Tác động của quản trị công ty đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết ở việt nam - Pdf 35

13

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thông tin BCTC là một trong những kênh thông tin mà các công ty niêm yết
được yêu cầu cung cấp trên thị trường chứng khoán. Chất lượng thông tin trình bày
trên BCTC là yếu tố quyết định cho thị trường tài chính hiệu quả. Trong thị trường
chứng khoán, Công ty niêm yết là bên cung cấp thông tin, nhà đầu tư là đối tượng
chủ yếu tiếp nhận và sử dụng các thông tin này trong quá trình ra quyết định của
mình. Tuy nhiên, thông tin được trình bày và công bố như thế nào để đáp ứng được
nhu cầu người sử dụng vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa mong đợi và thực tế. Chất
lượng thông tin BCTC phụ thuộc vào chất lượng của quá trình tạo lập, trình bày và
công bố của các công ty niêm yết, quá trình này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố
bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp. Chính vì vậy, hiện nay trên thế giới và Việt
Nam, vấn đề này được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Hiện nay trên thế giới, khái niệm cũng như việc đo lường chất lượng thông tin
BCTC được các nhà nghiên cứu nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau. Hầu hết các
nghiên cứu đều đo lường chất lượng BCTC một các gián tiếp thông qua các hành vi
như: quản trị lợi nhuận (Earning Managenent), công bố lại BCTC (Financial
Restatement), hành vi gian lận BCTC (Financial Statement Fraud) (Schipper và
Vincent, 2003; Cohen, 2004). Tuy nhiên, chất lượng thông tin BCTC ở đây chỉ xem
xét chủ yếu ở góc độ các thông tin tài chính. Thông tin BCTC hiện nay không chỉ
dừng ở những thông tin trên BCTC theo ý nghĩa truyền thống, mà nó được hiểu
theo khái niệm rộng hơn. Bên cạnh các thông tin tài chính, nhằm hướng đến sự hữu
ích cho quá trình ra quyết định của người sử dụng thông tin BCTC, đặc biệt là các
đối tượng bên ngoài doanh nghiệp (đa phần trong số họ là các nhà đầu tư và các nhà
phân tích), thông tin BCTC còn phải cung cấp những thông tin phi tài chính như:
báo cáo và phân tích của nhà quản lý, báo cáo kiểm toán và các báo cáo khác (Ferdy
van Beest, 2009). Mặt khác, ngoài những công bố bắt buộc, doanh nghiệp cần công
bố những thông tin tự nguyện (Popa Adina, 2008).


QTCT có tác động đến chất lượng thông tin BCTC và mức độ ảnh hưởng của chúng
được đánh giá như thế nào?


15

Theo sự hiểu biết của tác giả, tại Việt Nam có rất ít các nghiên cứu đo lường
chất lượng thông tin BCTC cũng như đánh giá về sự tác động của QTCT đến chất
lượng thông tin BCTC một cách toàn diện. Xuất phát từ khoảng trống trong nghiên
cứu lý thuyết và nhu cầu thực tế, nên luận án chọn đề tài: “Tác động của QTCT
đến chất lượng thông tin BCTC tại các công ty niêm yết ở Việt Nam”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là tập trung vào nghiên cứu sự tác động của
các đặc tính QTCT với chất lượng thông tin BCTC của công ty niêm yết tại Việt
Nam, qua đó luận án đưa ra những kiến nghị tăng cường QTCT nhằm nâng cao chất
lượng thông tin BCTC để đáp ứng tốt nhất nhu cầu thông tin ngày càng cao của các
nhà đầu tư. Cụ thể, luận án thực hiện nhằm đạt đến ba mục tiêu:
-

Thứ nhất: xác định các thuộc tính đo lường chất lượng thông tin BCTC
các công ty niêm yết tại Việt nam.

-

Thứ hai: xác định các yếu tố QTCT tác động đến chất lượng thông tin
BCTC.

