Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học ngữ văn ở lớp 9 - Pdf 35

1
I. TÊN ĐỀ TÀI:

SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY - HỌC NGỮ VĂN 9
II. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Tầm quan trọng của vấn đề:
Trong những năm qua, cùng với việc thực hiện một cách đồng bộ đổi
mới nội dung, chương trình, sách giáo khoa, vấn đề đổi mới phương pháp dạy
học(PPDH) nói chung, trong đó có đổi mới PPDH môn Ngữ văn luôn được
các nhà khoa học giáo dục đầu ngành của nước ta quan tâm, nghiên cứu và
tìm cách cải tiến. Có thể nói, đây là một bước đột phá của ngành Giáo dục
nước nhà. Vì vậy, vấn đề này đã được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm.
Thực hiện nghiêm túc tinh thần Nghị quyết 40/2000-QH10 của Quốc hội khóa
10 và Chỉ thị số14/2001/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bộ GD&ĐT đã
đặc biệt chú trọng đến việc bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên từng bước nâng
cao trình độ, đổi mới PPDH, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
học sinh; xem đây là một nhiệm vụ vừa bức thiết lại vừa trọng tâm xuyên suốt
cả quá trình đổi mới.
2. Thực trạng của vấn đề:
Trong những năm qua, hầu hết đội ngũ giáo viên THCS trong cả nước
nói chung, ở các trường trong tỉnh, trong huyện đã được tham dự các lớp tập
huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về đổi mới PPDH do Sở, Phòng
GD&ĐT tổ chức, nội dung triển khai một số phương pháp, kĩ thuật dạy học
mới. Trong đó có việc sử dụng sơ đồ tư duy(SĐTD). Có thể khẳng định rằng
đây là một trong những PPDH rất quan trọng, vừa rất mới, rất hiện đại, lại rất
khả thi, đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Qua việc tìm hiểu và vận
dụng PPDH bằng SĐTD trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy PPDH này đã
thật sự đem lại “luồng sinh khí mới” cho học sinh trong quá trình dạy học bộ
môn Ngữ văn. Bước đầu đã giảm bớt được tâm lý chán học Văn, khơi gợi




3
Năm học 2011 - 2012 là năm học mà toàn ngành Giáo dục và Đào tạo
đang tiếp tục nỗ lực đổi mới phương pháp giảng dạy, để đào tạo ra những con
người năng động, sớm thích ứng với đời sống xã hội, đẩy nhanh sự nghiệp
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước. Trước tình hình đó, đòi hỏi đội ngũ
giáo viên chúng ta phải không ngừng đổi mới, cải tiến nội dung, phương pháp
soạn giảng để trong mỗi tiết dạy, học sinh sẽ được hoạt động nhiều hơn, thảo
luận nhiều hơn và quan trọng là được suy nghĩ nhiều hơn trên con đường chủ
động chiếm lĩnh kiến thức. Vì vậy, đòi hỏi mỗi giáo viên phải triệt để thực
hiện theo nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm nhằm phát huy tính chủ
động, tích cực, tự giác và sáng tạo của học sinh trong hoạt động dạy học.
Mặt khác, nói đến phương pháp dạy học là nói đến cách dạy của người
thầy. Trong chương trình giáo dục phổ thông, Ngữ văn là một môn học có vị
trí quan trọng. Vì đây là môn học vừa mang tính công cụ, vừa là môn học
mang tính nghệ thuật, lại là môn học mang tính nhân văn rất cao. Bởi vậy, để
học sinh học tốt môn Ngữ Văn ở trường phổ thông nói chung, người giáo viên
phải chú trọng đến phương pháp dạy học, phải tìm tòi, sáng tạo, nghiên cứu
và áp dụng những hình thức, biện pháp tổ chức dạy học mới, hiện đại, sinh
động, đưa học sinh đến với môn học này một cách tự giác, bằng niềm say mê
thật sự. Có như thế mới đáp ứng được yêu cầu của môn học mang đậm tính
nhân văn này.
Sơ đồ tư duy kế thừa, mở rộng hình thức ghi chép, sử dụng bảng biểu, sơ
đồ nhưng ở mức độ cao hơn. Nó là một công cụ tổ chức tư duy được tác giả
Tony Buzan (người Anh) nghiên cứu kỹ lưỡng và phổ biến rộng khắp trên thế
giới. Có thể khẳng định rằng PPDH bằng SĐTD là một trong những PPDH
hiện đại. Nó giúp học sinh dễ ghi nhớ, phát triển nhận thức, khả năng tư duy,
óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo...Đây là một công cụ hữu hiệu trong quá
trình dạy học hiện nay.
IV. CƠ SỞ THỰC TIỄN:

