Một số kinh nghiệm sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học ngữ văn 9 nhằm nâng cao chất lượng dạy học - Pdf 44

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG XƯƠNG
TRƯỜNG THCS QUẢNG ĐỊNH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI
MỘT SỐ KINH NGHIỆM SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG
DẠY HỌC NGỮ VĂN LỚP 9 NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG DẠY VÀ HỌC

Người thực hiện: Tô Thị Hợp
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: THCS Quảng Định
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn

THANH HÓA, NĂM 2016
1


1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đang là mối quan tâm lớn
của ngành giáo dục, của những người làm công tác giáo dục và của toàn xã hội.
Theo đó, nhiệm vụ nâng cao chất lượng các môn học, trong đó có bộ môn Ngữ
văn, đang đặt ra các thách thức cho các thầy giáo, cô giáo. Đặc biệt trong hoàn
cảnh, giai đoạn hiện nay, không ít học sinh, phụ huynh quan tâm ít đi, say mê ít đi (
Chứ không muốn nói là là không còn yêu thích) môn Ngữ văn.
Các nhà trường, các thầy cô giáo, trong đó có các thầy cô giảng dạy bộ môn
Ngữ văn hiện nay đang có nhiều trăn trở tìm ra các giải pháp nhằm làm tốt hơn nữa
nhiệm vụ nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn.
Từ thực trạng trên, Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII khẳng định “Phải



sinh dễ hiểu, dễ nhớ và phát huy tối đa khả năng sáng tạo trong quá trình học.
BĐTD là công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập ở các trường THCS và bậc
học cao hơn vì chúng giúp giáo viên và học sinh trình bày các ý tưởng, tóm tắt, hệ
thống hóa kiến thức của một bài học, một chủ đề, một chương hay một cuốn sách
một cách rõ ràng, mạch lạc, lôgíc và đặc biệt là dễ dàng phát triển thêm các ý tưởng
mới vào bài giảng cũng như bài học.BĐTD giúp học sinh học được phương pháp
học tập chủ động, tích cực. Thực tế ở trường phổ thông cho thấy, một số học sinh
có xu hướng không thích học môn Ngữ văn hoặc ngại học môn Ngữ văn do đặc
trưng môn học thường phải ghi chép nhiều, khó nhớ. Một số em học tập chăm chỉ
nhưng thành tích họch tập chưa cao. Các em thường học bài nào biết bài nấy, học
phần sau không biết liên hệ với phần trước, không biết hệ thồng kiến thức, liên kết
kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước vào bài học sau. Do
đó, việc sử dụng thành thạo BĐTD trong dạy học, sẽ giúp học sinh học được
phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy.
Tóm lại, việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học sẽ giúp HS:
1. Tăng sự hứng thú trong học tập.
2. Phát huy khả năng sáng tạo, năng lực tư duy của các em.
3. Tiết kiệm thời gian rất nhiều.
4. Nhìn thấy được bức tranh tổng thể.
5. Ghi nhớ tốt hơn.
6. Thể hiện phong cách cá nhân, dấu ấn riêng của mỗi em.
3. Đối tượng nghiên cứu
- Soạn giảng bộ môn Ngữ văn lớp 6, lớp 9 theo sơ đồ tư duy và chuẩn
KTKN.
- Hướng dẫn học sinh ghi chép, he thống bài học theo BĐTD.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp xây dựng cơ sở lý thuyết
- Phương pháp khảo sát thực tế, thu thập thông tin