-

Thứ ba: đánh giá thực trạng chất lượng thông tin BCTC và sự tác động

Phương pháp nghiên cứu của luận án là phương pháp hỗn hợp gắn kết và giải
thích, bao gồm phương pháp định tính và định lượng.
Phương pháp định tính: được sử dụng hai bước. Bước 1, luận án phỏng vấn
chuyên gia nhằm khẳng định sự cần thiết các thang đo chất lượng thông tin BCTC
phù hợp với môi trường Việt Nam. Bước 2, luận án phỏng vấn các chuyên gia về
QTCT nhằm giải thích kết quả khi phân tích hồi quy tương quan giữa các biến
QTCT và chất lượng thông tin BCTC.
Phương pháp định lượng: thực hiện bằng cách khảo sát chất lượng thông tin
BCTC các công ty niêm yết Việt Nam thông qua các thang đo đặc tính chất lượng.
Ngoài ra, luận án sử dụng phương pháp thông kê và mô hình hồi quy để đánh giá sự
tác động các yếu tố QTCT lên chất lượng thông tin BCTC.
6. Những đóng góp mới của luận án
Xem xét và đối chiếu với các nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà khoa
học trước đây, luận án đã đóng góp mới những vấn đề sau đây:
- Tác giả đã hệ thống hóa lý thuyết chất lượng thông tin BCTC và QTCT từ
những nghiên cứu trước đây trên thế giới và Việt Nam. Nội dung này bao gồm việc
hệ thống hóa nền tảng lý thuyết chất lượng thông tin BCTC và sự tác động của


17

QTCT đến chất lượng thông tin BCTC. Việc tổng hợp này giúp các nhà nghiên cứu
tiếp theo tiếp cận lý thuyết chất lượng thông tin BCTC và QTCT một cách có hệ
thống và dễ dàng hơn.
- Về phương diện phương pháp nghiên cứu, luận án đã xây dựng các thang
đo được kiểm định sự phù hợp cũng như độ tin cậy và giá trị của chúng, từ đó đo
lường chất lượng thông tin BCTC hướng đến sự hữu ích đối với người sử dụng
thông tin BCTC để ra quyết định kinh tế. Điều này giúp cho các nhà nghiên cứu hàn
lâm tại Việt Nam có những nghiên cứu tiếp theo sử dụng, điều chỉnh và bổ sung để
từng bước có bộ thang đo có giá trị và độ tin cậy cao, giúp cho việc đánh giá chất

sự minh bạch, quản trị lợi nhuận, công bố lại BCTC, gian lận BCTC, công bố thông
tin bao gồm thông tin bắt buộc và tự nguyện.
- Góc độ QTCT: các nghiên cứu tập trung vào cơ cấu cũng như các thuộc
tính liên quan đến HĐQT, Ban điều hành, UBKT, KTNB, Kiểm toán độc lập.
1.1 Các nghiên cứu công bố trong nước (Phụ lục 1)
1.1.1 Chất lượng thông tin BCTC
Thông tin BCTC là kết quả của quá trình lập, trình bày và công bố. Hầu hết
các nghiên cứu trong nước tập trung vào các khía cạnh khác nhau của thông tin
BCTC theo nghĩa truyền thống.Vì vậy, luận án sẽ xem xét các nghiên cứu trong
nước theo từng hoạt động của quá trình này.
1.1.1.1 Quá trình tạo lập thông tin BCTC
Quá trình tạo lập thông tin BCTC có thể tóm tắt từ việc ghi nhận các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh thông qua hệ thống xử lý nghiệp vụ của hệ thống kế toán, đảm
bảo các nghiệp vụ ghi nhận phù hợp với các chuẩn mực kế toán hiện hành. Như
vậy, thông tin BCTC có chất lượng phụ thuộc vào chất lượng của hệ thống xử lý
thông tin kế toán và chất lượng của chuẩn mực kế toán ban hành. Các tác giả trong
nước nghiên cứu đến quá trình tạo lập tiêu biểu có công trình như sau:
Nguyễn Phúc Sinh (2008), trong luận án Tiến sĩ, bằng phương pháp nghiên
cứu chủ yếu là tổng hợp, phân tích, so sánh, tác giả trình bày nền tảng, lý thuyết và
thực tiễn quan điểm về tính hữu ích của BCTC của quốc tế và Việt nam để phân tích


