A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trước những yêu cầu mới của xã hội đối với sự nghiệp giáo dục và đào
tạo với những tiến bộ của khoa học công nghệ, vì sự phát triển của đất nước,
trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đòi hỏi phải đào tạo ra lớp người
mới năng động sáng tạo, đủ khả năng giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt
ra. Động cơ học tập được mở rộng, học để biết, học để làm quen, chung sống
với người khác, học để tự khẳng đònh mình. Trước những yêu cầu thực tế đó đòi
hỏi ngành giáo dục phải đổi mới mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, do đó
dạy học cũng phải thay đổi phương pháp dạy và học.
- Trong các phương pháp hiện nay có phương pháp dạy học hoạt động
nhóm là một trong những phương pháp luôn phát huy tính tích cực của học sinh
giúp học sinh:
+ Lónh hội được kiến thức mới qua tạo nhóm.
+ Có sự liên quan chặc chẽ giữa kiến thức cũ và kiến thức mới vừa học.
+ Phát huy tính tích cực của học sinh qua việc tìm hiểu kiến thức mới.
Đặc biệt là vận dụng sáng tạo kiến thức vừa học vào đời sống xã hội.
- Bộ môn sinh học cũng như các môn khác đang cố gắng đổi mới phương
pháp dạy học. Việc đổi mới ấy được thực hiện ở từng tiết dạy, từng cách học
của học sinh. Học ở lớp, ở trường, ở nhà mà đặc biệt là học ở từng nhóm. Tuy
nhiên phương pháp này vẫn còn tồn tại một số nhược điểm nhất đònh.
- Là một giáo viên được phân công giảng dạy môn Sinh học, thì vấn đề
đặt ra làm thế nào để học sinh phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, tư
duy sáng tạo, khả năng thực hành, thí nghiệm, lòng say mê học tập và ý chí
vươn lên đã làm tôi trăn trở suy nghó lựa chọn, kết hợp linh hoạt các phương
pháp dạy học, trong các phương pháp đó tôi nhận thấy phương pháp mới mẻ
nhất, khả quan nhất là phương pháp “ phương pháp thảo luận nhóm”. Nhưng
trong thực tế giảng dạy việc tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm tích cực và có
hiệu quả là một vấn đề rất khó khăn mà bản thân đã gặp, nhất là học sinh lớp
6, cho nên tôi chọn phương pháp thảo luận nhóm làm đề tài nghiên cứu của
mình, nhằm tìm ra các giải pháp hợp lí để phát huy tính tích cực của học sinh
thức, khả năng tư duy độc lập và chủ động sáng tạo để tìm ra tri thức mới.
Trang 2
B. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
- Dựa vào văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục & Đào tạo về việc đổi mới
phương pháp dạy học bộ môn sinh học trong trường THCS.
+ Căn cứ vào công văn số 1134/CV-SGD về bồi dưỡng phương pháp
giảng dạy và học ở Trường Trung học cơ sở.
+ Căn cứ vào công văn số 7201/GDTH đưa ra các yêu cầu về phương
pháp dạy học của bộ môn sinh học.
+ Căn cứ vào công văn số 8368/ THPT của Bộ Giáo dục & Đào tạo về
phát huy tư duy của học sinh.
- Trước xu thế đi lên của thời đại, sự phát triển không ngừng của các ngành
khoa học kó thuật, thì trong ngành giáo dục cũng không ngừng đổi mới và phát
triển.
- Việc đổi mới , trước tiên là đổi mới phương pháp dạy học là trọng tâm đổi
mới giáo dục hiện nay. Phương pháp dạy học đổi mới theo hướng phát huy tính
tích cực chủ động sáng tạo của người học. Học sinh tự giác chủ động tìm tòi
phát hiện giải quyết nhiệm vụ, nhận thức và có ý thức vận dụng linh hoạt sáng
tạo các kiến thức kó năng đã thu nhận được. Muốn đổi mới cách học phải đổi
mới cách dạy, do đó trong đổi mới phương pháp phải có sự hợp tác của thầy và
trò, phải có sự phối hợp giữa hoạt động dạy và học thì mới thành công.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1 Thực tiễn của vấn đề nghiên cứu:
Trong thực tế ý chí và năng lực của học sinh không đồng đều tuyệt đối.
