Sáng kiến kinh nghiệm Đề tài: Phát huy tính tích cực của học sinh qua việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy –học Ngữ văn 9 - Pdf 47

Sáng kiến kinh nghiệm -Đề tài: Phát huy tính tích cực
của học sinh qua việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy –học Ngữ văn 9

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI: PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH QUA VIỆC
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY - HỌC NGỮ VĂN 9
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ
1/TẦM QUAN TRỌNG CỦA VẤN ĐỀ
Năm học 2011-2012 là năm thực hiện “giảm tải chương trình”, “đổi mới
kiểm tra đánh giá” và hướng tới mục tiêu giáo dục toàn diện với chủ đề là “Tiếp tục
đổi mới công tác quản lí và nâng cao chất lượng dạy học”, thực hiện triển khai
“Xây dựng mô hình trường THCS tổ chức hoạt động đổi mới phương pháp dạy
học”. Ngữ văn là một môn học có vai trò rất lớn trong việc bồi dưỡng giáo dục quan
điểm, tư tưởng, tình cảm, kĩ năng sống, phát triển tư duy cho học sinh. Điều đó đặt
ra yêu cầu trong phương pháp dạy học tăng cường tính thực hành, giảm lí thuyết,
gắn học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động của
cuộc sống.
Sử dụng sơ đồ tư duy (SĐTD) trong dạy học nói chung và ở bộ môn Ngữ Văn
nói riêng là nội dung quan trọng được các cấp của ngành giáo dục triển khai tạo nên
luồng sinh khí mới cho sự sáng tạo trong hoạt động chuyên môn của người thầy
giáo dạy văn. Với vai trò tích cực hoá các hoạt động tạo hứng thú, phát huy tối đa
khả năng tư duy,cảm thụ, sử dụng SĐTD trong dạy học văn là vấn đề tâm điểm, có
tầm quan trọng trong việc thực thi phương pháp đổi mới lấy học sinh làm trung
tâm, giúp giảm tải chương trình, góp phần xây dựng phong trào “Trường học thân
thiện học sinh tích cực”.
2 /THỰC TRẠNG LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ:
Những năm gần đây, một thực trạng đáng lo ngại là tâm lý thờ ơ với việc học
văn ở học sinh. Với phân môn Văn thì các em cho là nặng nề mất nhiều thời gian,
phân môn Tiếng Việt thì “khó, khô, khổ”, kĩ năng làm Tập làm văn ở nhiều học sinh
còn rất yếu...Và học sinh (HS) chưa thật sự phát huy hết tính tính cực, chủ động,
chưa thật sự hứng thú trong việc học môn Ngữ Văn. Điều đáng buồn nhất đối với