19

đánh giá thực trạng cung cấp thông tin hữu ích cả BCTC doanh nghiệp Việt Nam,
từ đó tác giả xây dựng và đề xuất các quan điểm và kiến nghị nhằm chuẩn hóa
BCTC hiện hành (gồm 4 mẫu theo quy định) mà Bộ tài chính ban hành.
Võ Văn Nhị và các cộng sự (2011), trong nghiên cứu đề tài cấp bộ, tác giả sử
dụng phương pháp nghiên cứu: phương pháp hệ thống, so sánh – đối chiếu, tổng
hợp, phân tích và tiếp cận mục tiêu đã đánh giá thực trạng các quy định pháp lý liên

này. Từ đó tác giả kết luận, vấn đề trình bày và công bố thông tin BCTC của các
công ty niêm yết chưa thật sự hữu ích đối với các nhà đầu tư như: thiếu thông tin,
việc tính toán các số liệu tài chính khó khăn, tiếp cận thông tin khó khăn và công bố
chưa kịp thời. Thông qua những yếu kém đã phân tích, tác giả đề xuất nhằm hoàn
thiện việc trình bày và công bố thông tin BCTC của các công ty niêm yết tại
SGDCK TPHCM.
Lê Thị Tú Oanh (2012), trong luận án tiến sĩ, tác giả bằng phương pháp phân
tích, tổng hợp qua khảo sát và xem xét 40 Báo cáo thường niên của các công ty
niêm yết tại Việt nam, cùng với các đánh giá từ phía người sử dụng là các nhà đầu
tư, các chuyên gia và từ phía doanh nghiệp là người lập Báo cáo thường niên nhằm
đánh giá những ưu, nhược điểm của báo cáo thường niên mà các công ty niêm yết
tại Việt nam đang thực hiện. Trên cơ sở đó, luận án đã đề ra những kiến nghị liên
quan nhằm chuẩn hóa báo cáo thường niên như: hình thức, nội dung báo cáo; số
lượng báo cáo bộ phận, thời gian và cách thức công bố. Tác giả đã đề xuất mẫu Báo
cáo thường niên nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch, rõ ràng, dễ hiểu, đầy đủ
và kịp thời trong công bố thông tin.
Nguyễn Đình Hùng (2010), trong luận án Tiến sĩ, tác giả xác định sự minh
bạch thông tin tài chính có thể xem là sự sẵn có của các thông tin tài chính cho
người sử dụng và nó được thể hiện qua các đặc tính: sự kịp thời, sự thuận tiện, sự
chính xác, sự đầy đủ và sự nhất quán. Tác giả xác định 6 yếu tố kiểm soát sự minh
bạch: Hệ thống chuẩn mực kế toán, quy định liên quan đến công bố báo cáo tài
chính, Hệ thống kiểm soát nội bộ, Ban Giám đốc, Kiểm toán độc lập và Ban kiểm
soát. Từ việc khảo sát sự tác động 6 yếu tố này đến các đặc tính của sự minh bạch


21

các công ty niêm yết tại Việt nam, tác giả đưa ra những kiến nghị liên quan đến 6
yếu tố để tăng cường sự minh bạch thông tin tài chính các công ty niêm yết tại Việt
nam.

đầu đang niêm yết trên 2 Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam cho thấy QTCT tại
Việt Nam đạt kết quả thấp, tác giả đã phân tích và đưa ra những nguyên nhân của
tình trạng trên, chủ yếu là tính độc lập của HĐQT thấp, từ đó tác giả đề xuất những
giải pháp nhằm nâng cao tính độc lập của HĐQT.
Năm 2009, tác giả Võ Văn Nhị và Nguyễn Đình Hùng trong bài viết “Quản
trị công ty và sự minh bạch thông tin tài chính của công ty niêm yết” đã tóm tắt
những nghiên cứu về sự tác động của QTCT và tính minh bạch của thông tin tài
chính, từ đó tác giả đưa ra mô hình lý thuyết về mối tương quan giữa QTCT và sự
minh bạch thông tin tài chính. Bên cạnh đó, tác giả đã phân tích thực trạng những
tồn tại về QTCT tại Việt Nam như: QTCT chưa thực hiện đồng bộ giữa các doanh
nghiệp, thông tin thiếu tính minh bạch, từ đó tác giả đã đề xuất nhưng giải pháp
nhằm tăng cường hiệu quả QTCT của các công ty niêm yết.
1.2 Các nghiên cứu công bố ở ngoài nước (Phụ lục 2)
Nhận thức được tầm quan trọng của việc giám sát và kiểm soát các hoạt động
của công ty, đặc biệt vai trò QTCT trong việc lập và trình bày thông tin BCTC, nhất
là từ sau sự sụp đổ nhiều công ty lớn trên thế giới xuất phát từ gian lận BCTC đầu
thế kỷ 21, các nhà nghiên cứu trên thế giới ở nhiều góc độ khác nhau đã tìm những
bằng chứng cho thấy sự tác động của QTCT đến chất lượng thông tin BCTC, điển
hình những khuynh hướng nghiên cứu liên quan chất lượng thông tin BCTC và
QTCT được liệt kê theo phụ lục 02. Dưới đây, luận án trình bày theo nhóm nội
dung, cụ thể như sau:
1.2.1 Chất lượng thông tin BCTC
Quản trị lợi nhuận (Earning Management)
Quản trị lợi nhuận là một kế hoạch được sử dụng bởi Ban điều hành của
công ty nhằm tác động đến lợi nhuận để đưa ra con số lợi nhuận đáp ứng được mục
tiêu đã xác định trước đó. Quản trị lợi nhuận theo hai hướng hoặc tăng lợi nhuận
hoặc giảm lợi nhuận (Miettinen. J, 2008). Mục tiêu này có thể liên quan đến các
khoản khuyến khích vật chất cho nhà quản lý hoặc cũng có thể đảm bảo điều khoản