trình dạy học đối với môn học Ngữ văn còn là vấn đề gặp không ít khó
khăn, trở ngại đối với giáo viên, cụ thể như trong việc tổ chức, thiết kế


5
các hoạt động dạy học với việc sử dụng SĐTD. Qua dự giờ, trao đổi kinh
nghiệm chuyên môn đối với các đồng nghiệp trong tổ, trong trường, tôi
nhận thấy, hầu hết giáo viên mới chỉ dừng lại ở việc sử dụng SĐTD để hệ
thống hóa kiến thức sau mỗi bài học, hay mỗi bài ôn tập, tổng kết một
phân môn, một mảng kiến thức nào đó mà thôi. Họ chưa mạnh dạn đưa Sơ
đồ tư duy vào tất cả các khâu trong quá trình dạy học. Họ chưa phát huy
được tính phổ biến và đa năng của Sơ đồ tư duy. Do đó, chưa phát huy
một cách đầy đủ công dụng của SĐTD trong quá trình dạy học môn Ngữ
văn.
V. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
1. Sơ đồ tư duy - khái niệm, cấu tạo, các bước thiết kế, quy trình tổ chức
hoạt động vẽ SĐTD trên lớp và những tiện ích:
* Để sử dụng một cách có hiệu quả SĐTD trong quá trình dạy học,
trước hết, ta cần nắm vững những tri thức về nó:
a. Khái niệm:
Sơ đồ tư duy hay còn gọi là Lược đồ tư duy, Bản đồ tư duy (Mind Map)
là PPDH chú trọng đến cơ chế ghi nhớ, dạy cách học, cách tự học nhằm tìm
tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch
kiến thức,...bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét,
màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực. Đặc biệt, đây là một dạng sơ đồ mở,
không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, các em có thể vẽ thêm
hoặc bớt các nhánh, mỗi em có thể vẽ một kiểu khác nhau, dùng những màu
sắc, hình ảnh, chữ viết và các cụm từ diễn đạt khác nhau,... Tuy cùng một chủ
đề nhưng mỗi em có thể “thể hiện” nó dưới dạng Sơ đồ tư duy theo cách riêng
của mình. Do đó, việc lập Sơ đồ tư duy phát huy tối đa khả năng sáng tạo của

thành mạng lưới liên kết chặt chẽ.
Bước 4: Cuối cùng, ta dùng hình ảnh (vẽ hoặc chèn) để minh họa cho các ý,
tạo tác động trực quan, dễ nhớ.
*Lưu ý:
Nên chọn hướng giấy ngang để khổ giấy rộng, thuận lợi cho việc vẽ các
nhánh con.
Nên dùng các nét vẽ cong, mềm mại thay vì vẽ các đường thẳng để thu
hút sự chú ý của mắt, như vậy SĐTD sẽ lôi cuốn, hấp dẫn hơn.
Các nhánh càng ở gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn, dày hơn.
Chú ý dùng màu sắc, đường nét hợp lý để vừa làm rõ các ý trong sơ đồ
đồng thời tạo sự cân đối, hài hòa cho sơ đồ.
Không ghi quá dài dòng, hoặc ghi những ý rời rạc, không cần thiết, nên
dùng các từ, cụm từ một cách ngắn gọn.
Không dùng quá nhiều hình ảnh, nên chọn lọc những hình ảnh thật cần
thiết góp phần làm rõ các ý, chủ đề.
Có thể đánh số thứ tự ở các ý chính cùng cấp.
Không đầu tư quá nhiều thời gian vào việc “làm đẹp” sơ đồ bằng vẽ, viết,
tô màu...
Không vẽ quá chi tiết, cũng không vẽ quá sơ sài.
Người lập sơ đồ được phép vẽ và trang trí theo cách riêng của mình.
d. Quy trình tổ chức hoạt động vẽ SĐTD trên lớp:
Hoạt động 1: Cho học sinh lập SĐTD theo nhóm hay cá nhân thông
qua gợi ý của giáo viên.


