn hot
ng u t ra nc ngoi ca doanh nghip Vit Nam
35
2.1.4. Cỏc quy nh khỏc cú liờn quan ti hot ng u t trc tip ra nc ngoi
37
`2.2. TèNH HèNH U T TRC TIP RA NC NGOI CA CC DOANH
NGHIP VIT NAM
41
3.1.3. Hoạt động đầu tƣ ra nƣớc ngoài phải đi theo hƣớng đƣa Việt Nam hội nhập
thành công vào nền kinh tế thế giới
76
3.2. CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG FDI CỦA VIỆT NAM RA NƢỚC
NGOÀI NÓI CHUNG
76
3.2.1 Đa dạng hoá thị trƣờng đầu tƣ
76
3.2.2 Đa dạng hoá lĩnh vực đầu tƣ
78
3.3. CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH FDI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
SANG THỊ TRƢỜNG ĐÔNG NAM
80
3.3.1 Nghiên cứu hệ thống các quy định pháp luật, đặc tính kinh tế - xã hội của
từng thị trƣờng
80
3.3.2. Nghiên cứu các hình thức đầu tƣ phù hợp với thị trƣờng từng nƣớc trong
khu vực
82
3.3.3. Xây dựng chiến lƣợc đầu tƣ có hiệu quả
89
3.3.4. Tận dụng mối quan hệ với các Doanh nghiệp Việt kiều ở nƣớc tiếp nhận đầu
tƣ
92
3.3.5. Xây dựng đội ngũ lao động đƣợc trang bị kiến thức về luật pháp, bên cạnh
kiến thức về chuyên môn
93
3.4. MỘT VÀI KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHÀ NƢỚC ĐỂ ĐẨY MẠNH ĐẦU TƢ
TRỰC TIẾP CỦA VIỆT NAM RA NƢỚC NGOÀI, ĐẶC BIỆT LÀ SANG THỊ
TRƢỜNG CÁC NƢỚC ĐÔNG NAM Á
THỊ TRƢỜNG ĐẦU TƢ ĐÔNG NAM Á
5
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
1
1.2. XU HƢỚNG ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI CỦA THẾ GIỚI VÀO
KHU VỰC ĐÔNG NAM Á
6
1.3. KINH NGHIỆM ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU Á
SANG CÁC NƢỚC ĐÔNG NAM Á
5
2. CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP CỦA VIỆT
NAM SANG CÁC NƢỚC ĐÔNG NAM Á
7
2.1. CƠ SỞ CHO HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP RA NƢỚC NGOÀI CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
7
`2.2. TÌNH HÌNH ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP RA NƢỚC NGOÀI CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP VIỆT NAM
7
2.2.1. Tác động của hoạt động đầu tƣ trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam ra
nƣớc ngoài nói chung và sang các nƣớc Đông Nam Á nãi riªng ®èi víi sù ph¸t triÓn
nÒn kinh tÕ quèc d©n
7
2.2.2. Tình hình thực hiện dự án
8
2.2.3. Kết quả đầu tƣ trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam ra nƣớc ngoài
9
2.3. TÌNH HÌNH ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP SANG THỊ TRƢỜNG CÁC NƢỚC ĐÔNG
NAM Á CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
9
Bảng 1.1. Tổng quan kinh tế của các nước ASEAN - 10 năm 2001
18
Bảng 1.2. Dòng vốn FDI chảy vào khu vực ASEAN từ năm 2000 -
quý I/2004
23
Bảng 2.1. Đầu tư ra nước ngoài của Doanh nghiệp Việt Nam phân
theo ngành
50
Bảng 2.2. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài phân theo nước tiếp nhận
51
Bảng 2.3. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo năm
53
Bảng 2.4. Đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam sang Lào giai
đoạn 1993 - tháng 2/2006
55
Bảng 2.5. FDI của các doanh nghiệp Việt Nam sang Singapore theo
lĩnh vực
57
Bảng 2.6. Quy mô vốn đầu tư trực tiếp sang thị trường Campuchia
trong các dự án của doanh nghiệp Việt Nam
58
DANH MỤC VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
Bộ KH&ĐT - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
CGCN - Chuyển giao công nghệ
Công ty TNHH - Công ty Trách nhiệm hữu hạn
DNNN - Doanh nghiệp Nhà nước
nhằm mục tiêu mở rộng sản xuất và tăng thu lợi nhuận đã trở thành phổ