quan hệ với các yếu tố QTCT. Tác giả đã phát hiện những gian lận chủ yếu trong


24

BCTC: Giao dịch giả: có 52 công ty, chiếm 60% mẫu nghiên cứu; Sự khác biệt về
thời gian giữa doanh thu và chi phí có 31 công ty, chiếm 36% mẫu nghiên cứu; Các
gian lận khác: 04 công ty, chiếm 4% mẫu nghiên cứu.
- Nadia Smaili, Réal Labelle (2009) xem xét BCTC của 107 công ty tại
Canada trong vấn đề không tuân thủ theo 14 yêu cầu của Ủy ban chứng khoán
Otario (OSC).
Công bố bắt buộc (Mandatory Disclosure)
Công bố bắt buộc thường liên quan đến thông tin tài chính, Theo Ali, Ahmed
và Henry (2004) cho rằng những đất nước thuộc nền kinh tế mới nổi muốn gia tăng
nguồn vốn từ nước ngoài cần phải tăng cường cải thiện chất lượng BCTC của doanh
nghiệp. Trong nghiên cứu, tác giả tập trung xem xét việc tuân thủ vào 14 chuẩn mực
kế toán (hầu hết tương đồng với IAS) ở Ấn độ, Pakistan và Bangladesh với số lượng
mẫu là 566 của 3 quốc gia. Các chuẩn mực được lựa chọn liên quan đến các nội
dung thông tin đến nhà đầu tư về “chất lượng báo cáo của những quốc gia này”. Họ
sử dụng danh mục công bố bắt buộc gồm 131 nội dung theo yêu cầu của 14 chuẩn
mực kế toán nói trên để đo lường sự tuân thủ. Phát hiện của nhóm tác giả trong
nghiên cứu này cho thấy: cả 3 quốc gia mức độ tuân thủ cao trong các nội dung về
khấu hao, hàng tồn kho, tài sản cố định. Trong 3 quốc gia thì Pakistan là quốc gia
được đánh giá là nước có mức độ tuân thủ cao nhất. Ngoài ra tác giả còn cho thấy
các biến độc lập như: quy mô công ty, những công ty đa quốc gia và khả năng sinh
lời có quan hệ tích cực với mức độ công bố bắt buộc, trong khi đó đòn bẩy tài chính
và công ty kiểm toán độc lập không có liên quan gì đến mức độ công bố. Điều đáng
chú ý là họ đã phát hiện mức độ tuân thủ công bố cao những yếu tố bắt buộc công
bố theo Luật doanh nghiệp của mỗi quốc gia bên cạnh các chuẩn mực kế toán quốc
tế.

của thông tin BCTC bao gồm: (a) so sánh các số liệu kế toán với chuẩn mực kế
toán, (b) xem xét vấn đề công bố lại các thông tin kế toán, (c) so sánh các ước tính
kế toán và nhận biết dòng tiền trong tương lai, (d) thông qua việc sử dụng các thông
tin kế toán để nhận biết sự đáng tin cậy của những thông tin này. Mục đích của