Vì vậy làm thế nào để giảm bớt đi sự chênh lệch ấy? Làm thế nào để các em
có ý thức tương trợ, đoàn kết giúp nhau cùng tiến bộ trong học tập? Làm thế
nào để các em chủ động tìm tòi kiến thức? Để hiểu sâu nhớ lâu kiến thức sinh
học? Và để học với bạn, học với sách.
Thông qua sự hợp tác tìm tòi nghiên cứu thảo luận, tranh luận trong tập
3.1 Vấn đề đặt ra:
Để đạt được kết quả cao trong phương pháp hoạt động nhóm giáo viên phải
lập kế hoạch chi tiết cho hoạt động nhóm.
a. Sự cần thiết phải tổ chức hoạt động nhóm:
- Là phương pháp mà trong đó giáo viên tổ chức cho học sinh trong cùng một
nhóm phân công, thực hiện, hợp tác cùng giải quyết một vấn đề nhất đònh.
- Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng nhằm giúp mọi học sinh tham
gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em chia sẽ kiến
thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết vấn đề có liên quan đến nội dung bài
học, tạo cơ hội cho các em giao lưu, học hỏi lẫn nhau, cùng nhau hợp tác giải
quyết nhiệm vụ chung.
- Phát triển kó năng giao tiếp của học sinh.
b. Thực trạng của vấn đề ( Những thuận lợi và khó khăn trong việc
tổ chức hoạt động học tập theo nhóm )
• Thuận lợi:
- Kiến thức của học sinh trở nên sâu sắc, bền vững dễ nhớ và nhớ nhanh
hơn do được giao lưu, học hỏi giữa các thành viên trong nhóm.
- Kiến thức học sinh bớt chủ quan, phiến diện, tăng tính khách quan của
khoa học.
Trang 4
- Học sinh được giao tiếp, được sử dụng vốn hiểu biết bằng ngôn ngữ
của mình để biểu đạt những suy nghó riêng. Những em nhút nhát trở nên bạo
dạn hơn vì được mạnh dạn nêu ý kiến của mình và được trân trọng lắng nghe.
- Các em học được cách trình bày ý kiến của mình, biết lắng nghe giáo
viên nhận xét ý kiến của bạn. Nhờ đó giúp các em dễ hoà nhập với cộng đồng
nhóm, tạo cho các em tự tin, hứng thú trong học tập và sinh hoạt.
- Nhiều học sinh được phát biểu hơn so với câu đối thoại tiến hành toàn
lớp.
- Học sinh phát triển năng lực tự đánh giá khi có dòp so sánh với ý kiến
của bạn, với kết luận của giáo viên để tự điều chỉnh những sai sót của mình để
mỗi nhóm có số người bằng nhau.
- Có nhiều kiểu thành lập nhóm, nhưng ta có thể tập trung vào hai kiểu
chủ yếu sau:
♦Thành lập nhóm ngẫu nhiên:
+ Đếm số thứ tự 1, 2, 3, 4, …và lặp lại đến hết số học sinh của lớp. Tất
cả các học sinh có cùng số thứ tự vào ngồi một nhóm.
+ Nhóm rì rầm: 2 đến 3 học sinh trao đổi để trả lời một câu hỏi, giải
quyết một vấn đề, phác thảo một ý tưởng thiết kế.
♦ Thành lập nhóm chủ đònh:
+ Nhóm chuyên môn: Tập hợp những người có cùng một nhiệm vụ ở
từng nhóm lại thành nhóm bộ môn.