văn. Có chung mục đích là giáo dục thẩm mĩ và rèn luyện cho HS các KN nghe,
nói, đọc viết, nhưng có vị trí độc lập tương đối và PPDH đặc thù.
Văn học có mục đích: giúp HS biết cách đọc để hiểu cho được giá trị của mỗi văn
bản thể hiện qua cái hay, cái đẹp trong nội dung và hình thức thể hiện của văn bản
đó. Cái hay, cái đẹp trong nội dung và hình thức thể hiện của văn bản là cái duy
nhất không lặp lại, biểu hiện tối đa nhất chủ đề tư tưởng của tác phẩm.
Tiếng Việt: Hình thành ở HS năng lực sử dụng thành thạo tiếng Việt với bốn kĩ
năng cơ bản là: nghe, nói, đọc, viết.
- Giúp cho HS có những hiểu biết về ngôn ngữ Tiếng Việt, có ý thức sử dụng và giữ
gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.
- Dạy Tiếng Việt thông qua:
+ Từ: nghĩa, từ loại, các phép tu từ, cấu tạo, chức năng,…
+ Câu: Các loại câu, dấu câu, các thành phần của câu, cách sử dụng và liên
kết các câu,…
+ Đoạn văn: nhận thức về cách viết một đoạn văn, liên kết câu và liên kết
đoạn văn…
Làm văn: giúp HS nhận biết các loại văn bản, đặc điểm, chức năng cách thức tạo
lập văn bản theo từng loại thể.
- Phân môn Làm văn Ở THCS:
+ Văn nghệ thuật (miêu tả, tự sự, biểu cảm)
+ Văn nghị luận (Nghị luận chính trị, xã hội - Nghị luận về sự việc, hiện tượng
trong đời sống; nghị luận về tư tưởng đạo lí; ngghị luận văn học)
- Phân môn Làm văn chủ yếu mang tính thực hành, HS phải vận dụng những kiến
thức văn học, tiếng Việt và kiến thức đời sống xã hội để tạo lập các loại văn bản
dưới hình thức nói hoặc viết.

4


2.2. Thực trạng

H
S
2
8
2

3,0

4,75
%
SL %
3,5 3
10,
7
3, 2
7,0

0- 2,75

5- 6,75

7- 8,75

9 - 10

SL
1

SL
17

lªn
SL
2
4
2

trë
%
85,
7
89,
5


8

5

6

4

5

5

3

3. Giải pháp thực hiện đề tài
3.1. Sơ đồ tư duy - khái niệm, cấu tạo, các bước thiết kế, quy trình tổ chức

Bước 1: Bắt đầu từ trung tâm với từ, cụm từ thể hiện chủ đề (có thể vẽ hình ảnh
minh họa cho chủ đề - nếu hình dung được)
Bước 2: Từ hình ảnh trung tâm (chủ đề) chúng ta cần xác định: để làm rõ chủ đề,
thì ta đưa ra những ý chính nào. Sau đó, ta phân chia ra những ý chính, đặt tiêu đề
các nhánh chính, nối chúng với trung tâm.
Bước 3: Ở mỗi ý chính, ta lại xác định cần đưa ra những ý nhỏ nào để làm rõ mỗi
ý chính ấy. Sau đó, nối chúng vào mỗi nhánh chính. Cứ thế ta triển khai thành
mạng lưới liên kết chặt chẽ.
Bước 4: Cuối cùng, ta dùng hình ảnh (vẽ hoặc chèn) để minh họa cho các ý, tạo
tác động trực quan, dễ nhớ.
Lưu ý:
Nên chọn hướng giấy ngang để khổ giấy rộng, thuận lợi cho việc vẽ các nhánh
con.
Nên dùng các nét vẽ cong, mềm mại thay vì vẽ các đường thẳng để thu hút sự
chú ý của mắt, như vậy SĐTD sẽ lôi cuốn, hấp dẫn hơn.
Các nhánh càng ở gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn, dày hơn.
Chú ý dùng màu sắc, đường nét hợp lý để vừa làm rõ các ý trong sơ đồ đồng
thời tạo sự cân đối, hài hòa cho sơ đồ.
Không ghi quá dài dòng, hoặc ghi những ý rời rạc, không cần thiết, nên dùng
các từ, cụm từ một cách ngắn gọn.
Không dùng quá nhiều hình ảnh, nên chọn lọc những hình ảnh thật cần thiết
góp phần làm rõ các ý, chủ đề.
Có thể đánh số thứ tự ở các ý chính cùng cấp.
Không đầu tư quá nhiều thời gian vào việc “làm đẹp” sơ đồ bằng vẽ, viết, tô
màu...
Không vẽ quá chi tiết, cũng không vẽ quá sơ sài.
Người lập sơ đồ được phép vẽ và trang trí theo cách riêng của mình.
3.3. Quy trình tổ chức hoạt động vẽ SĐTD trên lớp
Hoạt động 1: Cho học sinh lập SĐTD theo nhóm hay cá nhân thông qua gợi
ý của giáo viên.

