Hoàn thiện hệ thống kế toán thu chi ngân sách nhà nước ở việt nam - Pdf 35

[i]

LỜI MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ - Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU
Trong bất kỳ giai đoạn lịch sử hay tại bất kỳ quốc gia nào, nhà nước muốn vận
hành quốc gia của mình đi theo đúng những kế hoạch, chiến lược đã đề ra thì đều
cần đến những nguồn lực khác nhau, và một trong những nguồn lực đó chính là
ngân sách nhà nước. Thật vậy, ngân sách nhà nước là nơi tập trung quỹ tiền tệ lớn
nhất của một nước và được xem là công cụ điều chỉnh mang tính vĩ mô đối với nền
kinh tế xã hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường và giúp bình ổn
giá cả. Với vai trò quan trọng như trên, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng
chung so với thế giới, đó chính là chính phủ cũng cần có những biện pháp hữu
hiệu trong quá trình thu và chi các khoản từ nguồn ngân sách nhà nước. Để thực
hiện được điều này, nhà nước đã sử dụng một công cụ dùng để phản ánh, ghi chép
các nghiệp vụ phát sinh, đó là hệ thống kế toán thu, chi ngân sách nhà nước. Thông
qua chế độ kế toán này, nhà nước có thể nhìn lại những hoạt động đã phát sinh
trong quá khứ để từ đó đưa ra các quyết định kinh tế trong tương lai.
Trong những năm qua, Việt Nam đã có những kết quả khá khả quan trong việc thu,
chi ngân sách, giúp đảm bảo tạo nguồn thu đầy đủ và thực hiện chi các khoản theo
đúng các kế hoạch vĩ mô đã được phê duyệt. Bên cạnh những điểm đã đạt được,
việc thu, chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam cũng đang gặp phải một số khó khăn,
thách thức cũng như tồn tại. Có thể lấy ví dụ như việc thu ngân sách hiện còn thất
thu ở một số khâu, ở một số lĩnh vực, trên một vài sắc thuế, thêm vào đó có các
khoản chi trong đơn vị còn bị lãng phí, thất thoát. Nguyên nhân của hiện tượng này
có thể một phần lớn là do việc quản lý ngân sách của chính phủ còn nhiều hạn chế,
chưa có đầy đủ thông tin để quản trị tài chính khu vực công, đặc biệt là việc áp
dụng chế độ kế toán thu, chi ngân sách chưa thật sự hữu hiệu vì hiện nay việc ghi
nhận thu, chi từ ngân sách còn do nhiều cơ quan thực hiện cùng lúc. Hơn nữa, mỗi
cơ quan có mục đích, phương pháp, đối tượng và nội dung hạch toán, chỉ tiêu báo
cáo ngân sách khác nhau. Hệ quả là các số liệu thu, chi ngân sách hạch toán tại các


hóa và các thông tin tài chính, kế toán phải chính xác, minh bạch đối với các hoạt
động chi tiêu và đầu tư của nhà nước, mặt khác phải có những nét đặc thù của hệ
thống tài chính ngân sách Việt Nam. Do đó, việc vận dụng chuẩn mực kế toán


[iii]

quốc tế sẽ mang lại nhiều lợi ích như nâng cao tính toàn diện, công khai và minh
bạch của báo cáo tài chính; nâng cao chất lượng và tính so sánh giữa các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công cũng như tính nhất quán trong việc lập và
báo cáo các thông tin tài chính, góp phần cơ bản trong việc hạn chế những tiêu cực
trong quá trình quản lý ngân sách. Hơn thế nữa, việc nhận thức sự khác biệt giữa
hai hệ thống chuẩn mực, hiểu rõ thực trạng cũng như các vấn đề đặc thù tại Việt
Nam và việc tiếp cận theo hướng quốc tế sẽ giúp Việt Nam hài hòa hơn với thông
lệ phổ biến của quốc tế.
Với ý nghĩa và tầm quan trọng trong việc cải cách hệ thống kế toán thu, chi ngân
sách nhà nước một phần giúp tạo ra nguồn thông tin đầy đủ, hiệu quả, một phần cầ
phải hài hòa dần theo định hướng chung của thế giới nên việc điểu chỉnh kế toán
thu, chi ngân sách tại Việt Nam theo hướng chuẩn mực kế toán công quốc tế được
xem là một việc làm tất yếu hiện nay. Do những nguyên nhân này nên tác giả đã
lựa chọn nội dung về kế toán thu, chi ngân sách làm đề tài cơ sở cho việc nghiên
cứu thực hiện luận án của mình.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Luận án được thực hiện nhằm hướng đến 4 mục tiêu cụ thể như sau:
-