trong dạy Ngữ văn. Tôi được tiếp tục học lớp tập huấn về SĐTD do phòng giáo dục
Phú Ninh tổ chức lần 2 và càng hiểu sâu sắc hơn về bản chất, vai trò, cách ứng dụng
SĐTD trong dạy học nói chung và môn Ngữ Văn nói riêng.
Bằng sự cố gắng tìm tòi học hỏi, bản thân tôi đã thành công trong nhiều tiết
dạy sử dụng SĐTD.Từ đó tôi thai nghén ý tưởng mở rộng nội dung nghiên cứu
trong năm học này và lên kế hoạch thực thi và đã đúc kết thành đề tài sáng kiến .
4/ GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:
Trong điều kiện cho phép, đề tài sáng kiến kinh nghiệm, tôi xin được trình
bày trong giới hạn:
- Nội dung nghiên cứu: phát huy tính tích cực của học sinh trong việc sử dụng
BĐTD; bộ môn: Ngữ Văn ; khối lớp: 9
- Kế hoạch thực hiện: Nghiên cứu lí luận, điều tra thực trạng, thực hiện các
biện pháp, đánh giá kết quả thực tiễn, rút bài học kinh nghiệm.
II/ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Những vấn đề cơ bản của lý thuyết Bản đồ tư duy mà Tony Buzan đã tạo
dựng cùng với những chứng cứ khoa học đã chứng minh những ưu điểm, tính năng
SĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực. SĐTD là kĩ thuật dạy học tổ chức
và phát triển tư duy giúp người học chuyển tải thông tin vào bộ não rồi được thông
tin ra ngoài bộ não một cách dễ dàng, đồng thời là phương tiện ghi chép sáng tạo và
hiệu quả, mở rộng, đào sâu và kết nối các ý tưởng, bao quát được các ý tưởng trên
phạm vi sâu rộng. Tính chất ưu điểm của SĐTD thể hiện ở các mặt: sự hình dung,
sự liên tưởng, tưởng tượng, làm nổi bật sự việc
Theo Tiến sĩ Trần Ðình Châu, Vụ trưởng, Giám đốc Dự án phát triển giáo
dục THCS cũng đã khẳng định rằng: “Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não
người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà chính mình suy nghĩ, tự viết, vẽ ra. Vì
vậy, việc sử dụng SÐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa
tiềm năng của bộ não; giúp cho mỗi người phát triển khả năng thẩm mỹ do việc
thiết kế nó phải bố cục mầu sắc, đường nét, các nhánh, sắp xếp các ý tưởng một
cách khoa học, lô-gích, dễ hiểu. Sử dụng SÐTD góp phần đổi mới phương pháp dạy
học, nhất là vận dụng vào dạy học kiến thức mới hoặc hệ thống hóa kiến thức phù

của học sinh qua tiết học văn bản
Số
hs/lớp

Bài dạy

Sử Hiểu, nắm
dụng kiến thức
SĐTD hoàn toàn

Tuyên bố
thế giới về quyền
3 hs
40 hs sông còn,được
Không
bảo vệ,chăm
(7,5 %)
9/2
sóc và phát triển
của trẻ em
40 hs
9/1

Tuyên bố ......
của trẻ em



6 hs
(12, 5 %)

sinh hiểu bài, nắm vững, kiến thức trọng tâm, hứng thú học cao hơn so với tiết dạy
Nguyễn Thị Bích Trâm-Tổ Ngữ Văn – Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi


Sáng kiến kinh nghiệm -Đề tài: Phát huy tính tích cực
của học sinh qua việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy –học Ngữ văn 9

không sử dụng. Kết quả bản đầu là cơ sở thực tiễn chứng minh tính khả thi của việc
sử dụng SĐTD và đã đem đền cho tôi niềm tin để tiếp tục nghiên cứu lí luận, tiến
hành các biện pháp cụ thể.
IV/ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1/ NÂNG CAO NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH VỀ VAI TRÒ CỦA BĐTD
TRONG VIỆC HỌC NGỮ VĂN.
Việc sử dụng sơ đồ trong dạy học là phương pháp tích cực được giáo viên sử
dụng từ lâu trong dạy Ngữ văn. Song trong phương pháp này, sử dụng Bản đồ tư
duy là vấn đề có tính mới. Để học sinh thực hiện tốt việc vận dụng BĐTD, trước hết
tôi tranh thủ khoảng thời gian 15 phút truy bài gặp 2 lớp trực tiếp giảng dạy giới
thiệu về đặc điểm, vai trò, cách thức sử dụng SĐTD trong việc học Ngữ Văn.
Những nội dung tôi trình bày với các em được lấy từ nguồn tài liệu trong các đợt
tập huấn do sở giáo dục Quảng Nam tổ chức.
a/ Đặc điểm của SĐTD.
Sơ đồ tư duy còn gọi là bản đồ tư duy, lược đồ tư duy, … là hình thức ghi
chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một
mạch kiến thức… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét,
màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực. Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, không yêu
cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi
học sinh vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác
nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi em có thể “thể hiện” nó dưới dạng BĐTD theo
một cách riêng, do đó việc lập BĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của
mỗi học sinh.