cách vẽ SĐTD trở đi, trở lại hết lớp này đến lớp khác, giáo viên nên tham mưu cho
Ban Giám hiệu trường, hoặc Chuyên môn trường, chọn thời gian thuận lợi ngay từ
đầu năm học tổ chức một buổi ngoại khóa “Làm quen với Sơ đồ tư duy” (Tùy theo
tình hình cụ thể của từng đơn vị trường mà có thể tổ chức theo khối lớp giáo viên
trực tiếp dạy, khối học sáng - chiều hoặc toàn trường) để giới thiệu, cho các em làm
quen và hướng dẫn cách vẽ SĐTD cho các em.(Lưu ý rằng đây cũng là một bước
tạo không khí sôi nổi, lôi cuốn các em tiếp cận với một phương pháp, kĩ thuật dạy
học mới). Để buổi ngoại khóa thành công, giáo viên cần chuẩn bị tốt các nội dung
sau:
+ Về phía học sinh, giáo viên cần nhắc nhở các em mang theo đầy đủ các
dụng cụ: giấy vở, bìa lịch cũ, bìa cứng, bút chì, hộp màu, tẩy,...
+ Về phía giáo viên, cần chuẩn bị trước: phòng máy, máy chiếu, bảng phụ,
phấn màu, ... và một số SĐTD đã vẽ sẵn trên trên máy, trên giấy vở, trên bìa lịch,
trên bảng phụ... Sau đó, chúng ta bắt đầu tiến hành tổ chức nội dung theo các bước
sau:
Bước 1: “Làm quen”
Giáo viên giới thiệu một số SĐTD vẽ sẵn cho học sinh làm quen (Nên chọn vẽ
SĐTD ở những bài đã học trong chương trình cho các em vừa tiện theo dõi, tiếp thu
tri thức về SĐTD, đồng thời vừa thuận lợi trong việc hệ thống hóa kiến thức, học
sinh sẽ nhanh tiếp thu hơn vì các em đã học). Giáo viên giới thiệu cấu trúc SĐTD
theo mạch kiến thức của bài học cho học sinh nắm, rồi hướng dẫn cách vẽ một
SĐTD (Cung cấp cho các em phương pháp vẽ SĐTD).
Bước 2: “Đọc hiểu”
Giáo viên chọn những SĐTD có kết cấu đơn giản cho học sinh quan sát. Sau
đó, cho các em dựa vào SĐTD để thuyết trình nội dung bài học (kiến thức) được vẽ
8


trong sơ đồ. (Luyện cho các em tư duy lô-gic, tư duy hệ thống và kĩ năng thuyết
trình )

trọng và phát huy sự sáng tạo của các em, bởi đây là “sản phẩm” của chính các em.
Giáo viên chỉ chỉnh sửa cho các em chủ yếu về mặt kiến thức. Mặt khác, giáo viên
cũng cần khuyến khích, biểu dương những SĐTD vẽ đảm bảo đầy đủ kiến thức
trọng tâm, đẹp, có cách trình bày khoa học, cân đối, hài hòa về đường nét, màu sắc.
+ Giáo viên nhắc nhở thêm các em cần hình thành thói quen tốt: nên lập
SĐTD trong quá trình chuẩn bị bài mới ở nhà và lập lại sau khi học xong bài trên
lớp để có điều kiện đối chiếu xem mình đã làm được những gì? Những gì mình còn
sai sót cần bổ sung, sửa chữa. Nếu làm được như vậy, chẳng những giúp các em
nắm vững kiến thức mà còn rèn luyện cho các em phát triển năng lực tư duy (Tư
duy lô-gic, tư duy hệ thống...) rất tốt.
9


