NGHIÊN CỨU DẠY HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC PHẦN HÓA VÔ CƠ LỚP 11 NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ BÀI LÊN LỚP Ở TRưỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG - Pdf 35

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
KHOA HÓA HỌC
================

NGUYỄN THỊ HOÀNG VĂN
Đề tài:
NGHIÊN CỨU DẠY HỌC THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG
LỰC PHẦN HÓA VÔ CƠ LỚP 11 NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
BÀI LÊN LỚP Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN SƢ PHẠM

Đà Nẵng, 04/ 2016


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
KHOA HÓA HỌC
================

Đề tài:
NGHIÊN CỨU DẠY HỌC THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG
LỰC PHẦN HÓA VÔ CƠ LỚP 11 NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
BÀI LÊN LỚP Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN SƢ PHẠM

Sinh viên thực hiện

- Hệ thống các giáo án để giảng dạy và đánh giá kết quả học tập.
- Gần 200 học sinh trường trung học phổ thông Ngô Quyền - Đà Nẵng và
trường THPT Phan Châu Trinh - Quảng Nam.
- Máy vi tính, phần mềm tin học.
3. Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài.
- Xây dựng các nguyên tắc và quy trình dạy học sinh giải quyết vấn đề khi
nghiên cứu bài về nguyên tố, chất hóa học và bài sản xuất hóa học.
- Biên soạn các bài giảng chương trình hóa vô cơ lớp 11 có sử dụng dạy học
nêu vấn đề và giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả dạy học.
- Thực nghiệm sư phạm để xác định hiệu quả những đề xuất.
4. Giáo viên hƣớng dẫn: ThS. Phan Văn An
5. Ngày giao đề tài: tháng 10/2015
6. Ngày hoàn thành: tháng 4/2016
Chủ nhiệm Khoa

Giáo viên hướng dẫn

(Ký và ghi rõ họ tên)

(Ký và ghi rõ họ tên)

PGS.TS. Lê Tự Hải

Ths. Phan Văn An


Sinh viên đã hoàn thành và nộp báo cáo cho Khoa ngày ...tháng ...năm 2016
Kết quả điểm đánh giá
Ngày…..tháng…….năm 2016

1.2.1. Cảm giác ...........................................................................................................3
1.2.2. Tri giác .............................................................................................................3
1.2.3. Biểu tƣợng ........................................................................................................4
1.2.4. Tƣ duy ..............................................................................................................4
1.3. Bài lên lớp hóa học ............................................................................................6
1.3.1. Các hình thức tổ chức dạy học ở nhà trƣờng ...............................................6
1.3.2. Bài lên lớp ........................................................................................................8
1.3.3. Năm thành tố cơ bản của bài lên lớp .............................................................9
1.3.4. Mối quan hệ có tính qui luật giữa 5 thành tố của bài lên lớp. ..................12
1.4. Nhu cầu đổi mới phƣơng pháp dạy học theo hƣớng phát triển năng lực
ngƣời học ..................................................................................................................13
1.4.1. Về phía học sinh ............................................................................................13
1.4.2. Về phía thầy cô ..............................................................................................13


1.4.3. Theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục – Đào tạo ....................................................14
1.5. Chuẩn bị cho học sinh những điều kiện học tập theo hƣớng phát triển năng
lực .............................................................................................................................14
1.5.1. Sự giống nhau và sự khác nhau giữa “học tập theo nội dung” và “ học
tập theo phát triển năng lực”. ................................................................................14
1.5.2. Những việc làm cần thiết mà giáo viên phải chuẩn bị để tạo điều kiện cho
học sinh học tập theo phát triển năng lực. ............................................................16
CHƢƠNG 2: ............................................................................................................19
NHỮNG BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG BÀI LÊN LỚP ...............19
2.1. Sự cần thiết phải tiếp tục nâng cao chất lƣợng bài lên lớp ..........................19
2.1.1. Phần mục tiêu của bài lên lớp ......................................................................19
2.1.2. Phần nội dung của bài lên lớp ......................................................................19
2.1.3. Phần phƣơng pháp và phƣơng tiện dạy học của bài lên lớp .....................19
2.1.4. Phần hình thức tổ chức của bài lên lớp .......................................................20
2.1.5. Phần kết quả của bài lên lớp ........................................................................21