Xác định được lỗ hỏng trong các nghiên cứu trên thế giới và trong nước bằng
việc hệ thống hóa các nghiên cứu về kế toán công và kế toán thu chi ngân sách.

-

và nhằm phục vụ cho quá trình viết luận án (bao gồm cả phần cơ sở lý luận và thực
trạng về quản lý tại Việt Nam ở một số cơ quan có thu chi ngân sách).

-

Xác định các nội dung đã được thực hiện trong những nghiên cứu trước đây để xác
định những lỗ hỏng cần được nghiên cứu.

-

Thông qua tài liệu đã thu thập, tiến hành viết phần cơ sở lý luận của đề tài.

-

Khi thực hiện phần thực trạng của đề tài, tác giả đã tiến hành thiết kế và thực hiện
khảo sát về tình hình kế toán thu, chi ngân sách, những hạn chế hiện tại cũng như
việc ứng dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế hiện nay. Ngoài việc khảo sát bằng
bảng câu hỏi, đề tài đã thu thập nhiều số liệu trong và ngoài nước để minh chứng
rõ hơn về nội dung thực tế đối với vấn đề nghiên cứu.

-

Thông qua hệ thống cơ sở lý luận ở chương hai và thực tiễn về kế toán thu, chi
ngân sách ở chương ba, luận án tổng hợp để đưa ra những đề xuất cần thiết, khá
toàn diện và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam.

4. NHỮNG ĐIỂM MỚI, PHẦN GIỚI HẠN VÀ CÁC ĐÓNG GÓP KHOA HỌC
CỦA LUẬN ÁN
4.1.


Thứ tư, khảo sát một cách chi tiết về chế độ kế toán thu, chi ngân sách, qua đó có
thể đánh giá được tính khả thi của những giải pháp, kiến nghị mà luận án đã đề ra.
Đồng thời, sử dụng công cụ thống kê để minh chứng tính khoa học, tính tin cậy
của những giải pháp trong luận án.

-

Thứ năm, đề tài bao quát được khá chi tiết các mối quan hệ giữa kế toán thu, chi
ngân sách với việc quản lý ngân sách nhà nước cùng với hệ thống cải cách hành
chính nhà nước, tài chính công ở Việt Nam.
4.2.

Giới hạn nội dung của luận án

Bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào cũng có những giới hạn cơ bản về mặt nội
dung trình bày. Luận án đã đi vào tìm hiểu chi tiết mối quan hệ và việc vận dụng
chuẩn mực kế toán công quốc tế vào kế toán thu, chi ngân sách Việt Nam. Trong
những nghiên cứu của những đề tài kế tiếp, các tác giả tiếp theo có thể đi vào phân
tích từng chuẩn mực kế toán công quốc tế cụ thể và đi sâu vào phân tích hạch toán chi
tiết nghiệp vụ để có những khuyến nghị liên quan trong quá trình tác nghiệp trên thực
tế của các kế toán viên tại các đơn vị công ở Việt Nam. Ngoài ra, các nghiên cứu sâu
cũng có thể tiếp tục vận dụng bộ chuẩn mực quốc tế vào những lĩnh vực công khác
trong xã hội, chẳng hạn như kế toán đơn vị phường xã, kế toán đơn vị bảo hiểm xã
hội, kế toán cơ quan thuế…


[vi]

4.3.



5. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Luận án được thực hiện bao gồm tổng cộng có 187 trang, 7 hình vẽ và 13 bảng biểu
minh họa, bổ trợ cho nội dung của bài viết. Xét chi tiết, ngoài phần mở đầu, kết luận
chung, các danh mục khác nhau, tài liệu tham khảo và 5 phụ lục thì luận án được kết
cấu thành 5 chương với tên gọi của từng chương cụ thể như sau:
 Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu về kế toán thu, chi ngân sách nhà
nước (16 trang)
 Chương 2: Cơ sở lý thuyết về kế toán thu, chi ngân sách nhà nước và chuẩn mực
kế toán công quốc tế (51 trang)


[vii]

 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và khung nghiên cứu chung của luận án (13
trang)
 Chương 4: Thực trạng về hệ thống kế toán thu, chi ngân sách nhà nước tại Việt
Nam (52 trang)
 Chương 5: Giải pháp hoàn thiện hệ thống kế toán thu, chi ngân sách nhà nước tại
Việt Nam (51 trang)


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. Các chữ viết tắt có nguồn gốc tiếng Việt

Từ viết tắt

Từ gốc

Từ viết tắt


KTV

Kiểm toán viên

CP

Chính phủ

MLNSNN

Mục lục ngân sách nhà nước

DN

Doanh nghiệp

NCKH

Nghiên cứu khoa học

DNNN

Doanh nghiệp nhà nước

NS

Ngân sách

GTGT


KBNN

Kho bạc nhà nước

TCC

Tài chính công

KSNB

Kiểm soát nội bộ

TCNN

Tài chính nhà nước

KTC

Kế toán công

UBND

Ủy ban nhân dân

[a]


2. Các chữ viết tắt có nguồn gốc tiếng Anh



Government Business Enterprises

GDP

Gross Domestic Product

Tổng sản phẩm quốc nội

IAS

International Accounting Standard

Chuẩn mực kế toán quốc tế

International Accounting Standard

Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc

Board

tế

IASB

IFAC

IFRS

IMF

Kiểm toán tối cao

International Public Sector

Chuẩn mực kế toán công quốc tế

Accounting Standard
[b]


IPSASB

NATO

International Public Sector

Ủy ban chuẩn mực kế toán công

Accounting Standard Board

quốc tế

North Atlantic Treaty Organization

Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây
Dương

New Public Management

Mô hình về Quản trị công mới


Information System

sách và kho bạc

UN

United Nations

Liên Hiệp Quốc

USD

United State Dollar

Đô la Mỹ

WB

World Bank

Ngân hàng thế giới

World Trade Organization

Tổ chức thương mại thế giới

NPM

OECD

Hình 2.2: Cấu trúc các thành phần của quản trị tài chính công ......................................... 22
Hình 2.3: Vai trò của kiểm toán nhà nước hoạt động thu, chi ngân sách.......................... 34
Hình 2.4: Cơ sở kinh tế xây dựng hệ thống kế toán thu chi ngân sách ............................. 35
Hình 2.5: Cơ cấu tổ chức và cấu trúc của Ủy ban chuẩn mực kế toán công quốc tế ........ 38
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu của luận án ..................................................................... 80
Hình 5.1: Mô hình về quá trình chuyển đổi sang chuẩn mực kế toán công quốc gia ..... 171

[e]


[1]

Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
VỀ KẾ TOÁN THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Chương này cung cấp một bức tranh tổng quan về quá trình nghiên cứu các vấn đề có
liên quan đến nội dung của luận án. Tính tổng quát của chương thể hiện thông qua việc
tác giả tiến hành khái quát hóa những nghiên cứu mà các nhà khoa học trong nước và
quốc tế đã tìm hiểu về một số mảng nội dung khác nhau có liên quan đến hướng nghiên
cứu của tác giả, qua đó xác định khe hở của vấn đề nghiên cứu và nhằm minh chứng cho
tính cấp thiết của luận án này. Việc lựa chọn đề tài nghiên cứu được đánh giá là cần thiết
nếu được xem xét tổng thể trong mối quan hệ với các nghiên cứu đã thực hiện trước đó.
1.1.