biến khắp toàn cầu. Dòng vốn này tác động tích cực cả đối với nhà đầu tư
(nước đầu tư) và cả đối với nước tiếp nhận đầu tư. Chính vì nó có lợi đối
với cả hai phía như vậy, nên đa số các nước hiện nay, đều có xu hướng,
một mặt tích cực kêu gọi đầu tư nước ngoài vào trong nước, mặt khác lại
khuyến khích các doanh nghiệp trong nước tìm kiếm các thị trường mới ở
nước ngoài. Ở Việt Nam, từ lâu, người ta đã biết đến ảnh hưởng của vốn
đầu tư nước ngoài đối với việc tăng trưởng nền kinh tế, và do vậy, đã có rất
nhiều nghiên cứu đưa ra các biện pháp để tăng cường thu hút vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Tuy nhiên, dòng vốn đầu tư ra nước
ngoài của doanh nghiệp Việt Nam để tìm kiếm lợi nhuận thì chỉ mới được
quan tâm đến trong một vài năm gần đây. Hoạt động đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam hầu như vẫn còn mang tính
manh mún, tự phát. Trong tương lai, chắc chắn hoạt động này sẽ phát triển.
Do vậy, cần có định hướng của Nhà nước để tạo điều kiện cho hoạt động
này phát triển.
Đề tài “Thực trạng và các giải pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp của
Việt Nam sang các nước Đông Nam Á” được dựa trên thực tiễn hoạt
động đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường Đông
Nam Á. Đây là một thị trường khá gần gũi và có nhiều điểm tương đồng
với Việt Nam. Do vậy, khi đầu tư sang thị trường này các doanh nghiệp
đầu tư Việt Nam sẽ có nhiều khả năng thành công hơn. Đây cũng sẽ là bàn
đạp để các doanh nghiệp Việt Nam vươn xa sang các thị trường khác trên thế giới, góp phần tạo đà cho nền kinh tế Việt Nam hội nhập hơn vào thị
trường quốc tế. Tuy nhiên, đầu tư nước ngoài là một hoạt động mang đầy
tính rủi ro, và không phải lúc nào các doanh nghiệp cũng thành công.
Chính vì vậy, Luận văn thạc sỹ này được thực hiện nhằm đưa ra cái nhìn
tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam,
nhằm:
- Làm rõ vai trò của việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nói chung và đầu tư
sang các nước Đông Nam Á nói riêng đối với sự phát triển kinh tế và đối
với việc nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
- Phân tích tình hình đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài nói
chung và sang các nước Đông Nam Á nói riêng, từ đó phân tích khả năng
thành công, cũng như những thách thức đối với các doanh nghiệp Việt
Nam khi đầu tư ra nước ngoài. Đồng thời cũng thấy được các tác động
chung của hoạt động này đối với việc phát triển kinh tế của Việt Nam.
- Đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động đầu tư
trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam ra thị trường nước ngoài, đặc biệt
là sang thị trường các nước Đông Nam Á.
4. Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung vào nghiên cứu về lý luận chung
của đầu tư trực tiếp nước ngoài; kinh nghiệm của một số nước trong đầu tư
trực tiếp sang các nước Đông Nam Á và hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực đầu tư về hàng hoá và
dịch vụ. Đồng thời, nghiên cứu môi trường đầu tư của các nước Đông Nam
Á và đưa ra các biện pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư trực tiếp của
các doanh nghiệp Việt Nam trong khu vực này.
5. Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài này chủ yếu tập trung vào hoạt động đầu
tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường một số nước Đông Nam Á trong thời gian 5 năm trở lại đây và đưa ra một số giải pháp
nhằm thúc đẩy hoạt động này tới năm 2020.