Đối chứng: ĐC

- Giáo viên: GV

-

Giáo dục: GD

- Loãng: l

-

Điều kiện tiêu chuẩn: đktc

- Học sinh: HS

-

Phương trình hóa học: PTHH

- Trung học phổ thông: THPT

-

Phương pháp dạy học: PPDH

- Nhiệt độ: t0

-

Hình 3.5: Biểu đồ kết quả kiểm tra bài kiểm tra 1 tiết chương nito photpho trường
THPT Phan Châu Trinh – Quảng Nam. ................................................................88
Hình 3.6: Biểu đồ kết quả kiểm tra bài kiểm tra 1 tiết chương nito photpho trường
THPT Ngô Quyền – Đà Nẵng ................................................................................89


1

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nền giáo dục đất nước ta đang trong thời kì đổi mới căn bản toàn diện nhằm tạo
nên những con người phát triển một cách toàn diện về nhân cách cũng như kiến
thức. Muốn được như vậy thì từng lĩnh vực trong ngành giáo dục phải từng bước
đổi mới về mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức hoạt động dạy học cũng như
phương pháp. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn
diện giáo dục và đào tạo đã xác định cụ thể: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương
pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tích cực, chủ động sáng tạo và vận
dụng kiến thức, kĩ năng của người học, khắc phục cách truyền thụ áp đặt một
chiều,ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học,
tọa cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng và phát triển năng
lực”.
Việc đổi mới phương pháp dạy học là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng để từng
bước thực hiện việc đổi mới giáo dục và đào tạo. Nhận thấy đươc điều đó nên trong
những năm trở lại đây, bộ giáo dục và đào tạo đã tập trung chỉ đạo đổi mới phương
pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ở các cấp nhất là cấp trung học
phổ thông.
Môn hóa học là một bộ môn đem lại nhiều kiến thức bổ ích cho học sinh. Trong
đó chương trình hóa học vô cơ lớp 11 có nhiều phần kiến thức gần gũi với đời sống
xung quanh chúng ta nhất. Tuy nhiên để tiếp thu và vận dụng được những kiến thức
này vào thực tiễn thì cần có những bước phát triển nhất định mục tiêu, nội dung ,

hoá học
- Nghiên cứu giáo trình, sách giáo khoa hoá học, tài liệu tham khảo có liên quan.
- Trao đổi kiến thức với học sinh, các thầy cô bộ môn và thầy cô hướng dẫn.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm để xác định hiệu quả của vấn đề nghiên cứu
được. Phương pháp thống kê toán học: xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm.
6. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Xây dựng cơ sở lý luận và nguyên tắc soạn bài lên lớp theo hướng phát triển năng
lực nhằm nâng cao chất lượng bài lên lớp.


3

NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Bản chất của quá trình dạy học theo thuyết nhận thức [12]
Thuyết nhận thức Mác-Lênin khẳng định tính chất khách quan và vật chất
của thế giới bên ngoài. Thế giới vật chất luôn vận động biến đổi phát triển. Con
người có thể nhận thức được nó và những quy luật của nó.
Dưới ánh sáng của thuyết nhận thức trên người ta có những hiểu biết sâu sắc
về bản chất của quá trình dạy học.
1.2. Bản chất của quá trình học tập của học sinh [11]
Các nhà dạy học Mác - Lênin coi quá trình dạy học của học sinh, về bản
chất nhận thức luận, giống như quá trình nhận thức của một nhà khoa học. Chỉ
khác nhau ở chỗ: nhà khoa học nhận thức chân lý mới đối với loài người, còn
người học sinh nhận thức chân lý mới cho bản thân và phần nào bước đầu học tập
nghiên cứu cái mới dưới sự hướng dẫn của thầy cô.
Nhận thức là quá trình con người phản ánh thế giới vật chất, cái đầu tiên của
quá trình nhận thức, mà nhờ đó con người có được thông tin sơ đẳng về thế giới vật
chất bên ngoài và môi trường bên trong cơ thể là cảm giác.
1.2.1. Cảm giác