26

nghiên cứu này nhằm giúp cho các nhà xây dựng chuẩn mực, người sử dụng xác
định những thuộc tính góp phần tăng độ “đáng tin cậy” của thông tin BCTC.
- Davood Khodadady (2012) nghiên cứu về đặc tính “sự thích hợp”
(relevance) thông tin BCTC của 49 ngân hàng tại Ấn độ, bao gồm 27 ngân hàng
thuộc sở hữu nhà nước và 22 ngân hàng tư nhân. Tác giả sử dụng thang đo Likert 5
điểm để đo lường danh mục gồm 14 thuộc tính có ảnh hưởng đến sự thích hợp của
thông tin BCTC, trong đó 10 thuộc tính liên quan giá trị dự báo và 4 thuộc tính liên
quan đến giá trị xác nhận. Kết luận của tác giả là thông tin BCTC của các ngân hàng
tư nhân thích hợp hơn thông tin BCTC của ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước.
- Khác với những nghiên cứu các đặc tính chất lượng riêng lẻ của thông tin
BCTC nêu trên, nhóm tác giả khác nghiên cứu chất lượng thông tin BCTC thông
qua việc đo lường các đặc tính dựa trên quan điểm của FASB và IASB. Phương
pháp chủ yếu của xu hướng này là đo lường trên cơ sở các khái niệm (conceptuallybased).
Nghiên cứu đầu tiên có thể kể đến là của Jonas and Blanchet (2000), trong
nghiên cứu của mình tác giả xây dựng các thuộc tính để tạo nên 11 đặc tính chất
lượng thông tin BCTC theo FASB. Từ nghiên cứu của Jonas and Blanchet (2000),
Ferdy van Beest, Geert Braam (2009 và 2013) phát triển nghiên cứu của mình để đo
lường chất lượng BCTC của Anh và Mỹ bằng phương pháp “hoạt động hóa”
(operationalize) các đặc tính chất lượng để đánh giá những thông tin tài chính và phi
tài chính nhằm xác định tính hữu ích của chúng. Trong nghiên cứu 2009, tác giả xây
dựng 21 thuộc tính cho 5 đặc tính chất lượng của FASB và IASB (2008) là: hai đặc
tính cơ bản: sự thích hợp, trình bày trung thực và ba đặc tính bổ sung: có thể so sánh

lập đóng vai trò hiệu quả nhất trong việc giám sát (Fama and Jensen, 1983) bởi vì
nếu không có BCTC đáng tin cậy, hình ảnh các thành viên độc lập sẽ bị đánh giá
thấp trước công chúng đồng thời nó sẽ làm giảm nhu cầu giám sát của họ (Ahmed
và các cộng sự, 2006). Trong khi đó, hiệu quả của UBKT chỉ có thể được đánh giá
cao khi bảo vệ được lợi ích cho cổ đông bằng việc đảm bảo rằng BCTC là trung
thực (DeZoort và các cộng sự, 2002). Ngoài ra, UBKT còn cần phải cải tiến sự
giám sát BCTC và kiểm soát nội bộ (Sori và các cộng sự, 2007).


28

Kiểm toán nội bộ là chức năng hổ trợ trực tiếp cho HĐQT và UBKT, việc
hình thành chức này tùy thuộc vào nhu cầu quản lý của doanh nghiệp mà không
theo yêu cầu pháp lý. Nhiệm vụ chính của KTNB có liên quan đến BCTC là kiểm
tra thông tin BCTC trước khi công bố ra bên ngoài. Quan trọng hơn, thông qua đó
KTNB đánh giá tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ liên quan đến quá trình
lập BCTC, từ đó đề xuất những biện pháp cải tiến.
Như ở phần mở đầu đã trình bày, luận án chỉ tập trung vào những yếu tố bên
trong của QTCT bao gồm: HĐQT, UBKT và KTNB.
1.2.2.1 Hội đồng quản trị
Norwani N.M và các cộng sự (2011) cho rằng mối quan hệ giữa QTCT và
BCTC là không thể phủ nhận. Sự trung thực của BCTC phụ thuộc rất nhiều vào
QTCT. Nói một cách khác, HĐQT chịu trách nhiệm trong vấn đề giám sát quá trình
lập BCTC của doanh nghiệp (Yatim. P và các cộng sự, 2006).
Khi nghiên cứu về sự tương quan giữa chất lượng thông tin BCTC và cơ cấu
HĐQT, các nghiên cứu phần lớn tập trung vào các đặc tính như: Quy mô HĐQT;
Tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT; Tỷ lệ thành viên HĐQT có chuyên môn về
kế toán tài chính; Sự kiêm nhiệm hai chức danh Tổng giám đốc và Chủ tịch HĐQT;
Tần suất cuộc họp của HĐQT…
Quy mô HĐQT