6. Phương pháp nghiên cứu: Để phục vụ công tác nghiên cứu đề tài, em đã sử
dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp khác như: phân tích thống kê, so
sánh, diễn dịch, quy nạp
1.1.1.2. Đặc điểm của hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài, đó là:
- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu, tuỳ theo
quy định của luật đầu tư từng nước, ví dụ như Luật đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam năm 2000 quy định “số vốn đóng góp tối thiểu của phía nước ngoài phải
bằng 30% vốn pháp định của dự án” hay Luật đầu tư của Nam Tư cũ trước đây
quy định “phần của bên đối tác nước ngoài đóng góp không dưới 5% tổng số vốn
đầu tư”
- Quyền hành quản lý xí nghiệp hay công ty phụ thuộc vào mức độ góp vốn,
nếu đóng góp 100% vốn thì xí nghiệp hay công ty đó hoàn toàn do chủ đầu tư
nước ngoài điều hành
- Lợi nhuận của các chủ đầu tư nước ngoài thu được phụ thuộc vào kết quả
hoạt động kinh doanh của xí nghiệp hay công ty. Lãi và lỗ của công ty được chia
2
theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định sau khi đã nộp thuế lợi tức cho nước chủ
nhà
1.1.1.3. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được thực hiện dưới các hình thức sau:
- Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh: Đây là một văn bản được ký kết
giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước (nước tiếp nhận
đầu tư) để tiến hành một hay nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước chủ
nhà trên cơ sở quy định về trách nhiệm và phân phối kết quả kinh doanh mà
không thành lập một công ty, xí nghiệp hay không hình thành một pháp nhân mới
nào.
Hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài này có đặc điểm:
Cả hai bên cùng hợp tác kinh doanh trên cơ sở văn bản hợp đồng đã
ký kết giữa các bên về sự phân định trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa
vụ
Hoạt động dưới sự chi phối của Luật pháp nước nhận đầu tư
- Các hình thức khác: Đầu tư vào các khu chế xuất, khu phát triển kinh tế,
thực hiện những hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao (B.O.T), hợp đồng
xây dựng - chuyển giao - vận hành (B.T.O), hợp đồng xây dựng - chuyển giao
(B.T). Những dự án B.O.T thường được chính phủ các nước đang phát triển tạo
mọi điều kiện thuận lợi để thực hiện việc nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế.
1.1.2. Nguyên nhân thúc đẩy đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
Có nhiều nguyên nhân nảy sinh hiện tượng đầu tư nước ngoài, trong đó các
nguyên nhân chủ yếu nhất là
- Do sự phát triển không đồng đều về trình độ phát triển lực lượng sản xuất,
kết quả làm cho chi phí sản xuất hàng hoá giữa các nước không giống nhau.
Ngoài ra điều kiện sản xuất giữa các nước không giống nhau, chênh lệch nhau về
giá cả hàng hoá sức lao động, tài nguyên, vốn, khoa học kỹ thuật, vị trí địa lý
Tìm kiếm sự đầu tư ở bên ngoài cho phép lợi dụng những chênh lệch này để giảm
chi phí sản xuất như: chi phí nguyên vật liệu, chi phí lương, chi phí vận chuyển,
chi phí bán hàng ví dụ khi đầu tư vào các nước đang phát triển trong đó có Việt
4
Nam, các nhà đầu tư thường đầu tư vào các ngành sử dụng nhiều lao động như
lắp ráp hàng điện tử, ngành dệt may, chế biến thực phẩm Vì giá nhân công của
các nước này rẻ hơn nhiều so với các nước công nghiệp, sản phẩm làm ra cho
phép có khả năng cạnh tranh về giá.
- Ở các nước công nghiệp phát triển tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm dần
và kèm theo là hiện tượng thừa “tương đối” tư bản ở trong nước. Vì thế đầu tư ra
nước ngoài nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một xu hướng phổ biến trong
các nước này. Theo Bộ Thương mại Mỹ, tỷ lệ lãi trung bình của các công ty Mỹ
ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương là 23%, gấp 2 lần tỷ lệ lãi trung bình cùng
kỳ ở 24 nước công nghiệp phát triển (OECD). [21, tr.22]
ty đa quốc gia có những ưu thế riêng mà các đối thủ địa phương không có. Các
ưu thế này tập trung ở các phương pháp quản lý và công nghệ tiên tiến. Do đó,
đầu tư nước ngoài đẩy mạnh sự phổ biến quốc tế các công nghệ mới và tài sản vô
hình, đồng thời làm tăng hiệu quả công tác quản lý hay tổ chức sản xuất. Mặt
khác, khi nắm giữ chặt chẽ những ưu thế trên, các công ty đa quốc gia sẽ tác động
lên các yếu tố thiên phú riêng của các quốc gia, nhờ đó làm gia tăng thu nhập từ
mậu dịch. Cuối cùng, đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nhiều quốc gia sẽ kích thích
cạnh tranh giữa các công ty.