kế SĐTD trên giấy, bìa, bảng phụ… hoặc trên phần mềm Mindmap (học sinh trực
tiếp làm việc với máy tính)
Cách làm SĐTD :
- Đặt ở trung tâm với một bức ảnh của chủ đề. Chọn những từ khoá và viết
chúng ra vào bức ảnh bằng chữ in hoa.
- Những nhánh được kết nối, bắt đầu từ bức ảnh trung tâm. Những đường nối từ
trung tâm dày hơn, có hệ thống và bắt đầu ốm dần khi toả ra xa.
- Sử dụng màu sắc để tách các ý khác nhau. Mỗi nhánh nên chọn một màu đặc
trưng để dễ phân biệt. Sử dụng những ký hiệu và hình ảnh. Hình ảnh có thể giúp ta
nhớ thông tin hiệu quả hơn là từ ngữ.
- Làm cho bản đồ rõ ràng bằng cách phân cấp các nhánh, sử dụng số thứ tự hoặc
dàn ý để bao quát các nhánh của bản đồ.
- Sử dụng những từ ngữ đơn giản thể hiện thông tin. Những từ dư thừa chỉ làm
sơ đồ lộn xộn.
Từ những hiểu biết ban đầu về vai trò cũng như cách sử dụng học sinh có một
tâm thế chủ động trong việc sử dụng để tìm hiểu kiến thức, rèn các kĩ năng của môn
học.
2. COI TRỌNG KHÂU CHUẨN BỊ CHO TIẾT DẠY-HỌC NGỮ VĂN
a. Học sinh: Đầy đủ sách vở dụng cụ .
- Sách giáo khoa Ngữ văn 9, sách bài tập ngữ văn 9 (2 tập).
- Vở: Vở học, vở soạn, vở bài tập, vở vẽ sơ đồ tư duy.
- Bảng phụ (4 em có một bảng phụ), phấn màu hoặc bút lông màu.
- Bút 6 màu viết vẽ trên vở.
- Có kĩ năng hoạt động nhóm, tự tin mạnh dạn khi phát biểu bài.
b. Giáo viên
- Dặn dò cụ thể chu đáo các nội dung chuẩn bị cho bài học mới, nhất là những
bài cho học sinh soạn bài bằng cách vẽ sơ đồ tư duy.
- Xác định mục tiêu bài dạy, soạn giáo án chú trọng đưa hoạt động sử dụng
BĐTD sao cho phù hợp.
- Hướng dẫn học sinh cách vẽ BĐTD trong bảng phụ, trong vở.

Ví dụ 1: Dạy bài Truyện Kiều (tiết tìm hiểu chung về tác giả tác phẩm)
- Hoạt động 1: HS lập BĐTD với từ khóa và hoạt động nhóm:
Nhóm 1, 2, 3, 4 tìm hiểu về tác giả Nguyễn Du
Nhóm 5, 6, 7, 8 tìm hiểu về tác phẩm Truyện Kiều theo câu hỏi gợi tìm của
giáo viên
- Hoạt động 2: HS hoặc đại diện của các nhóm HS lên báo cáo, thuyết minh về
BĐTD mà nhóm mình đã thiết lập.
- Hoạt động 3: HS thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện SĐTDvề kiến
thức của phần tìm hiểu tác giả tác phẩm. GV là người cố vấn, là trọng tài giúp HS
hoàn chỉnh BĐTD, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học.
- Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một SĐTD mà GV đã chuẩn bị sẵn kết
nối cả hai sơ đồ thành sơ đồ tư duy của học sinh ở hai nội dung (tác giả Nguyễn Du
và tác phẩm Truyện Kiều) thành sơ đồ tổng hợp, giới thiệu cho học sinh.
Hệ thống kiến thức của bài học bao gồm:
- Tác giả Nguyễn Du bao gồm các yếu tố :
+ Gia đình
+ Thời đại
+ Cuộc sống,tâm hồn
+ Sự nghiệp sáng tác...
- Tác phẩm truyện Kiều bao gồm:
+ Nguồn gốc
+ Chữ viết
+ Thể thơ
+ Bố cục,
+ Tóm tắt
+ Giá trị của Truyện Kiều: giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật...
Bằng phương pháp vấn đáp,hệ thống câu hỏi gợi mở, giáo viên là người có
vai trò định hướng cho học sinh khai thác kiến thức của bài học.Trên cơ sở đó hình
thành và củng cố toàn bộ kiến thức về tác giả, tác phẩm truyện kiều cho HS bằng
SĐTD.