Các nghiên cứu công bố ở ngoài nước

Kế toán thu, chi ngân sách nói riêng hay kế toán công nói chung là những vấn đề đang
được khá nhiều nghiên cứu trên thế giới tiến hành tìm hiểu, phân tích, thảo luận. Trong
những năm gần đây, các quốc gia thường xuyên tiến hành tổ chức các hội thảo hoặc diễn

Chan, J. L (2005), ‘IPSAS and government accounting reform in developing
countries’, University Illinois at Chicago, Business Administration College –
Accounting Department.
Theo bài báo, để đạt mục tiêu về kinh tế xã hội, các nước đang phát triển yêu cầu
các định chế trong khu vực công phải thiết lập, thực hiện các chính sách công và cải
cách kế toán thu, chi ngân sách hay còn gọi là kế toán chính phủ. Vì thế giá trị về
phương diện xã hội của việc cải cách kế toán nhà nước sẽ góp phần vào mục tiêu
phát triển chung và kể cả việc giảm nghèo của quốc gia. Bài này còn nhấn mạnh
đến việc đảm bảo sự trung thực tài chính và quá trình vận dụng IPSAS để cải cách
kế toán chính phủ hiệu quả hơn.

[3]

Johan, C., Brecht, R. & Caroline, R (2010), ‘Impact of IPSAS on reforming
governmental financial information systems: a comparative study’, International
Review of Administrative Sciences, vol. 76, no. 3, pp. 537-554.
Sự khác nhau trong hệ thống thông tin tài chính chính phủ cải cách tạo ra một nhu
cầu cho việc hội tụ theo xu hướng quốc tế và dẫn đến kết quả của IPSAS. Bằng việc
khảo sát ý kiến các chuyên gia, nghiên cứu đã điều tra về mức độ của các chính phủ
Châu Âu áp dụng kế toán dồn tích và giải thích các mức độ khác nhau trong việc
lựa chọn. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các quốc gia hầu hết đều chuyển sang


[3]

áp dụng kế toán dồn tích theo IPSAS. Với nghiên cứu này, có thể thấy rằng việc
vận dụng theo IPSAS cũng được thực hiện trong nhiều năm trước tại các quốc gia.
[4]

Goddard, A (2010), ‘Contemporary public sector accounting research – An


[7]

Ball, A., Soare, V. & Brewis, J (2012), ‘Engagement Research in Public Sector
Accounting’, Financial Accountability & Management, vol. 28, no. 2, pp. 189-214.


[4]

Bài viết tổng hợp nhiều tác phẩm trước đây để lập luận, chứng minh giá trị cho
những tiếp cận nghiên cứu về kế toán công. Tác giả đã phân tích, khám phá và đánh
giá những bài học thông qua việc ứng dụng kế toán công để chứng minh tính tích
cực khi cải cách chính sách công, chế độ kế toán và chuẩn hóa theo hướng quốc tế.
[8]

Ekrem, K (2012), ‘Financial analysis in public sector accounting: an example of
EU, Greece and Turkey’, European Journal of Scientific Research, ISSN 1450216X, vol. 69, no.1, pp.81-89, © EuroJournals Publishing, Inc. 2012.
Theo tác giả thì trên thế giới cho đến thời điểm hiện nay thì vẫn còn khá ít các
nghiên cứu về tài chính trong kế toán công. Do đó, bài viết này đã đề cập đến việc
phân tích tài chính trong kế toán công cùng với những báo cáo so sánh để giúp cung
cấp thông tin minh bạch hơn cho chính phủ, đồng thời có nghiên cứu thêm kinh
nghiệm của EU, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ.