8
Hoạt động 2: Học sinh hoặc đại diện của các nhóm học sinh lên báo
cáo, thuyết minh về SĐTD mà nhóm mình đã thiết lập.
Hoạt động 3: Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện
SĐTD về kiến thức của bài học đó. Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài

bởi đó là “sản phẩm kiến thức hội họa”do chính các em tự làm ra, lại vừa phát
huy được tối đa khả năng sáng tạo của các em trong học tập, không rập khuôn
một cách máy móc như khi lập các bảng biểu, sơ đồ, vì các em dễ dàng vẽ
thêm các nhánh để phát triển ý tưởng riêng của mình. Vì thế, tạo một không
khí sôi nổi, hào hứng, say mê cho học sinh trong học tập. Đây cũng là một
trong những nội dung quan trọng của phong trào thi đua “Xây dựng trường
học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ GD&ĐT đang triển khai thực hiện.
Sơ đồ tư duy chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên
tưởng (các nhánh). Do đó, chúng ta có thể vận dụng Sơ đồ tư duy vào tất cả
các khâu trong quá trình dạy học. Từ khâu kiểm tra bài cũ, đến khâu dạy học
kiến thức mới, hay khâu củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, rồi ôn tập hệ
thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi học kì, kể cả việc kiểm tra bài cũ,
kiểm tra 15 phút.
Sơ đồ tư duy, một công cụ có tính khả thi cao. Ta có thể vận dụng được
với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay nói chung.
Bởi vì ta có thể thiết kế Sơ đồ tư duy trên giấy, bìa, tờ lịch cũ, bảng phụ,…
bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn màu, tẩy…hoặc cũng có thể thiết kế trên
phần mềm Sơ đồ tư duy (Mind Map). Với những trường đủ điều kiện về cơ sở
vật chất như Máy chiếu Projecto, phòng máy vi tính đảm bảo, chúng ta có thể
sử dụng phần mềm (Mind Map) để phục vụ cho việc dạy học có ứng dụng
CNTT.
Tóm lại, việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học sẽ giúp HS:
1. Tăng sự hứng thú trong học tập.
2. Phát huy khả năng sáng tạo, năng lực tư duy của các em.
3. Tiết kiệm thời gian rất nhiều.
4. Nhìn thấy được bức tranh tổng thể.
5. Ghi nhớ tốt hơn.