1.1.3. Động cơ và tác động của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
1.1.3.1. Động cơ của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Xu hướng chung của các nhà đầu tư nước ngoài là tìm kiếm thị trường đầu tư
hấp dẫn, thuận lợi và an toàn nhằm thu được lợi nhuận cao và nâng cao uy tín của
công ty. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào chiến lược phát triển của công ty và mục tiêu
của nó ở thị trường nước chủ nhà (trực tiếp nhận đầu tư) mà mỗi nhà đầu tư lại có
một động cơ khác nhau trong từng dự án đầu tư. Các động cơ khác nhau trong
đầu tư trực tiếp nước ngoài thường là:
- Động cơ về thị trường: Các công ty thường đầu tư sang các nước khác
nhằm mục đích là mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty mẹ. Do sản
xuất sản phẩm cùng loại ở nước chủ nhà nên chủ đầu tư không cần đầu tư thiết bị,
công nghệ mới lại có thể tận dụng nguồn lao động rẻ, tiết kiệm chi phí vận
chuyển, qua đó nâng cao tỷ suất lợi nhuận
6
- Động cơ về chi phí: đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có thể giảm chi phí sản
xuất thông qua việc tận dụng lao động và tài nguyên rẻ ở nước chủ nhà. Hình
thức này thích hợp với những lĩnh vực đầu tư sử dụng nhiều lao động, sử dụng
thiết bị cũ, lạc hậu, mức độ ô nhiễm môi trường cao
- Động cơ về nguồn nguyên liệu: Các cơ sở đầu tư nước ngoài là một bộ
Một trở ngại phổ biến cho chiến lược này là những người kinh doanh đã có mặt
trước đó trong thị trường có thể tìm mọi cách không cho đối thủ mới chiếm đi thị
phần của mình, ví dụ bằng cách giảm giá tường đương hoặc thấp hơn mức giá
của đối thủ mới khi họ vừa thâm nhập vào thị trường này.
- Đầu tư nước ngoài nhằm tăng năng suất: Một công ty có nỗ lực muốn bán
sản phẩm ban đầu của mình tại các thị trường mới có thể làm tăng mức thu nhập
cổ phần của mình do tăng năng suất. Điều này làm giảm chi phí bình quân từng
đơn vị sản phẩm. Công ty càng sử dụng nhiều máy móc thiết bị thì khả năng này
càng có điều kiện thuận lợi để thực hiện.
- Sử dụng yếu tố nước ngoài trong sản xuất: Các chi phí sử dụng đất đai và
lao động có thể khác biệt nhau rất xa giữa các quốc gia. Các công ty đa quốc gia
thường cố gắng thiết lập việc sản xuất tại địa điểm có giá lao động và đất đai rẻ.
Do thị trường không hoàn hảo ở một số quốc gia chẳng hạn như do thông tin
không hoàn hảo, các chi phí giao dịch, di dời dân cư, các rào cản trong việc thâm
nhập vào một ngành công nghiệp v.v. làm cho chi phí lao động không nhất thiết
tương đương giữa các thị trường. Các công ty đa quốc gia thực hiện việc nghiên
cứu thị trường để xác định xem họ có thể thu được lợi nhuận không từ các chi phí
rẻ hơn khi sản xuất ở những thị trường đó
- Sử dụng nguyên vật liệu nước ngoài: Do các chi phí vận chuyển, một công
ty cố gắng tránh nhập khẩu nguyên vật liệu từ một đất nước khác, đặc biệt là khi
công ty dự tính sẽ bán thành phẩm ngược lại cho người tiêu dùng tại nước đó,
một giải pháp khả thi hơn là phát triển việc sản phẩm tại một nước mà nguyên vật
liệu có sẵn. Dù cho sản phẩm sản xuất ra sẽ được bán ở một nơi nào khác, quyết
định nhập khẩu nguyên vật liệu sẽ không phù hợp
- Sử dụng công nghệ nước ngoài: Các công ty đa quốc gia thiết lập ngày càng
nhiều các nhà máy ở nước ngoài hay mua lại các nhà máy hiện hữu của nước
8
9
quốc tế có thể làm ổn định nguồn tiền mặt của các công ty đa quốc gia lại tuỳ
thuộc vào tiềm năng của thị trường nước ngoài.