[9]

Robinson, O. U. & Edith, O. O (2013), ‘Inadequacies and redundancies in the
principal financial authorities that guide public sector accounting and financial
management in Nigeria’, Journal of Finance & Accounting, vol. 4, no. 1, pp. 16-25.
Hai tác giả đã nghiên cứu và khẳng định rằng tại Nigeria có một số tổ chức chịu
trách nhiệm hướng dẫn nội dung về kế toán công và quản trị tài chính, tuy nhiên

[1]

Victoria, J. S (2004), ‘Consolidation accounting issues in the Australian public
sector’, PhD Thesis, Victoria University of Technology in Melbourne.
Luận án này đã trình bày được vấn đề kế toán công tại Úc với việc nghiên cứu về kế
toán quá trình hợp nhất trong khu vực công.

[2]

Ali, R (2008), ‘Accrual accounting and public sector reform: Northern Territory
experience’, PhD Thesis, Charles Darwin University
Luận án này đã trình bày được nội dung về cơ sở kế toán dồn tích và quá trình cải
cách khu vực công thông qua việc sử dụng ví dụ thực tiễn và kinh nghiệm tại các
quốc gia thuộc khu vực lãnh thổ Bắc Úc.

[3]

Zhou, N (2010), ‘Development of public sector and accounting issues in Hong
Kong’, PhD Thesis, Norwegian School of Economics.
Luận án này đã trình bày nêu được quá trình lịch sử và phát triển của Hồng Kông từ
năm 1970 đến nay, qua đó tác giả đề ra việc phát triển các vấn đề về kế toán trong
khu vực công tại nước này để đảm bảo khu vực này giữ vững được hệ thống tài
chính vững mạnh trên thế giới như hiện nay.

[4]

Malmmose, M (2012), ‘The Role of Management Accounting in New Public
Management Reforms’, PhD Thesis, Aarhus University.
Luận án này đã tiến hành nghiên cứu vai trò của kế toán quản trị trong quá trình cải
cách việc quản trị khu vực công. Tác giả khẳng định rằng bên cạnh kế toán tài chính


[8]

Shi, Y (2011), ‘Accrual Reform in the Public Sector in China’, SCID Working
Paper 247, Stanford Center for International Development.
Thông qua việc phân tích hệ thống kế toán thu, chi ngân sách hiện nay để đưa ra
những nội dung cơ bản trong việc chuyển đổi sang hệ thống kế toán dồn tích tại
Trung Quốc vì theo nghiên cứu thì kể từ năm 1990, việc chuyển đổi sang cơ sở dồn
tích trong kế toán chính phủ là một trong những nội dung trọng tâm trong việc cải
cách tài chính công quốc tế.

Tóm lại, các luận án và đề tài khoa học của các tổ chức, cá nhân đã thực hiện cho thấy kế
toán ngân sách chính phủ là một đề tài vẫn được nhiều đối tượng lựa chọn nghiên cứu
cho đến thời điểm hiện nay. Các đề tài trên chủ yếu tập trung vào cơ sở kế toán trong kế
toán công, có thể phạm vi nghiên cứu là thế giới hay một quốc gia cụ thể.


[7]

1.2.

Các nghiên cứu công bố ở trong nước

Khi bàn về các công trình trong nước liên quan đến nội dung đề tài, tác giả cũng có ghi
nhận được một số công trình phù hợp. Xét một cách tổng thể, kế toán thu chi ngân sách
nói riêng hay các lĩnh vực thuộc khu vực công cũng được một số nhà nghiên cứu thực
hiện. Nhìn chung, các đề tài này chỉ tập trung vào một trong các khía cạnh có liên quan
đến kế toán HCSN, hoặc chỉ mới đi vào một góc hẹp của IPSAS trong việc vận dụng vào
Việt Nam. Bên cạnh đó, một số đề tài còn có sự vận dụng trong một địa bàn cụ thể, tại
một số tỉnh, thành cụ thể ở Việt Nam trong việc xem xét các hàng hóa hay dịch vụ công


hiện kế toán nhà nước tại Việt Nam trong những năm sau và định hướng cho quá
trình hội nhập cũng như tiếp cận chuẩn mực kế toán quốc tế trong khu vực công.
[3]