Sáng kiến kinh nghiệm -Đề tài: Phát huy tính tích cực
của học sinh qua việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy –học Ngữ văn 9

Sơ đồ tư duy: Nội dung bản “ Tuyên bố thê giới
về quyền sống còn,được bảo vệ và phát triển của trẻ em”

Ví dụ 3: Dạy bài Mùa xuân nho nhỏ
Ở phần hoạt động hướng dẫn học sinh tổng kết văn bản giáo viên cho thảo
luận nhóm với hệ thống câu hỏi sau.
- Bài thơ thể hiện những tình cảm, cảm xúc gì? (Nhóm 1, 2)
- Có người cho rằng nhan đề bài thơ rất độc đáo, ý em thế nào? (Nhóm 3, 4)
- Những cảm nghĩ, suy ngẫm nào trong em được gợi lên từ bài thơ ? (Nhóm 5,
6)
- Vẽ sơ đồ tư duy những nét đặc sắc nghệ thuật của bài thơ ? (Nhóm 7, 8)
Sau khi thảo luận nhóm ghi vào bảng phụ, đại diện 3 nhóm (trong các nhóm
1, 2, 3, 4, 5, 6) trình bày tìm hiểu nội dung tư tưởng bài thơ, nhan đề.... Riêng 1
nhóm (trong 2 nhóm 7, 8) vẽ trên bảng phụ bằng phấn màu hoặc bút màu trến giấy
A2 và thuyết trình về những nét đặc sắc nghệ thuật của bài thơ Mùa xuân nho nhỏ.
Nhóm khác góp ý bổ sung. Sau đây là hình ảnh một sơ đồ do một nhóm học sinh vẽ
9 (thấy sơ đồ hơi lạ,chữ lại viết vòng,khó xem, tôi đã hỏi ý tưởng nào mà nhóm em
vẽ như thế, các em bảo là “bình hoa với chùm hoa như bóng bay đủ màu tượng
trưng cho những nét đẹp của xuân đó cũng là những nét đặc sắc nghệ thuật của bài
thơ”)

Nguyễn Thị Bích Trâm-Tổ Ngữ Văn – Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi


Sáng kiến kinh nghiệm -Đề tài: Phát huy tính tích cực
của học sinh qua việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy –học Ngữ văn 9


một văn bản, người học phải tìm ra mạch của văn đó (xét đơn thuần về mặt ý).
SĐTD không tái hiện được cảm xúc, không chuyển tải hết sự tinh tuý trong nghệ
thuật dùng ngôn ngữ, giọng điệu, hình ảnh, cấu trúc tác phẩm. Vì vậy, sử dụng
Nguyễn Thị Bích Trâm-Tổ Ngữ Văn – Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi


Sáng kiến kinh nghiệm -Đề tài: Phát huy tính tích cực
của học sinh qua việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy –học Ngữ văn 9