- Phản ứng với giá trị thay đổi của ngoại tệ: Khi một công ty cho rằng ngoại
tệ của một quốc gia nào đó bị giảm giá, công ty đó có thể tính đến khả năng đầu
tư trực tiếp vào đất nước đó. Do sự giảm giá ngoại tệ, mức phí tổn ban đầu có thể
khá thấp. Nếu đồng ngoại tệ đó mạnh lên theo thời gian, thu nhập được chuyển
về công ty mẹ sẽ tăng lên. Ví dụ vào những năm 1980, các công ty Nhật tăng
cường việc đầu tư trực tiếp vào Mỹ, Đài Loan, Hàn Quốc và vùng Đông Nam Á,
nguyên do một phần do đồng yên tăng mạnh và vào thời điểm đó, mức phí tổn
ban đầu tương đối thấp khi thiết lập các công ty con. Một nguyên nhân khác dẫn
đến việc đầu tư trực tiếp là nhằm bù đắp nhu cầu đang thay đổi cho việc xuất
khẩu của công ty do những dao động về tỷ giá hối đoái.
- Phản ứng với các kiềm hãm thương mại: Trong một số trường hợp, một
công ty đa quốc gia sử dụng việc đầu tư trực tiếp như là một chiến lược phòng
ngự hơn là tấn công. Ví dụ như nhà máy sản xuất ô tô của Nhật sẽ thành lập một
chi nhánh tại Mỹ do tiên đoán rằng việc xuất khẩu ô tô sang Mỹ sẽ chịu ảnh
hưởng bởi những hạn chế thương mại rất nghiêm ngặt. Các rào cản thương mại
tiềm ẩn có thể giới hạn hoặc ngăn cản việc xuất khẩu ô tô tại Nhật sang Mỹ và
đầu tư trực tiếp vào một công ty con của Nhật tại Mỹ được xem như một chính
sách phòng ngự tốt.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại những thuận lợi về mặt chính trị: Một
số công ty đa quốc gia đóng tại những nước có nền chính trị không ổn định đang
cố gắng phát triển sang những nước ổn định hơn. Mặt khác khi hoạt động của
một công ty đa quốc gia ngày càng mở rộng và đạt được những thành tựu nhất
định về kinh tế đó là cơ sở để có được những thuận lợi về mặt chính trị.
Hậu quả của đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Đối với các nước xuất khẩu vốn, việc chuyển vốn ra nước ngoài ồ ạtra nước
ngoài sẽ làm cho dự trữ ngoại hối bị thâm hụt, khả năng đầu tư cho phát triển
chi ngân sách của Mỹ
Tạo ra môi trường cạnh tranh để thúc đẩy sự phát triển kinh tế và thương
mại Mỹ
11
Giúp các nhà doanh nghiệp Mỹ học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của
Nhật
- Đối với các nước đang và chậm phát triển:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp các nước này đẩy mạnh tốc độ phát triển
nền kinh tế thông qua việc tạo ra những xí nghiệp mới hoặc tăng quy mô
của các đơn vị kinh tế.
Thu hút thêm lao động, giải quyết một phần nạn thất nghiệp ở nước này.