+ Nhóm theo đòa bàn dân cư
* Mỗi nhóm có một nhóm trưởng, một thư kí. Học sinh cần thay nhau làm
“ nhóm trưởng”, “ thư kí” và đại diện nhóm trình bày kết quả thảo luận.
Có thể thay đổi nhóm trong tiết học để luôn tạo ra sự mới mẽ và tăng
cường hoạt động giao tiếp của các thành viên trong lớp học.
* Mỗi nhóm thực hiện một loạt nhiệm vụ hoặc cùng thực hiện một nhiệm
vụ học tập. Trong nhóm mỗi thành viên được phân công hoàn thành nhiệm vụ,
rồi cùng nhau tham gia thảo luận nhóm. Mỗi nhóm cử đại diện thay mặt nhóm
báo cáo. Hình thức này buộc các thành viên trong nhóm cùng hoạt động cùng
hợp tác với nhau làm việc, qua đó rèn được kó năng giao tiếp nhận thức cho học
sinh.
d. Qui trình làm việc theo nhóm.
Sự hợp tác trong nhóm phải dựa vào sự đóng góp của mỗi thành
viên trong nhóm. Không được ỷ lại vào người khác. Mỗi người đều phải
tư duy một cách tích cực. Do vậy phương pháp này bao gồm các bước:
- Bước1: Giới thiệu chủ đề
- Bước 2: Chia nhóm, bầu nhóm trưởng, thư ký.
- Bước 3: Giao nhiệm vụ trong nhóm, cá nhân, giáo viên hướng dẫn thực
hiện nhiệm vụ thảo luận, qui đònh thời gian và phân công vò trí làm việc của các
câu hỏi:
? Nhận xét cấu tạo hình dạng, các tế bào của cùng một loại mô của các
loại mô khác nhau.
? Rút ra kết luận mô là gì
- Học sinh thảo luận ( 3 phút )
- Học sinh đại diện báo cáo
- Học sinh nhóm khác nhận xét, bổ sung.
- Giáo viên nhận xét chốt lại kiến thức.
- Giáo viên phân tích thêm: Chức năng của tế bào trong mô nhất là mô
phân sinh làm cho các cơ quan của thực vật lớn lên.
- Giáo viên nhận xét chốt lại kiến thức.
* Hoạt động nhóm theo bàn ( 4 em )
- Áp dụng cho bài học có lượng câu hỏi với kiến thức khó, đòi hỏi tư duy
nhiều, học sinh cần phải thảo luận nhóm, bàn bạc … để rút ra kết luận
Ví dụ 1: Môn sinh 6
Tiết 12: Thực hành: Quan sát biến dạng của lá
- Giáo viên giới thiệu mục tiêu của bài.
Trang 7
Nêu được những đặc điểm về hình thái và chức năng của một số loại lá
biến dạng. Hiểu được ý nghóa biến dạng của lá.
- Chia nhóm bầu nhóm trưởng ( mỗi bàn một nhóm ), một thư ký.
- Giáo viên phát phiếu học tập, mẫu vật và giao nhiệm vụ cho các nhóm:
Học sinh lần lượt quan sát đặc điểm hình thái của lá biến dạng theo trật tự của
phiếu học tập, tìm hiểu chức năng của các loại lá biến dạng.
- Các nhóm thảo luận ( 4 phút ) phân công giải quyết nhiệm vụ được
giao, Mối học sinh chòu trách nhiệm quan sát và trình bày trước nhóm về hai
loại lá biến dạng. Các học sinh khác nhận xét thảo luận, thống nhất ý kiến và
ghi vào phiếu học tập.
- Đại diện nhóm trình bày, trình bày kết quả thảo luận của nhóm, Các
nhóm khác quan sát lắng nghe, chất vấn, bình luận và bổ sung ý kiến.
a. Kiến thức
- Thông qua thí nghiệm HS phát hiện ra các điều kiện cần cho hạt nảy
mầm.
- Giải thích được cơ sở khoa học của một số biện pháp kỹ thuật gieo
trồng và bảo quản hạt giống.