SĐTD trong dạy học Ngữ Văn là cần thiết, nhưng phải cân nhắc mức độ sử dụng
trong việc dạy văn bản và cần tránh sự suy diễn khô khan dẫn làm đánh mất giá trị
tác phẩm.
b/ Dùng BĐTD để tích cực hóa giờ dạy Tiếng Việt
Dạy Tiếng Việt cần chú trọng khâu thực hành luyện tập. Để học sinh làm tốt
dạng bài tập nhận biết, dùng từ đặt câu, viết đoạn văn điều quan trọng đầu tiên là
phải dạy cho học sinh nắm vững kiến thức lí thuyết. SĐTD sẽ giúp học sinh có sự
hệ thống hóa kiến thức từng bài từng chương, phần nhất là ở sự so sánh, tích hợp,
khắc sâu kiến thức và tiết kiệm được thời gian.
Ví dụ 1: Bài Cách dẫn trực tiếp cách dẫn gián tiếp
Giáo viên có thể vẽ mô hình SĐTD lên bảng. SĐTD gồm 2 nhánh chính: dẫn
trực tiếp, dẫn gián tiếp. Mỗi nhánh có thể phân thành nhiều nhánh nhỏ tuỳ thuộc vào
nội dung khái niệm.
Để có thể hoàn thiện được mô hình SĐTD của bài học, giáo viên sử dụng hệ
thống câu hỏi định hướng để HS tìm hiểu, khai thác kiến thức.

Sơ đồ tư duy về cách dẫn lời nói, ý nghĩ

Ví dụ 2: Bài Các phương châm hội thoại (PCHT)
Để hệ thống lại toàn bộ kiến thức về Các PCHT học, ở phần củng cồ (cuối
tiết 2) của bài này, giáo viên cho học sinh hình thành sơ đồ về các PCHT và gợi cho


GV cho từ khóa và sơ đồ nhánh cấp 1 gồm 4 nhánh đều màu đen (để học
sinh khó đoán ngay) sau đó đưa các ghép nhánh con A, B, C, D cho tổ chức trò
chơi (sơ đồ tư duy bài tập ở trang 12) . Trò chơi hoàn thành, sơ đồ được lắp ghép
toàn vẹn phù hợp.

Nhờ hoạt động này mà học sinh có cái nhìn tổng thể về cả phần ôn tập tổng
kết từ vựng ở cả chương trình Tiếng Việt THCS một cách một cách nhẹ nhàng, tự
nhiên nhưng rất hiệu quả, đồng thời kích thích hứng thú học tập của HS.
Sau mỗi bài học, giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh tự hệ thống kiến thức
trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ SĐTD. Mỗi bài học được vẽ
kiến thức trên một trang giấy rời rồi kẹp lại thành tập. Việc làm này sẽ giúp các em
dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh chóng, dễ dàng.
c/ Dùng BĐTD để tích cực hóa giờ dạy –học Tập làm văn :
Ở phân môn Tập làm văn cũng có thể sử dụng SĐTD ở những tiết lí thuyết có
tính chất hướng dẫn học sinh qui nạp kiến thức về kiểu bài. Song cần thấy rằng sơ
đồ tư duy sử dụng rất hữu hiệu cho việc rèn kĩ năng tìm hiểu đề tìm ý, lập dàn ý. Để
học sinh không máy móc chép văn mẫu, bài mẫu, giáo viên cần cho học sinh nắm
vững phương pháp thực hiện các kĩ năng. Kĩ năng tìm ý lập dàn ý tương đối khó và
đòi hỏi nhiều thời gian làm bài khiến học sinh thường hay lúng túng. Sử dụng
SĐTD hướng dẫn học sinh kĩ năng này rất thuận lợi và nhanh chóng, hiệu quả bởi
các em luôn có sự chủ động, tích cực trong việc nắm bắt hệ thống câu hỏi cơ bản
tìm luận điểm, luận cứ cho mỗi dạng bài nghị luận.
Ví dụ : Bài Cách làm bài nghị luận về sự việc hiện tượng đời sống
Nguyễn Thị Bích Trâm-Tổ Ngữ Văn – Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi


Sáng kiến kinh nghiệm -Đề tài: Phát huy tính tích cực
của học sinh qua việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy –học Ngữ văn 9



Sáng kiến kinh nghiệm -Đề tài: Phát huy tính tích cực
của học sinh qua việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy –học Ngữ văn 9

GV sử dụng câu hỏi gợi tìm lần lượt cho nhiều đối tượng học sinh trả lời,quan
tâm đến cả những em không giơ tay phát biểu vì đề bài có tính gần gũi với cuộc
sống, các em sẽ đưa ra được những ý kiến phong phú nếu giáo viên biết khơi gợi,
phát huy những hiểu biết, khả năng đánh giá vốn tiềm tàng ở học sinh. Sau đây là
SĐTD xây dựng cách tìm ý, lập dàn ý cho đề bài Hiện tượng vứt rác bừa bãi.