BCTC (David B. Farber, 2004; Nadia Smaili, Réal Labelle, 2009). Kết luận của
Ebraheem Saleem Salem Alzoubi (2012) khi nghiên cứu các công ty tại Jordanian
cho thấy sự độc lập của HĐQT có tác động tích cực đến hành vi quản trị lợi nhuận.
Kết quả này tương tự nghiên cứu của Moradi.M và các cộng sự (2012) khi xem xét
159 công ty niêm yết Sở giao dịch chứng khoán Tehran (Iran) trong giai đoạn 4 năm
2006-2009. Với góc độ nghiên cứu sự tác động của QTCT và công bố lại BCTC,
Sandeep Nabar và các cộng sự (2007) đã phát hiện những công ty có công bố lại
BCTC thì tỷ lệ thành viên độc lập thấp trong HĐQT và UBKT. Tuy nhiên, nghiên
cứu của Anup Agrawal và Sahiba Chadha (2004) lại cho thấy kết quả khác khi xem
xét 159 Cty niêm yết tại Mỹ đã đưa ra kết luận không có sự tương quan nào giữa
tính độc lập của HĐQT và hành vi công bố lại BCTC. Kết quả này cũng tương tự
với M. Awais Gulzar (2011), không thấy sự tương quan giữa tỷ lệ thành viên
HĐQT độc lập với quản trị lợi nhuận ở các công ty niêm yết tại Trung Quốc. Tuy


30

nhiên, khác với những nghiên cứu trên, theo nghiên cứu của Srinivasan (2004) có
kết luận khi đưa ra bằng chứng các thành viên HĐQT độc lập có dính líu về những
gian lận được phát hiện có liên quan về thông tin tài chính mà công ty công bố.
Mặc dù có những ý kiến khác nhau về tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT
với các hành vi liên quan đến thông tin tài chính, thì hầu hết các nghiên cứu về sự
tương quan thuộc tính này với chất lượng công bố tự nguyện đều cho thấy nó có tác
động tích cực. Cheng và Courtenay (2006) với nghiên cứu của mình trên 104 cty
niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Singapore tại thời điểm năm 2000 đã kết
luận tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT càng cao thì mức độ công bố tự nguyện
càng cao. Kết luận này tương tự với nghiên cứu của Jason Zezhong Xiao, He Yang,
Chee W. Chow (2004) về 300 công ty lớn năm 2001 tại Trung Quốc về công bố tự
nguyện trên internet. Đáng chú ý, theo Eugene C.M. Cheng, Stephen M. Courtenay
(2006) số lượng thành viên HĐQT độc lập nhiều hơn trong HĐQT, đặc biệt số

vọng như trên, thế giới có nhiều nghiên cứu về thuộc tính này. Mặc dù có số ít ý
kiến trái chiều, nhưng hầu hết đều cho thấy sự hiện diện các thành viên có chuyên
môn kế toán tài chính trong HĐQT, đặc biệt các thành viên HĐQT độc lập sẽ góp
phần nâng cao chất lượng thông tin BCTC. Điển hình có các nghiên cứu: Ebraheem
Saleem Salem Alzoubi (2012); Xie.B và các cộng sự (2001), kết luận rằng số lượng
thành viên HĐQT có chuyên môn trong HĐQT thì có quan hệ nghịch với mức độ
quản trị lợi nhuận. Ngoài ra, nghiên cứu của Anup Agrawal và Sahiba Chadha
(2004) cho rằng sự hiện diện các thành viên HĐQT độc lập có chuyên môn kế toán
tài chính giúp HĐQT giám sát tốt hơn quy trình lập BCTC từ đó giảm hành vi công
bố lại BCTC. Bên cạnh đó, Sandeep Nabar và các cộng sự (2007) khi nghiên cứu
187 công ty tại Mỹ đã phát hiện rằng những doanh nghiệp có sự thay đổi Giám đốc
tài chính (CFO) có kinh nghiệm thì mức độ công bố lại BCTC nhiều. Trong khi đó,
Wan Adibah Wan Ismail và các cộng sự (2010) nghiên cứu 400 công ty niêm yết tại
Malaysia đã không tìm thấy bằng chứng nào có sự liên quan giữa thành viên có
chuyên môn và hành vi quản trị lợi nhuận.
Tần suất cuộc họp của HĐQT
Tần suất cuộc họp HĐQT thể hiện số lần tổ chức cuộc họp của HĐQT trong
một đơn vị thời gian nào đó, thường là một năm. Tần suất cuộc họp càng cao giúp
cho các thành viên HĐQT có nhiều thời gian thảo luận về những vấn đề kế hoạch