+ Nhắc các em sau mỗi bài học nên lưu các SĐTD lại để sau này tiện việc ôn
tập, hệ thống kiến thức.
Tóm lại, nếu giáo viên chuẩn bị thật kĩ lưỡng các bước trên cho các em, tôi
nghĩ rằng chắc chắn các em sẽ học tốt, làm tốt những yêu cầu giáo viên đặt ra trong
quá trình dạy học, kiểm tra, đánh giá có ứng dụng SĐTD.
3.4.2. Các hình thức sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học
Sử dụng SĐTD trong việc kiểm tra bài cũ
Giáo viên đưa ra một từ khóa (hay một hình ảnh trung tâm) thể hiện chủ đề
của kiến thức cũ mà các em đã học, cần kiểm tra, yêu cầu các em vẽ SĐTD thông
qua câu hỏi gợi ý. Trên cơ sở từ khóa (hoặc hình ảnh trung tâm) ấy kết hợp với câu
hỏi định hướng của giáo viên, học sinh sẽ nhớ lại kiến thức và định hình được cách
vẽ SĐTD theo yêu cầu.
Ví dụ 1:
Sau khi các em học xong bài “So sánh”(Ngữ văn 6) trước khi tìm hiểu bài
nhân hoá, giáo viên kiểm tra bài cũ bằng cách cho các em lập SĐTD để củng cố, hệ
thống kiến thức đã học ở bài “So sánh” thông qua câu hỏi sau: So sánh là gì? Tác
dụng?Sơ đồ phép so sánh? Các kiểu so sánh? Sau đó, giáo viên ghi cụm từ khóa


hệ thống hóa bằng SĐTD. Ví dụ: Trong ch¬ng tr×nh ng÷ v¨n 9 lập SĐTD
về Từ loại (xét về cấu tạo, xét về ngữ pháp), về các Phương châm hội thoại, về Trau
dồi vốn từ, về Nghĩa của từ, Các cách phát triển từ vựng, ...trong phân môn Tiếng
Việt; lập SĐTD về hệ thống luận điểm, luận cứ trong một văn bản nghị luận, về dàn
ý của một kiểu văn bản nào đó...trong phân môn Tập làm văn; hay lập SĐTD để
khái quát, sơ đồ hóa kiến thức về một tác giả, tác phẩm nào đó, về quá trình phát
triển tính cách, tâm trạng...của một nhân vật trong tác phẩm truyện hay mạch cảm
xúc, trình tự kết cấu của một bài thơ...đối với phân môn Văn học. Mặt khác, về yêu
cầu của đề kiểm tra, giáo viên cần đưa ra từ hay cụm từ khóa ngắn gọn, rõ ràng, cụ
thể, khái quát được chủ đề của phần kiến thức cần kiểm tra trong câu hỏi để định
hướng, giúp học sinh dễ dàng nắm bắt chính xác yêu cầu đề và có thể vẽ đúng
SĐTD theo yêu cầu. Sau đây là một số ví dụ minh họa các dạng đề kiểm tra viết
yêu cầu học sinh lập SĐTD:
Ví dụ
Cho từ khóa Truyện Kiều. Em hãy vẽ SĐTD giới thiệu nguồn gốc, thể loại
và giá trị “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.

12


Sử dụng SĐTD trong dạy học bài mới và ghi bảng
Lâu nay, việc sử dụng SĐTD như một công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc dạy
học bài mới thì ít nhiều giáo viên chúng ta đã và đang ứng dụng. Tuy nhiên, việc sử
dụng SĐTD vừa để tổ chức, dẫn dắt cho học sinh tự tìm hiểu, khám phá, chiếm lĩnh
kiến thức bài học lại vừa thay thế cho việc ghi bảng cô đọng kiến thức tiết dạy, bài
dạy của giáo viên thì quả là việc làm còn hết sức mới mẻ. Việc kết hợp sử dụng
SĐTD trong việc tổ chức dạy học bài mới với việc sử dụng nó để cô đọng kiến thức
thay cho việc ghi bảng lại tiết kiệm được rất nhiều thời gian trên lớp, lại vừa có tác
dụng hình thành cho học sinh có thói quen ghi chép bằng SĐTD.


Giáo viên cũng cần dành ít phút cuối tiết học, cho học sinh quan sát SĐTD và
thuyết trình - “đọc hiểu” lại toàn bộ nội dung kiến thức của bài học.
Sử dụng SĐTD trong việc hệ thống, củng cố kiến thức sau mỗi bài học, mỗi
phần của bài học:
Sau khi dạy xong mỗi phần (một đơn vị kiến thức) của bài học, hay mỗi bài
học, giáo viên cho học sinh hình dung, nhớ lại và vẽ SĐTD để củng cố, hệ thống
phần kiến thức đó, hoặc toàn bộ kiến thức của bài học.
Ví dụ 1:
Khi dạy tác phẩm truyện “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn
Dữ, sau khi hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu xong phần một “Vũ Nương và câu
chuyện oan khuất của nàng” giáo viên cho các em lập SĐTD về nhân vật Vũ
Nương thông qua câu hỏi sau: Như vậy, qua phần tìm hiểu trên, em hãy lập SĐTD
để chứng minh Vũ Nương là một người mẹ đảm đang, một người vợ thủy chung,
một người dâu hiền hiếu thảo?
Sau đây là SĐTD minh họa:

VÝ dô 2. Sau khi học xong bài “ Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp”, GV
có thể hướng dẫn HS củng cố cố lại kiến thức bằng việc yêu cầu các em vẽ sơ đồ tư
duy so sánh cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp.
16


Sử dụng SĐTD trong việc ôn tập kiến thức
Cũng như các cách làm trên, chúng ta có thể sử dụng SĐTD để ôn tập và hệ thống
kiến thức đã học cho các em. Sau đây là một vài ví dụ
Tiết 167,168( Ngữ văn 9). Tổng kết văn học

17


S
i

Lớp
gia
H
n
S
9A 2
Đầu
8

9B 2
m
8
9A 28
Giữ
9B 2
a
8

9B 2
II
8

Kt qu
3,0

4,75
%

0

%

1

3,
5
7,0
3,
5
3,
5

1

2

7,0

18
14
17
17

%
60,
8
64,
6

4
2
5
27
2
7
2
6

trở
%
85,
7
89,
3
96,5
96,
5
93,
0

Vi kt qu t c nh trờn, tụi thit ngh SKKN ny cú th ỏp dng
trong iu kin thc t trng THCS Qung nh, gúp phn nõng cao cht lng
dy v hc ca nh trng, ỏp ng nhu cu phỏt trin giỏo dc a phng.
3. Kt lun, xut v kin ngh
3.1. Kt lun
S t duy mt cụng c cú tớnh kh thi cao vỡ cú th vn dng c vi
bt kỡ iu kin c s vt cht no ca cỏc nh trng hin nay. Cú th thit k s
t duy trờn giy, bỡa, bng ph, bng cỏch s dng bỳt chỡ mu, phn, ty,
hoc cng cú th thit k trờn phn mm s t duy. Vi trng cú iu kin c

Trên đây là những kinh nghiệm của bản thân tôi trong quá trình giảng dạy ở
trường THCS Qu¶ng §Þnh - một ngôi trường còn nhiều khó khăn, điều kiện học
tập của các em học sinh còn thiếu thốn nhiều. Nhưng bằng sự nỗ lực, thầy và trò
nhà trường đang dần dần khắc phục để đưa sự nghiệp giáo dục đi lên. Rất mong
được sự góp ý chân thành của lãnh đạo cấp trên và các bạn đồng nghiệp để sáng
kiến kinh nghiệm của tôi được đầy đủ và hoàn thiện hơn.
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG

Quảng Xương, ngày 10 tháng 4 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
Người viết

Tô Thị Hợp

21


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 6,7,8,9.
2. Sách giáo viên Ngữ văn 6,7,8,9.
3. Tài liệu chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Ngữ văn.
4. Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn THCS - Dự án phát triển GD
THCS
II - Bộ GD & ĐT - T.S Nguyễn Văn Nam.
5. Sử dụng bản đồ tư duy góp phần tổ chức hoạt động học tập của học sinh- Tạp chí
Khoa học giáo dục, số chuyên đề TBDH năm 2009 –
6. Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy. . Trần Đình Châu, Sử dụng bản đồ tư duy
– một biện pháp hiệu quả hỗ trợ học sinh học tập môn toán, Tạp chí Giáo dục, kì 2tháng 9/2009.

2
Thực trạng sử dụng BĐTD trong dạy học
Ngữ văn ở trường THCS

Trang 2
Trang 4

2.1
2.2
3

Trang 4
Trang 4
Trang 5

3.1.
3.2
3.3
3.4
3.4.1
3.4.2
4

Thuận lợi
Khó khăn
Một số kinh nghiệm sử dụng BĐTD trong
dạy học Ngữ văn THCS nhằm nâng cao chất
lượng dạy học
Sơ đồ tư duy - khái niệm, cấu tạo, các bước
thiết kế, quy trình tổ chức hoạt động vẽ


24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status