cho số. Tên cá nhân là biểu tượng đại diện cho cá nhân. Một bông hồng đỏ tượng
trưng cho tình yêu và lòng từ bi.
Những cảm giác, tri giác, biểu tượng tạo thành giai đoạn nhận thức cảm tính.
Ở giai đoạn này người ta không thể khám phá ra những mối liên hệ có tính quy luật,
tất yếu giữa các sự vật và hiện tượng. Trong quá trình nhận thức người ta chuyển từ
những hình thức phản ánh hiện thực trực tiếp và thông qua các hình ảnh sang phản
ánh hiện thực bằng tư duy.
1.2.4. Tƣ duy
Định nghĩa: Tư duy là một quá trình phản ánh những thuộc tính bản chất,
mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng tồn tại
khách quan mà ta chưa biết trước đó. Quá trình phản ánh này là quá trình gián tiếp,
độc lập và mang tính khái quát được nảy sinh trên cơ sở hoạt động thực tiễn, từ sự
nhận thức cảm tính nhưng vượt xa các giới hạn của nhận thức cảm tính.
Bản chất xã hội của tư duy: mặc dù tư duy được tiến hành trong bộ óc từng
người cụ thể, được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động tích cực trong
nhận thức bản thân mỗi người nhưng bao giờ tư duy cũng mang bản chất xã hội vì:


5

- Hành động tư duy phải dựa vào kinh nghiệm trước đã được tích lũy, tức là dựa vào
kết quả của hoạt động nhận thức mà xã hội loài người đã đạt được trước đó.
- Tư duy phải sử dụng ngôn ngữ do các thế hệ trước đã sáng tạo ra.
- Bản chất quá trình tư duy được thúc đẩy do nhu cầu của xã hội, có nghĩa là ý nghĩ
con người được hướng vào giải quyết các nhiệm vụ quan trọng trong từng giai đoạn
lịch sử.
Tư duy mang tính chất tập thể tức là sử dụng tài liệu thu được trong các lĩnh
vực tri thức liên quan, có như vậy thì mới giải quyết được những nhiệm vụ đã đặt
ra. Tư duy là để giải quyết nhiệm vụ vậy nên nó có tính chất chung của loài người,
là kết quả của nhận thức đồng thời là sự phát triển cấp cao của nhận thức.

ngẫu nhiên, không căn bản của sự việc để tìm ra nội dung và bản chất của sự vật,
hiện tượng, quy nạp nó thành những khái niệm, phạm trù, định luật,... Giai đoạn này
được gọi là tư duy trừu tượng.
1.3. Bài lên lớp hóa học [3], [8]
1.3.1. Các hình thức tổ chức dạy học ở nhà trƣờng
1/ Hệ dạy học cá nhân
Hệ dạy học cá nhân là hình thức tổ chức dạy học trong đó có thể là một
người hoặc nhóm người cùng học tập trong một điều kiện nhất định dưới sự hướng
dẫn chỉ đạo của thầy cô. Trong hệ dạy học này, thầy giáo dạy từng cá nhân học sinh.
Người học phát triển theo con đường và nhịp độ thích hợp với đặc điểm của bản
thân. Hệ dạy học này được đánh giá cao vì nó đảm bảo học tập tích cực, tự giác,
thuận tiện cho việc rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo. Khi tham gia vào hệ dạy học cá nhân,
học sinh sẽ tiếp cận với những nội dung kiến thức và phương pháp dạy phù hợp,
vừa sức. Đây cũng là điều kiện thường xuyên để việc trao đổi kiến thức của thầy và
trò được diễn ra theo hướng tích cực, chủ động hơn. Tuy nhiên dạy học theo hệ cá
nhân cũng có một số hạn chế nhất định: lượng kiến thức mang tính chất “nhỏ giọt”
trong khi công sức của người dạy bỏ ra thì rất nhiều. Bên cạnh đó, cũng không tạo
điều kiện cho các em học sinh trao đổi với nhau - một yếu tố quan trọng trong việc
thúc đẩy quá trình học tập của học sinh.
2/ Hệ dạy học lớp – bài
Jan Amo Komensky (1592-1670) trong tác phẩm nổi tiếng “lý luận dạy học
vĩ đại” (1638) đã đề xuất hình thức tổ chức dạy học thành lớp, thành bài mà cho đến
nay chúng ta vẫn áp dụng.