Học sinh sẽ dựa vào sơ đồ tìm ý một cách nhanh chóng và trình bày lần lượt
các lí lẽ dẫn chứng một cách dễ dàng. Từ đó giáo viên chốt lại phương pháp lập dàn
ý cụ thể cho bài nghị luận về hiện tượng đáng khen và đáng chê theo bảng sau (bảng
phụ).
Bố cục
Hiện tượng đáng khen
Hiện tượng đáng chê
Mở bài

Giới thiệu chung về vấn đề nghị luận
1.Nêu biểu hiện

1.Nêu thực trạng

Thân bài
2.Đánh giá, nhận xét về biểu 2.Phân tích nguyên nhân của
hiện
những biểu hiện
3.Phân tích tác dụng, vai trò của 3.Phân tích tác hại của hiện
hiện tượng

của em Phạm Thị Thẩm lớp 9/2

Nguyễn Thị Bích Trâm-Tổ Ngữ Văn – Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi


Sáng kiến kinh nghiệm -Đề tài: Phát huy tính tích cực
của học sinh qua việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy –học Ngữ văn 9

SĐTD về hiện tượng
Vứt rác bừa bãi của em
Nguyễn Thị Duyên lớp 9/1

SĐTD về hiện tượng Phạm Văn
Nghĩa của em Nguyễn

Thị Hoàn Hậu lớp 9/2

d/ Sử dụng SĐTD kết hợp với phương pháp dạy học tích cực
Nguyễn Thị Bích Trâm-Tổ Ngữ Văn – Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi


Sáng kiến kinh nghiệm -Đề tài: Phát huy tính tích cực
của học sinh qua việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy –học Ngữ văn 9

Sử dụng SĐTD là nội dung có tính mới của việc vận dụng một phương pháp
dạy học tích cực: phương pháp sử dụng sơ đồ trong dạy học Ngữ văn. Phương pháp
này không thể sử dụng độc lập mà cần có sự kết hợp nhuần nhuyễn với các phương
pháp dạy học khác thì mới phát huy hết hiệu quả.
Đối với những SĐTD mà giáo viên có chủ ý vừa hình thành vừa qui nạp hoặc
hệ thống hóa kiến thức có tính ổn định về mô hình cấu trúc thì giáo viên cho từ khóa

+ Phần thân bài, để nghị luận về vấn đề đó trong bài thơ, em cần xây dựng hệ
thống luận điểm như thế nào? Dùng những luận cứ, luận chứng nào?
+ Kết bài ra sao?
+ Hãy vẽ BĐTD theo ý tưởng dàn ý của mỗi nhóm (chia 4 nhóm)
Giáo viên chọn treo lên bảng hai BĐTD
+ Hãy cử đại diện trình bày dàn ý bài luyện nói thông qua bản đồ tư duy nhóm
em vẽ?

Nguyễn Thị Bích Trâm-Tổ Ngữ Văn – Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi


Sáng kiến kinh nghiệm -Đề tài: Phát huy tính tích cực
của học sinh qua việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy –học Ngữ văn 9

Sau đây là một sơ đồ tư duy thảo luận nhóm học sinh lớp 92 về đề bài Bếp
lửa nêu trên