10

11
Vì vậy, theo tôi, chúng ta cần dành thời gian hợp lý cho các em “làm
quen” với SĐTD, theo cách sau đây:
* Để tiết kiệm thời gian, lại khỏi phải làm cái công việc giới thiệu,
hướng dẫn cách vẽ SĐTD trở đi, trở lại hết lớp này đến lớp khác, giáo viên
nên tham mưu cho Ban Giám hiệu trường, hoặc Chuyên môn trường, chọn
thời gian thuận lợi ngay từ đầu năm học tổ chức một buổi ngoại khóa “Làm
quen với Sơ đồ tư duy” (Tùy theo tình hình cụ thể của từng đơn vị trường mà
có thể tổ chức theo khối lớp giáo viên trực tiếp dạy, khối học sáng - chiều
hoặc toàn trường) để giới thiệu, cho các em làm quen và hướng dẫn cách vẽ
SĐTD cho các em.(Lưu ý rằng đây cũng là một bước tạo không khí sôi nổi,
lôi cuốn các em tiếp cận với một phương pháp, kĩ thuật dạy học mới). Để buổi
ngoại khóa thành công, giáo viên cần chuẩn bị tốt các nội dung sau:
+ Về phía học sinh, giáo viên cần nhắc nhở các em mang theo đầy đủ
các dụng cụ: giấy vở, bìa lịch cũ, bìa cứng, bút chì, hộp màu, tẩy,...
+ Về phía giáo viên, cần chuẩn bị trước: phòng máy, máy chiếu, bảng
phụ, phấn màu, ... và một số SĐTD đã vẽ sẵn trên trên máy, trên giấy vở, trên
bìa lịch, trên bảng phụ... Sau đó, chúng ta bắt đầu tiến hành tổ chức nội dung
theo các bước sau:
Bước 1: “Làm quen”
Giáo viên giới thiệu một số SĐTD vẽ sẵn cho học sinh làm quen (Nên
chọn vẽ SĐTD ở những bài đã học trong chương trình cho các em vừa tiện
theo dõi, tiếp thu tri thức về SĐTD, đồng thời vừa thuận lợi trong việc hệ
thống hóa kiến thức, học sinh sẽ nhanh tiếp thu hơn vì các em đã học). Giáo
viên giới thiệu cấu trúc SĐTD theo mạch kiến thức của bài học cho học sinh
nắm, rồi hướng dẫn cách vẽ một SĐTD (Cung cấp cho các em phương pháp
vẽ SĐTD).
Bước 2: “Đọc hiểu”
Giáo viên chọn những SĐTD có kết cấu đơn giản cho học sinh quan sát.
Sau đó, cho các em dựa vào SĐTD để thuyết trình nội dung bài học (kiến

Ở bước này, giáo viên thu một số SĐTD các em vừa vẽ theo từng loại
(Sơ đồ không triển khai đủ các ý chính, sơ đồ vẽ quá chi tiết đến vụn vặt, sơ


13
đồ vẽ không đúng trọng tâm kiến thức, sơ đồ dùng quá nhiều hình ảnh, màu
sắc lòe loẹt,... )
Cho học sinh quan sát, nhận xét, góp ý chỉnh sửa, bổ sung.
Giáo viên lắng nghe, định hướng cho các em chỉnh sửa, bổ sung:
+ Như trên đã trình bày, SĐTD là một sơ đồ mở. Vì vậy, giáo viên cần
tôn trọng và phát huy sự sáng tạo của các em, bởi đây là “sản phẩm” của
chính các em. Giáo viên chỉ chỉnh sửa cho các em chủ yếu về mặt kiến thức.
Mặt khác, giáo viên cũng cần khuyến khích, biểu dương những SĐTD vẽ đảm
bảo đầy đủ kiến thức trọng tâm, đẹp, có cách trình bày khoa học, cân đối, hài
hòa về đường nét, màu sắc.
+ Nếu thấy mất quá nhiều thời gian để tô đậm màu trong một nhánh, ta
có thể hướng dẫn thêm cho các em cách gạch chéo, đánh dấu cộng, hay chấm
bi trong đó. Đây là điều rất mới mẻ, sáng tạo và tiết kiệm rất nhiều thời gian.
+ Giáo viên nhắc nhở thêm các em cần hình thành thói quen tốt: nên
lập SĐTD trong quá trình chuẩn bị bài mới ở nhà và lập lại sau khi học xong
bài trên lớp để có điều kiện đối chiếu xem mình đã làm được những gì?
Những gì mình còn sai sót cần bổ sung, sửa chữa. Nếu làm được như vậy,
chẳng những giúp các em nắm vững kiến thức mà còn rèn luyện cho các em
phát triển năng lực tư duy (Tư duy lô-gic, tư duy hệ thống...) rất tốt.
+ Nhắc các em sau mỗi bài học nên lưu các SĐTD lại để sau này tiện
việc ôn tập, hệ thống kiến thức.
Tóm lại, nếu giáo viên chuẩn bị thật kĩ lưỡng các bước trên cho các em,
tôi nghĩ rằng chắc chắn các em sẽ học tốt, làm tốt những yêu cầu giáo viên đặt
ra trong quá trình dạy học, kiểm tra, đánh giá có ứng dụng SĐTD.
b. Các hình thức sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học:

15

Khi học sinh vẽ xong, giáo viên cho cả lớp quan sát, gọi một vài em
nhận xét, góp ý sơ đồ rồi giáo viên nhận xét và cho điểm.
* Ví dụ 2:
Trước khi cho các em tìm hiểu tiết “Luyện tập liên kết câu và liên kết
đoạn văn” (Tiết 110 trong PPCT), ở khâu Kiểm tra bài cũ, giáo viên cho học
sinh lập SĐTD để ôn lại lý thuyết trước rồi mới hướng dẫn cho các em bắt tay
vào thực hành. Cách làm đơn giản như ở ví dụ trên. Ta cũng có thể làm ngược
lại quy trình trên nhưng cũng khá đơn giản như sau: Trước tiên, giáo viên ghi
cụm từ khóa “Liên kết văn bản” lên bảng phụ. Sau đó, giáo viên đưa ra câu
hỏi dẫn dắt cho các em: Các câu văn trong đoạn và các đoạn văn trong văn
bản được liên kết chặt chẽ với nhau qua những mặt liên kết nào? Có những
phép liên kết phổ biến nào được sử dụng để thực hiện việc liên kết trong văn
bản? Em hãy dựa vào cụm từ khóa trên, lập SĐTD biểu thị mối quan hệ các
mặt liên kết trong văn bản? rồi cho học sinh tiến hành lập SĐTD. Sau đây là
SĐTD minh họa:


16

Lưu ý:
Giáo viên có thể cho cả lớp cùng lập SĐTD trên giấy theo cách hoạt
động cá nhân trong một thời gian nhất định để lôi cuốn tất cả học sinh vào
việc ôn kiến thức đồng thời rèn luyện kĩ năng tạo lập SĐTD và thói quen tư
duy cho các em. Hết thời gian quy định, giáo viên chọn sơ đồ của một vài em
(có thể vẽ xong trước, có thể cần lấy điểm,...), chấm, nhận xét và ghi điểm
cho các em; biểu dương, khen ngợi những em vẽ tốt để khích lệ các em nhằm
tạo không khí học tập sôi nổi. Đây là việc làm rất cần thiết của chúng ta.
Giáo viên chỉ cần dựa vào SĐTD chấm và ghi nhận điểm cho học sinh


18
Từ tiếng Việt (xét về mặt cấu tạo) gồm có những loại nào? Em hãy vẽ

SĐTD giới thiệu chi tiết về chúng.
* Ví dụ 2:
Cho từ khóa Truyện Kiều. Em hãy vẽ SĐTD giới thiệu nguồn gốc, thể

loại và giá trị “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.
* Ví dụ 3:


19
Bài thơ “Viếng lăng Bác” ghi lại diễn biến tâm trạng cảm xúc của nhà
thơ Viễn Phương theo trình tự không gian và thời gian của chuyến ra thăm
lăng Bác Hồ. Với cụm từ khóa “Viếng lăng Bác”, em hãy lập SĐTD ghi lại

diễn biến tâm trạng cảm xúc ấy của tác giả qua mỗi khổ thơ.
Ví dụ 4:


20
Có mấy cách phát triển của từ vựng? Em hãy lập SĐTD minh họa với

cụm từ khóa sau: “SỰ PHÁT TRIỂN TỪ VỰNG”.
Ví dụ 5:
Em hãy lập SĐTD trình bày những hiểu biết của em về nhà thơ Nguyễn

Du (Tên hiệu, xuất thân, thời đại, cuộc đời, sự nghiệp văn học?)




22
Khi dạy bài giới thiệu về “Truyện Kiều cuả Nguyễn Du”(Tiết 26,27),
sau khi giới thiệu bài mới, giáo viên ghi cụm từ khóa “TRUYỆN KIỀU
(Nguyễn Du)” lên trung tâm bảng đen. Sau đó, giáo viên đưa ra hệ thống câu
hỏi dẫn dắt học sinh tìm hiểu bài học. Đầu tiên, ta cho các em tìm hiểu về tác
giả bằng cách vẽ nhánh chính thứ nhất đặt tiêu đề nhánh “I. TÁC GIẢ”. Rồi
đưa ra các câu hỏi gợi ý tìm hiểu về Tên hiệu, Xuất thân, Thời đại, Cuộc đời,
Sự nghiệp văn học của nhà thơ. Tìm hiểu đến đâu, giáo viên phát triển nhánh,
cô đọng kiến thức đến đó. Sau khi dẫn dắt các em tìm hiểu xong phần tác giả,
giáo viên tiếp tục vẽ nhánh thứ hai, đặt tiêu đề “II. TÁC PHẨM” đưa ra các
câu hỏi gợi ý các em tìm hiểu tác phẩm: Nguồn gốc, Thể loại, Kết cấu, Giá trị
(nội dung, nghệ thuật) của tác phẩm (cách làm tương tự như trên). Kết thúc 2
tiết học, ta có SĐTD giới thiệu một cách cô đọng, khái quát, lô-gic những tri
thức cơ bản về tác giả Nguyễn Du và tác phẩm “Truyện Kiều” trên bảng đen
như sau:


23
Ví dụ 2:
Khi dạy bài “Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống”(Tiết 99),
sau khi giới thiệu bài mới, giáo viên ghi cụm từ khóa “NGHỊ LUẬN SỰ
VIỆC, HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG” lên bảng, rồi bắt đầu tiết học với mục
Tìm hiểu bài. Giáo viên vẽ nhánh chính thứ nhất, ghi tiêu đề “I. TÌM HIỂU
BÀI”. Sau đó, cho học sinh đọc văn bản “Bệnh lề mề” – SGK, giáo viên đưa
ra các câu hỏi dẫn dắt các em lần lượt tìm hiểu: vấn đề nghị luận của bài viết,
biểu hiện, nguyên nhân, tác hại, hướng khắc phục. Sau khi tìm hiểu xong văn
bản, giáo viên chuyển sang bước hai: hình thành kiến thức. Giáo viên vẽ



25
sinh từng bước phát hiện, tiếp cận và chiếm lĩnh toàn bộ kiến thức bài học
một cách khoa học, có hệ thống, lô-gic. Bắt đầu bài học bằng từ, cụm từ trung
tâm thể hiện trọng tâm kiến thức, thông qua sự định hướng dẫn dắt của giáo
viên, các em tự khám phá, tìm hiểu các đơn vị kiến thức của bài học (các ý
lớn, nhỏ) một cách liền mạch, có hệ thống, đến khi tiết học kết thúc cũng là
lúc toàn bộ kiến thức của bài học được cô đọng và trình bày một cách sinh
động, khoa học và sáng tạo trên bảng đen (hoặc trên màn hình). SĐTD ấy
không chỉ cung cấp cho các em “bức tranh tổng thể” về kiến thức của bài học
mà nó còn giúp cho các em dễ dàng nhận ra mạch lô-gic kiến thức của bài
học. Do đó, chúng ta có thể dùng nó như phần nội dung ghi bảng của giáo
viên để học sinh ghi chép.
Tuy nhiên, chúng ta cần linh hoạt sử dụng ở những tiết dạy, bài dạy cho
phép chứ không nên lạm dụng SĐTD để khỏi phải ghi bảng ở tất cả các tiết
dạy. Mặt khác, việc sử dụng kết hợp này càng thuận lợi hơn khi chúng ta sử
dụng phần mềm Mind Map và soạn giảng bằng bài giảng điện tử. Chúng ta
cũng nên đánh số thứ tự vào các khâu lên lớp (tìm hiểu bài, bài học, luyện
tập), các ý chính trong mỗi đơn vị kiến thức của bài học để học sinh thuận
tiện trong việc theo dõi, ghi chép vào vở. Giáo viên cũng cần dành ít phút
cuối tiết học, cho học sinh quan sát SĐTD và thuyết trình - “đọc hiểu” lại toàn
bộ nội dung kiến thức của bài học.
b3. Sử dụng SĐTD trong việc hệ thống, củng cố kiến thức sau mỗi bài
học, mỗi phần của bài học:
Sau khi dạy xong mỗi phần (một đơn vị kiến thức) của bài học, hay mỗi
bài học, giáo viên cho học sinh hình dung, nhớ lại và vẽ SĐTD để củng cố, hệ
thống phần kiến thức đó, hoặc toàn bộ kiến thức của bài học.
Ví dụ 1:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status