Phạm Văn Đăng (2008), ‘Kế toán Nhà nước Việt Nam: Sự khác biệt với chuẩn mực
quốc tế về kế toán công’, Tạp chí kế toán ngày 09.10.2008, trang 11.
Trong bài viết, tác giả đã xác định những điểm khác biệt và tương đồng giữa kế
toán nhà nước Việt Nam với chuẩn mực kế toán công quốc tế cùng với việc tiến tới
hài hòa theo xu hướng toàn cầu hiện nay trong lĩnh vực kế toán công

[4]

Đặng Văn Du (2008), ‘Một số công cụ mà cơ quan quyền lực có thể sử dụng để
giám sát ngân sách nhà nước’, Tạp chí Kiểm toán, số 3.
Giám sát NSNN là một nhiệm vụ quan trọng của cơ quan quyền lực nhà nước các
cấp ở mọi quốc gia. Bài viết không đi sâu phân tích tính hợp lệ, hợp pháp của hoạt
động giám sát; mà chủ yếu tập trung luận bàn về cơ sở lý luận của việc lựa chọn các
công cụ phục vụ cho giám sát NSNN của cơ quan quyền lực các cấp. Theo tác giả,
một số công cụ mà cơ quan quyền lực nhà nước có thể sử dụng để giám sát NSNN,
bao gồm: pháp luật, MLNSNN, kế hoạch hóa, kiểm toán, thông tin, chuyên gia.

[5]

Lê Hùng Sơn (2009), ‘Hoàn thiện mô hình một cửa trong kiểm soát chi ngân sách
nhà nước’, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà
Nội, số 6, trang 14.
Trong bài viết, tác giả tập trung vào nội dung về kiểm soát chi ngân sách nhà nước,
những hạn chế và tồn tại trong quá trình kiểm soát các khoản chi trong các đơn vị
công cùng với một số giải pháp cơ bản đối với mô hình một cửa do chính phủ quy


[9]

Đặng Văn Thanh (2011), ‘Tổng kế toán nhà nước: công cụ quan trọng trong hệ
thống tài chính quốc gia Việt Nam’, Tạp chí kế toán và kiểm toán, số 1, trang 18-24.
Tác giả bài viết này nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc đưa ra mô hình tổng kế
toán nhà nước để nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm ngân sách trong hệ thống tài
chính của Việt Nam với những đặc điểm cơ bản mà mô hình sẽ hướng đến.

[10]

Đoàn Ngọc Xuân (2012), ‘Đổi mới chính sách ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện
nay’, Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán, số 10, trang 15.
Trong bài viết này, tác giả tập trung nghiên cứu về nội dung của hệ thống ngân sách
nhà nước tại Việt Nam, những điểm còn tồn tại, qua đó đưa ra một số giải pháp cơ
bản để đổi mới các chính sách có liên quan đến ngân sách nhà nước.

Tóm lại, các bài báo được đăng tải trên các tạp chí có uy tín trong nước cho thấy kế toán
công và chuẩn mực kế toán công quốc tế được nhiều tác giả cho rằng đây là lĩnh vực cần
thiết và quan trọng để Việt Nam tiến hành nghiên cứu ban hành trong thời gian tới. Bên
cạnh đó, một số tác giả còn đề cập đến vai trò của kiểm toán, ngân sách nhà nước và mô
hình kế toán nhà nước tại Việt Nam. Khe hở được xác định trong các nghiên cứu trên
chính là chưa có các nghiên cứu về kế toán thu, chi ngân sách với định hướng theo hệ
thống chuẩn mực quốc tế.
1.2.2. Các luận án tiến sĩ và các đề tài nghiên cứu khoa học


[10]

Bên cạnh những bài viết được đăng trên các tạp chí khoa học, lĩnh vực nghiên cứu về

dụng cho các dự án xây dựng cầu đường - một lĩnh vực xây dựng cơ bản đang thu
hút sự quan tâm của xã hội cũng như của Kiêm toán Nhà nước.