SĐTD sử dụng ở trường hợp này là một công cụ tư duy thực sự hiệu quả bởi
nó tối đa hoá được sáng tạo, sự hợp tác chia sẻ. Mỗi học sinh trong nhóm đều rèn
luyện được khả năng tư duy, kỹ năng lập ý để thuyết trình. Chỉ cần nhìn vào sơ đồ
tư duy, bất kỳ em nào của nhóm cũng có thể thuyết trình được nội dung bài luyện
nói.
4/ KẾ HOẠCH BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ MINH HỌA CÓ SỬ DỤNG SƠ
ĐỒ TƯ DUY:
Tên bài dạy:
ÔN TẬP VỀ TRUYỆN
Tiết theo PPCT:
153
Môn dạy:
NGỮ VĂN

Hoạt động
của trò

Tư liệu,
phương tiện,
đồ dùng

Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ – Giới thiệu bài mới ( 5 phút)
Mục tiêu: Kiểm tra sự chẩn bị ôn tập nắm kiến thức cơ bản của học sinh. Tạo
tâm thế vào bài mới
Phương pháp: phát vấn sử dụng sơ đồ, thuyết trình.
Kiểm tra bài

Giới thiệu
bài: Các em sẽ
cùng cô tìm
hiểu hệ thống
hóa về các giai
đoạn sáng tác,
những nét
chính về nội
dụng và nghệ
thuật qua các
tác phẩm trong
bài học hôm
nay

GV: Trình chiếu cụm từ khóa
- Kể tên các tác phẩm truyện
hiện đại Việt Nam (lớp 9)?

theo dõi

+ Slide 5: sơ
đồ minh họa
- Phần mềm
Mindmap

Nguyễn Thị Bích Trâm-Tổ Ngữ Văn – Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi


Sáng kiến kinh nghiệm -Đề tài: Phát huy tính tích cực
của học sinh qua việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy –học Ngữ văn 9

Họat động 2: Hướng dẫn học sinh thống kê các tác phẩm (10 phút)
Mục tiêu: Nắm tác giả, tác phẩm năm sáng tác, tóm tắt nội dung tác phẩm.
Phương pháp: Trực quan, phát vấn, sử dụng tranh ảnh, sơ đồ
I/ Thống kê Hỏi 1(H1): Trò chơi: Đây là
các tác phẩm ai? Từ thông tin gợi ý, em Lắng
hãy quan sát tranh và cho biết
nghe,
đây là nhà văn nào (tác giả quan sát
của những tác phẩm truyện
Việt Nam hiện đại mà em đã
được học)?

Bảng trình
chiếu:
+ Slide 6:
giơí thiệu
mục 1 của bài


Một nhà văn nữ có sở trường
Nguyễn
về truyện ngắn với ngòi bút - Lắng nghe,
miêu tả tâm lí tinh tế.Trước quan sát, trả Quang Sáng
1975: viết về cuộc sống chiến lời
đsâu của những TNXP trên
chiến trường Trường Sơn.Sau
1975: Viết về những chuyển
biến xã hội và con người trên
tinh thần đổi mới.
Lê Minh Khuê
Những thiên truyện của ông
thể hiện một phong cách văn - Lắng nghe,
xuôi nhẹ nhàng, tình cảm, giàu quan sát, trả
chất thơ và mang nhiều ý lời
nghĩa sâu sắc về vẻ đẹp con
người

Nguyễn
Ông được đánh giá là một
trong số những người “mở - Lắng nghe, Thành Long
đường tinh anh và tài năng”, quan sát, trả
đã đi được xa nhất trong lời
chặng mở đầu của công cuộc
đổi mới văn học sau 1975
H: Hãy xếp lại nội dung tóm
tắt trong bảng thống kê
truyện cho phù hợp ?