32

và giám sát Ban điều hành. Theo Xie.B và các cộng sự (2001) cho rằng HĐQT có
nhiều cuộc họp sẽ giúp các thành viên sẽ có nhiều thời gian xem xét hành vi quản trị
lợi nhuận. Trong nghiên cứu của mình tác giả đã phát hiện những công ty mà
HĐQT có nhiều cuộc họp thì có quan hệ tích cực trong việc giảm hành vi quản trị
lợi nhuận. Gulzar M.A (2011), nghiên cứu 1001 Cty niêm yết Sở giao dịch chứng
khoán Thượng Hải và Thẩm quyến Trung quốc trong giai đoạn 2002-2006 cũng có
kết quả tương tự.

môn về kế toán tài chính của các thành viên UBKT. Theo DeZoort và các cộng sự
(2002) cho rằng sự hiệu quả của UBKT phụ thuộc rất nhiều vào tính độc lập và kiến
thức chuyên môn của các thành viên UBKT. Mặc dù có ý kiến trái chiều, nhưng hầu
hết các nghiên cứu đều cho thấy sự độc lập và kiến thức chuyên môn của các thành
viên trong UBKT đều các tác động tích cực với các khía cạnh chất lượng thông tin
BCTC. Rusmin (2011), nghiên cứu 96 công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng
khoán Indonesia, Wan Nordin Wan-Hussin (2009), xem xét 68 công ty niêm yết tại
Malaysia cho rằng tỷ lệ các thành viên độc lập trong UBKT có quan hệ ngược chiều
với quản trị lợi nhuận. Tương tự, Ryan Davidsona (2005); Abbott.L, Parker Susan,
Peter.F (2004), phát hiện những công ty có tỷ lệ các thành viên độc lập và ít nhất có
một thành viên có kiến thức chuyên môn trong UBKT cao thì ít xảy ra việc công bố
lại BCTC. Kết quả nghiên cứu của Anup Agrawal và Sahiba Chadha (2004),
Sandeep Nabar và các cộng sự (2007) đều có kết quả tương tự.
Bên cạnh đó, nghiên cứu của Yan Zhang, Jian Zhou, Nan Zhou (2006) về 208
công ty Mỹ, với biến phụ thuộc là kiểm soát nội bộ về BCTC, tác giả cho rằng hệ
thống kiểm soát nội bộ yếu khi trong UBKT có ít chuyên gia về kế toán và tài
chính. Theo Andrew J. Felo và các cộng sự (2003) xem xét 77 công ty niêm yết tại
Mỹ về sự tương quan giữa chất lượng BCTC thông qua việc sử dụng điểm số AIMR
(The Association for Investment Management and Research), tác giả đã kết luận
kiến thức chuyên môn về kế toán tài chính của thành viên UBKT có quan hệ thuận
với chất lượng BCTC. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của mình tác giả cho thấy
không có sự tương quan giữa các thành viên độc lập trong UBKT với chất lượng
BCTC.
1.2.2.3 Kiểm toán nội bộ


34

KTNB cũng đóng vai trò quan trọng trong QTCT. KTNB giữ vai trò quan sát
viên độc lập nhằm đảm bảo hoạt động của công ty tuân thủ các quy định pháp luật