Theo thống kê của Liên hiệp quốc, số người thất nghiệp và bán thất nghiệp
của các nước chậm và đang phát triển khoảng 35 - 38% tổng số lao động,
cho nên hàng vạn công ty có vốn FDI hoạt động tại các nước đang phát
triển giúp các nước này giải quyết một phần nạn thất nghiệp. Ví dụ như
Trung Quốc tính đến tháng 9/2002 chỉ riêng lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước
ngoài, nhà nước đã phê chuẩn hơn 414.000 dự án với tổng số vốn đăng ký
là 813,66 tỷ USD, trong đó vốn đầu tư đã thực hiện là 434,78 tỷ USD, giải
quyết việc làm cho hàng triệu lao động Trung Quốc. Hay ở Việt Nam kể từ
khi có Luật Đầu tư nước ngoài tháng 12/1987 đến hết năm 2002 đã cấp giấy
phép cho 4582 dự án với tổng số vốn đăng ký 50,3 tỷ USD, giải quyết công
ăn việc làm cho gần 400.000 lao động [22, tr. 353]
Các dự án FDI cũng góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh, là động lực
kích thích nền kinh tế tăng trưởng về lượng cũng như về chất
Giúp các nước chậm phát triển giảm một phần nợ nước ngoài. Số nợ hiện
nay khoảng 1500 tỷ USD, giá trị tương đương khoảng 86.000 tấn vàng, núi
vàng này đang lớn dần lên do lãi mẹ đẻ lãi con và phải tiếp tục vay thêm để
đầu tư nhất. Thời gian này, Tây Âu thu hút đến 158 tỷ USD vốn đầu tư, trong đó
một nửa là vốn của Mỹ nhằm khôi phục lại Châu Âu bị tàn phá nặng nề sau chiến
tranh thế giới [21, tr.41]
Ngày nay, các nước công nghiệp phát triển vẫn là vùng thu hút vốn đầu tư
nhiều nhất: Năm 1999 các nước công nghiệp phát triển chiếm 76,5% tổng số vốn
13
đầu tư FDI của thế giới là 865 tỷ USD, trong khi đó các nước đang phát triển
chiếm 3/4 dân số chỉ chiếm 23,5% vốn đầu tư FDI khoảng 192 tỷ USD. Sang
năm 2000 có 200 tỷ USD vốn đầu tư vào các nước đang phát triển, trong khi đó
chỉ riêng Mỹ năm 2000 thu hút 200 tỷ USD vốn FDI (Năm 2001 Mỹ thu hút 124
tỷ USD, năm 2002 chỉ thu hút 44 tỷ USD do ảnh hưởng của sự kiện 11/9)
EU cũng là trung tâm thu hút vốn đầu tư FDI của thế giới: Năm 1998 thu hút
230 tỷ USD, năm 1999: 280 - 290 tỷ USD [21, tr.41]
Sở dĩ các nước công nghiệp phát triển là những nơi thu hút vốn đầu tư FDI
nhiều là do:
- Làn sóng hợp nhất, thôn tính các công ty diễn ra chủ yếu ở các nước công
nghiệp phát triển
- Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã làm tích tụ, tập trung các ngành công
nghiệp mũi nhọn ở các nước tư bản phát triển như ngành bán dẫn vi điện tử,
ngành công nghệ sinh học, sản xuất người máy v.v lợi nhuận siêu ngạch thu
được từ các ngành này đã tạo ra lực hấp dẫn đối với dòng đầu tư quốc tế
- Các nước công nghiệp phát triển được xem là những thị trường có khả năng
tiêu thụ và thanh toán lớn, địa điểm lý tưởng cho các nhà đầu tư phát triển
- Môi trường đầu tư ở các nước tư bản phát triển ổn định và hấp dẫn do: chế
độ chính trị ổn định, hệ thống luật pháp hoàn chỉnh điều tiết xã hội hữu hiệu,
thêm vào đó hạ tầng cơ sở hiện đại, lao động có trình độ kỹ thuật cao. Trong khi
đó, điều kiện chính trị và kinh tế ở các nước đang phát triển thiếu ổn định: đảo
đúng thị trường ngách để đầu tư.
1.1.4.3. Thay đổi trong lĩnh vực đầu tư
Đầu thế kỷ 20, các nước thường đầu tư ra nước ngoài hướng vào lĩnh vực
truyền thống, đó là các ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên, phát triển nông
nghiệp bằng cách đầu tư vào các đồn điền và các ngành chế biến nông sản.
Ngày nay lĩnh vực đầu tư đã thay đổi. Khi đầu tư vào các nước tư bản phát
triển thì các nước chủ đầu tư tham gia nhiều vào lĩnh vực dịch vụ, mà chủ yếu là
tập trung vào thương mại và tài chính, và những ngành kỹ thuật mới như: công
nghệ thông tin, thiết bị viễn thông, sản xuất ô tô, công nghệ sinh học Hoạt động