Làng
làng chợ Dầu theo giặc, truyện thể hiện tình yêu làng
thống nhất với tình yêu nước, của người nông dân
Lặng lẽ
Cuộc gặp gỡ tình cờ của ông họa sĩ, cô kĩ sư mới ra
Sapa
trường với người thanh niên làm việc một mình trên
đỉnh Yên Sơn. Qua đó ca ngợi những con người lao
động thầm lặng cống hiến hết mình cho đất nước
Câu chuyện cảm động về về hai cha con ông Sáu trong
Chiếc lược
lần về thăm nhà và ở khu căn cứ. Qua đó truyện ca ngợi
ngà
tình cha con thắm thiết trong hoàn cảnh chiến tranh
Qua những cảm xúc và suy ngẫm của nhân vật Nhĩ vào
lúc cuối đời trên giường bệnh, thức tỉnh mọi người sự
Bến quê
trân trọng trọng những giá trị và vẻ đẹp bình dị của quê
hương
Cuộc sống chiến đấu của ba cô thanh niên xung phong
Những
trên cao điểm Trường Sơn. Truyện làm nổi bật tâm hồn
Ngôi sao
trong sáng mơ mộng tinh thần dũng cảm, lạc quan cuộc
xa xôi
sống chiến đấu gian khổ hi sinh của họ.

Họat động 3 : Hướng dẫn HS tìm hiểu nội dung các tác phẩm.(12 phút )
Mục tiêu: Nắm những nội dung chủ yếu về cuộc sống chiến đấu, tư tưởng, tình
cảm của con người Việt Nam qua các tác phẩm

em) ghi vào luận

Nguyễn Thị Bích Trâm-Tổ Ngữ Văn – Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi


Sáng kiến kinh nghiệm -Đề tài: Phát huy tính tích cực
của học sinh qua việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy –học Ngữ văn 9

truyện :
con người VN qua các tác
- Phản ánh đời phẩm truyện?
sống và con
người
Việt
Nam
- Cuộc sống
xây dựng và
- Nhận xét, chốt nội dung.
chiến đấu
- Những tư
tưởng tình cảm
đẹp .
H3: Hãy kể tên nhân vật tiêu
biểu?Nêu những nét nổi bật
về tình cảm tính cách của
những nhân vật tiêu biểu
trong mỗi tác phẩm để hoàn
thành sơ đồ tư duy sau?
Định hướng bằng BĐTD


Nguyễn Thị Bích Trâm-Tổ Ngữ Văn – Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi


Sáng kiến kinh nghiệm -Đề tài: Phát huy tính tích cực
của học sinh qua việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy –học Ngữ văn 9

truyện (7 phút)
Mục tiêu: nắm vững nét đặc sắc về nghệ thuật chọn ngôi kể, xây dựng tình
huống, miêu tả tâm lí qua các tác phẩm
Phương pháp: Phát vấn, đàm thoại, nêu vấn đề
3. Đặc sắc
nghệ thuật
- Ngôi kể phù
hợp.
- Tình huống
truyện đặc sắc.
- Miêu tả tâm
lí tinh tế

H5:Các tác phẩm truyện được
trầnthuật theo ngô ikể nào?
Những truyện nào có nhân
vật kể chuyện trực tiếp xuất
hiện(nhân vật xưng tôi) ?
H6: Có ý kiến cho rằng đây
là cách trần thuật có ưu thế?
Ý em thế nào ?
- Nhận xét, định hướng.
H7: Theo em, tác phẩm nào
xây dựng được tình huống

H 8: Hoàn thành sơ đồ tư
duy tổng kết lại nội dung bài
học về truyện hiện đại Việt
Nam (VN) và thuyết minh sơ
đồ (nhánh) của nhóm ?
Nhóm 1, 2: Các giai đoạn
sáng tác của truyện hiện đại
VN
Nhóm 3, 4, 5: Nghệ thuật
truyện hiện đại VN
Nhóm 6, 7, 8: Nội dung
truyện hiện đạị VN
- Ghi từ khóa lên bảng
- Hướng dẫn học sinh chọn
phấn màu
- Định hướng và trình chiếu sơ
đồ tư duy cho hs tham khảo

- Thảo luận
nhóm
trên giấy
vở.

Bảng trình
chiếu:
+ Slide 21:
Câu hỏi luyện
tập

- Đại diện lên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status