nhiều góc độ khác nhau, mang tính chất riêng lẻ như các thông tin tài chính và
thông tin công bố bắt buộc cũng như tự nguyện. Từ đó việc đo lường chất lượng
thông tin BCTC chỉ ở mức độ các thông tin tài chính và mức độ công bố, chưa phản
ánh được chất lượng thông tin BCTC toàn diện theo hướng tính hữu ích của thông
tin nhằm giúp người sử dụng thông tin BCTC ra quyết định.
- Các nghiên cứu trong nước cho thấy chưa có công trình đánh giá chất lượng
các thông tin BCTC dựa trên các đặc tính chất lượng của FASB và IASB với mẫu
nghiên cứu lớn, theo hướng hữu ích cho người sử dụng. Hầu hết các nghiên cứu
trong nước sử dụng phương pháp định tính, ở nhiều góc độ khác nhau xem xét ở hai
góc độ là hoàn thiện quy trình kế toán và chuẩn mực kế toán Việt Nam theo hướng
hội nhập chuẩn mực kế toán quốc tế. Trong khi đó, phương pháp đo lường chất
lượng thông tin BCTC của Ferdy van Bees, Geert Braam theo tác giả được xem là
phương pháp đo lường toàn diện hơn và hướng vào tính hữu ích của thông tin. Tuy
nhiên, việc đo lường này được thực hiện ở các nước phát triển. Vì vậy, đối với Việt
nam là nước đang phát triển do đó còn khoảng trống để nghiên cứu.
- Các nghiên cứu về QTCT được sự quan tâm rất lớn của nhiều nhà nghiên
cứu trên thế giới và chủ yếu bằng nghiên cứu thực nghiệm. Các nghiên cứu trên thế
giới đã khám phá và giải thích khá đầy đủ về sự tác động của QTCT đến chất lượng
thông tin BCTC. Mặc dù có những ý kiến trái chiều do sự ảnh hưởng môi trường
kinh tế, chính trị văn hóa của từng quốc gia, nhưng qua các nghiên cứu này cho thấy
bằng chứng về sự ảnh hưởng của các yếu tố QTCT đến chất lượng thông tin BCTC.
Tuy nhiên, các tác giả chỉ nghiên cứu sự tác động của QTCT đến các khía cạnh
riêng lẻ của chất lượng thông tin BCTC như: quản trị lợi nhuận, công bố lại BCTC,
gian lận BCTC, công bố tự nguyện, công bố bắt buộc…. Riêng tại Việt Nam, chưa
có công trình nghiên cứu chính thống về sự tác động của QTCT đến chất lượng
thông tin BCTC.
1.3.2 Xác định khoảng trống nghiên cứu


36


37

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN BCTC
VÀ QTCT
Nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu, nội dung chương 2 của luận án trình
bày các lý thuyết nền tảng có liên quan đến QTCT và thông tin BCTC, cụ thể trong
chương này sẽ trình bày những nội dung sau:
- Luận án trình bày lý thuyết nền, bao gồm 4 lý thuyết: lý thuyết thông tin hữu
ích, lý thuyết thông tin bất cân xứng, lý thuyết ủy nhiệm và lý thuyết hành vi trong
quản lý. Lý thuyết thông tin hữu ích nhấn mạnh doanh nghiệp cần cung cấp thông
tin thật sự hữu ích cho người sử dụng ra quyết định. Lý thuyết nền thứ hai là lý
thuyết thông tin bất cân xứng. Theo lý thuyết này, từ sự xung đột lợi ích trong lý
thuyết ủy nhiệm, hình thành nên sự thông tin bất cân xứng giữa công ty cổ phần và
nhà đầu tư, mà ở đó Ban lãnh đạo công ty là người chịu trách nhiệm trong việc lập
và công bố thông tin. Lý thuyết này cũng đưa ra những giải pháp lý thuyết nhằm
giảm thiểu tình trạng bất cân xứng thông tin. Lý thuyết ủy nhiệm giải thích cơ cấu
trong công ty cổ phần, mà ở đó có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý,
từ đó gây ra xung đột lợi ích giữa hai bên ủy nhiệm và nhận ủy nhiệm. Cuối cùng là
lý thuyết hành vi trong quản lý, lý thuyết này quan tâm đến hành vi lập và công bố
thông tin, do xung đột lợi ích, nên nhà quản lý luôn có xu hướng có những hành vi
không tích cực trong quá trình lập và công bố thông tin, qua đó doanh nghiệp cần
thiết lập cơ cấu nhằm giám sát hiệu quả những hành vi này. Để giảm thiểu sự xung
đột này, một cơ chế được hình thành đó là QTCT nhằm giám sát các hoạt động của
Nhà quản lý trong công ty cổ phần. Với các lý thuyết này sẽ làm rõ mối tương quan
giữa QTCT và chất lượng thông tin BCTC.
- Bên cạnh đó, luận án trình bày các khái niệm liên quan đến chất lượng thông
tin BCTC trong phạm vi nghiên cứu, qua đó làm tiền đề để đánh giá chất lượng
thông tin BCTC thông qua việc xây dựng thang đo trong chương 3. Ngoài ra, luận
án trình bày các khái niệm, nguồn gốc về QTCT và cơ cấu QTCT mà luận án


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status