[4]

Lưu Trường Kháng (2013), ‘Hoàn thiện quy trình và phương pháp kiểm toán Dự án
đầu tư xây dựng công trình do Kiểm toán Nhà nước Việt Nam thực hiện’, Luận án
tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân.


[11]

Luận án đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về quy trình và phương pháp
kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình; nghiên cứu kinh nghiệm kiểm toán dự
án của một số quốc gia; từ đó phân tích thực trạng, những hạn chế, thiếu sót và đã
đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện quy trình và phương pháp kiểm toán
dự án đầu tư xây dựng công trình cho Kiểm toán nhà nước Việt Nam
* Đề tài nghiên cứu khoa học
[5]

Trịnh Ngọc Sơn (2003), ‘Hoàn thiện quy trình kiểm toán chi ngân sách đối với đơn
vị hành chính sự nghiệp thực hiện khoán chi’, Công trình nghiên cứu khoa học,
Kiểm toán nhà nước, 135 trang.
Đây là một sản phẩm nghiên cứu khoa học tập trung vào việc kiểm tra thực hiện chi
ngân sách nhà nước. Qua quá trình tìm hiểu thực trạng của việc chi ngân sách, tác
giả đã đề ra một số giải pháp để hoàn thiện quy trình kiểm toán này.

[6]

Bộ Tài chính (2007), ‘Hội thảo Định hướng và lộ trình áp dụng chuẩn mực kế toán

dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế trong chế độ kế toán hiện hành.
Tóm lại, các luận án cùng với những công trình khoa học đã có những nghiên cứu nhất
định trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán các đơn vị thuộc khu vực công. Cụ thể, các đề
tài đã tìm hiều về tính cần thiết và một số nội dung cơ bản của mô hình tổng kế toán nhà
nước, về kiểm toán ngân sách nhà nước cũng như về chế độ kế toán hành chính sự
nghiệp tại Việt Nam trong những năm qua.
1.3.

Các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Sau quá trình tìm hiểu các công trình khoa học chính có liên quan một cách tương đối
đến đề tài luận án dự kiến thực hiện, tác giả đã nhận định được một số hạn chế, tồn tại
cùng với các khe hở trong các nghiên cứu trong và ngoài nước trên như sau:
Đối với các công trình nước ngoài
• Thứ nhất, các tác giả chủ yếu phân tích kế toán công mà chưa thực hiện nghiên cứu
nhiều vào kế toán thu, chi ngân sách hay kế toán các đơn vị thuộc chính phủ.
• Thứ hai, việc tìm hiểu còn giới hạn tại một số quốc gia nơi mà các tác giả đang sinh
hoạt khoa học hay đang công tác, dẫn đến Việt Nam vẫn đang là một lỗ trống cần
được nghiên cứu và việc tìm hiểu được xem là cần thiết.
• Thứ ba, các nghiên cứu thường tập trung vào một khía cạnh cụ thể trong kế toán công
như người sử dụng thông tin, cơ sở kế toán, hệ thống báo cáo tài chính, quy trình lập
ngân sách, kiểm toán khu vực công…mà chưa có sự kết nối đồng bộ giữa các thành
phần, điều này sẽ làm cho hệ thống kế toán mang tính rời rạc, chưa nhất quán.
Đối với các công trình trong nước
• Thứ nhất, khá nhiều tác giả tập trung vào việc nghiên cứu một bộ phận, một khâu hay
một hoạt động của kế toán các đơn vị HCSN ở Việt Nam, tuy nhiên đây chỉ là một
trong số các chế độ kế toán áp dụng cho những đơn vị thuộc khu vực công.


[13]

trình tìm kiếm chân lý của các nhà nghiên cứu.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status