- Thiết kế được thí nghiệm xác đònh một trong những yếu tố cần cho hạt
nảy mầm.
b. Kó năng
Rèn kó năng quan sát, thiết kế thí nghiệm, hoạt động nhóm.
c. Thái độ
Liên hệ GDMT: HS ý thức bảo vệ môi trường ổn đònh cần thiết cho sự
nảy mầm của hạt.
2. Chuẩn bò
GV: Thí nghiệm SGK/ 113
HS:- HS làm trước thí nghiệm ở nhà thí nghiệm SGK/ 113, 114.
- Kẻ bảng tường trình theo mẫu SGK/ 113 vào vở
3. Phương pháp
Quan sát, vấn đáp, giảng giải, hoạt động nhóm.
4. Tiến trình
4.1/Ổn đònh: Kiểm diện.
4.2/ Kiểm tra bài cũ:
Câu hỏi
1. Phát tán là gì? Có mấy cách
phát tán? Nêu rõ đặc điểm của
từng cách phát tán?
Đáp án
1. Phát tán là quả và hạt được chuyển đi xa
nơi nó sống.
Có 3 cách phát tán:
- Phát tán nhờ gió: Có cánh hoặc túm
khí, nhiệt độ thích hợp.
- Thí nghiệm 1: ( làm ở nhà )
GV: Y/c HS ghi kết quả thí nghiệm vào
bảng tường trình.
HS: Thảo luận nhóm ( 3 phút )
Yêu cầu HS nêu được:
+ Tìm hiểu nguyên nhân nảy mầm và
không nảy mầm được?
+ Hạt nảy mầm cần những điều kiện
nào?
HS: Báo cáo → HS khác nhận xét
+ Hạt không nảy mầm vì thiếu nước,
thiếu không khí.
+ Hạt nảy mầm cần đủ nước, không
khí.
GV: Nhận xét → kết luận
- Thí nghiệm 2: GV y/c HS nghiên cứu
thí nghiệm 2 SGK và trả lời
HS: Trả lời
+ Hạt đỗ trong cốc không nảy mầm vì
nhiệt độ không thích hợp.
+ Hạt nảy mầm cần có nhiệt độ thích
hợp
GV: Nhận xét rút ra kết luận
I. Thí nghiệm về những điều kiện
cần cho hạt nảy mầm
Trang 10
GV: Y/c HS nghiên cứu thông tin trả
lời câu hỏi
? Ngoài 3 điều kiện trên sự nảy mầm
- Phải bảo quản tốt hạt giống → vì hạt
đủ phôi mới nảy mầm được.
Hạt nảy mầm cần đủ nước, không khí
và nhiệt độ thích hợp. Ngoài ra cần
hạt chắc, không sâu, còn phôi.
II. Những hiểu biết về điều kiện nảy
mầm của hạt được vận dụng như thế
nào trong sản xuất.
Trang 11
- Làm đất tơi xốp → đủ không khí hạt
nảy mầm tốt.
- Phủ rơm khi trời rét→ giữ nhiệt dộ
thích hợp cho cây non phát triển.
- Gieo hạt đúng thời vụ vì nếu không
đúng thời vụ hạt có thể bò rét quá
không nảy mầm được hoặc bò mưa
ngập nước không nảy mầm được.
GV: Y/c HS rút ra kết luận
- Gieo hạt bò mưa to ngập úng → tháo
nước để thoáng khí.
- Phải bảo quản tốt hạt giống→ vì hạt
đủ phôi mới nảy mầm được.
- Làm đất tơi xốp → đủ không khí hạt
nảy mầm tốt.
- Phủ rơm khi trời rét → giữ nhiệt độ
thích hợp.
- Gieo hạt đúng thời vụ → để hạt nảy
mầm tốt.
4.4/ Củng cố và luyện tập:
chất lượng xấu.
4.5/ Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà
- Học bài trả lời câu hỏi trong SGK.
- Đọc mục “ Em có biết”
- Ôn lại kiến thức về cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản của cây.
- Chuẩn bò bài “ Tổng kết về cây có hoa”
- Mỗi nhóm quan sát kó về sơ đồ cây có hoa và nghiên cứu bảng trong SGK/
116 thực hiện lệnh SGK/ 116 và trả lời hai câu hỏi phần 1. Phần 2 các em
đọc kó và nắm nội dung thông tin để trả lời câu hỏi giữa các cơ quan ở cây có
hoa có mối quan hệ như thế nào?
5. Rút kinh nghiệm:
Hết giáo án minh hoạ
* Hiệu quả:
Sau một thời gian bản thân đã sử dụng phương pháp dạy học theo nhóm nhỏ
bước đầu đã thấy đạt kết quả tương đối khả quan.
- Lúc đầu thì chưa quen với phương pháp này cả giáo viên và học sinh còn
nhiều lúng túng.
+ Giáo viên sợ hết giờ không dám cho học sinh thảo luận lâu, có gì thắc mắc
giáo viên giải quyết ngay, chưa để cho học sinh tự tháo gỡ thắc mắc, giáo viên
còn nói nhiều.
+ Học sinh còn lúng túng, học sinh trong nhóm chưa thật sự biết giúp đỡ
nhau, học sinh yếu còn thụ động để mọi việc cho học sinh khá giỏi giải quyết
hết.
- Sau một vài tuần làm quen với phương pháp này cả giáo viên và học sinh
đã quen dần và đạt kết quả khả quan.
+ Giáo viên đã biết cách hướng dẫn học sinh trao đổi thảo luận, kết quả của
hoạt động học tập hướng tới việc tìm ra và hoàn thiện kiến thức.
+ Học sinh biết cách sử dụng SGK mới đã quan sát hình vẽ, đọc thông tin
SGK cung cấp để cùng cả nhóm thảo luận, tìm ra câu trả lời các câu hỏi thảo
Điểm dưới 5 Điểm trên 5 Điểm dưới 5
6A
1
40 32 8 34 6
6A
2
41 28 13 30 11
Cộng 81 60 21 64 17
Tỉ lệ 74.1 % 25.9 % 79.0 % 21.0 %
Trang 14
C. KẾT LUẬN
1. Bài học kinh nghiệm:
Để tăng hiệu quả tiếp thu tri thức của học sinh thì giáo viên cần phải sử
dụng tốt phương pháp dạy học theo hình thức nhóm.
- Giáo viên phải yêu nghề, yêu học sinh của mình, gần gũi với học sinh
như người mẹ, người chò sẵn sàng giúp đỡ khi học sinh cần đến mình.
- Giáo viên phải chuẩn bò kó lưỡng cho bài sau ( soạn bài, chuẩn bò mẫu
vật, thí nghiệm thực hành trước, các nội dung thực hành thí nghiệm có trong
bài ).
- Phần hướng dẫn tự học phải cụ thể, cho từng nội dung bài.
- Liên hệ với thực tế sản xuất trồng trọt đòa phương. Liên hệ giáo dục môi
trường. Giáo dục tinh thần đoàn kết tương trợ của học sinh.
- Trong tiết dạy, giáo viên không chỉ cung cấp tri thức còn hướng dẫn học
sinh hoạt động, giáo viên tổ chức và chỉ đạo để thông qua đó học sinh tự lực
khám phá những kiến thức chưa biết. Học sinh được đặt vào những tình huống
thực tế, là người trực tiếp quan sát, làm thí nghiệm, thảo luận giải quyết vấn đề.
Từ đó vừa nắm vững kiến thức mới, rèn luyện kỹ năng mới mà còn nắm được
các phương pháp hình thành những kiến thức và kỹ năng đó được thể hiện qua
các hoạt động nhóm của một tiết học. Tuy nhiên do trình độ học sinh không
đồng đều, một số học sinh yếu kém trình độ nhận thức và ý thức học tập kém,