7

Hệ dạy học lớp – bài là hình thức tổ chức dạy học trong đó giáo viên tiến
hành dạy cho một số lượng lớn học sinh nhất định có cùng trình độ, ở một địa điểm,
một không gian và một khoảng thời gian nhất định (thường được tính theo đơn vị


kĩ năng mở đầu cuộc tranh luận đó. Các báo cáo của học sinh là ý kiến riêng mà các
em thu thập được qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu. Còn giáo viên với vai trò là
“người đạo diễn” phải biết đặt ra những câu hỏi mang tính chất gợi mở vấn đề, gây
tranh luận, trao đổi ý kiến giữa các học sinh với nhau và thậm chí giữa học sinh với
giáo viên.
Giờ học xêmina được tiến hành như vậy sẽ là một hình thức rất tốt để đẩy
mạnh hoạt động tư duy của học sinh, kích thích hứng thú độc lập làm việc cũng như
khả năng sáng tạo làm việc của các em. Hiện nay hệ diễn giảng - xêmina được xem
là hình thức dạy học cơ bản ở các trường đại học.
1.3.2. Bài lên lớp
1/ Nội dung của khái niệm
Bài học là hình thức dạy học cơ bản chính yếu ở trường trung học, nó là một
quá trình dạy học sơ đẳng, trọn vẹn. Có hai định nghĩa về bài lên lớp.
Định nghĩa thứ nhất:
Bài lên lớp là hình thức dạy học cơ bản chính yếu ở trường trung học, nó là
một quá trình dạy học sơ đẳng, trọn vẹn. Bài lên lớp có thời lượng xác định, sĩ số
giới hạn, tập hợp thành lớp những học sinh cùng độ tuổi, cùng trình độ học lực
trung bình. Dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của giáo viên, học sinh trực tiếp lĩnh hội
một đoạn trọn vẹn của nội dung trí dục của môn học.
Định nghĩa thứ hai:
Bài lên lớp là hình thức dạy học mà trong đó giáo viên trong một khoảng
thời gian xác định hướng dẫn hoạt động nhận thức cho một tập thể học sinh cố định,
cùng độ tuổi (1 lớp) có chú ý đến từng đặc điểm của từng học sinh trong lớp, sử
dụng các phương tiện và phương pháp dạy học để tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả
học sinh nắm được nội dung kiến thức, kĩ năng giáo dục đạo đức và khả năng nhận
thức của họ.
Hai định nghĩa trên đã xác định cả những đặc điểm cơ bản bên ngoài và
phẩm chất bên trong của bài lên lớp. Bài lên lớp là một hệ thống toàn vẹn và phức
tạp gồm cả sự tiếp thu kiến thức, sự phát triển trí tuệ và thế giới quan, giáo dục tình

chủ động qua đó giúp các em phát triển những năng lực nhận thức, rèn luyện tư duy
sáng tạo, biết cách tự giải quyết vấn đề do cuộc sống đặt ra đới với bản thân.
- Mục đích giáo dục: trên cơ sở kiến thức học được (Trí), học sinh có được những
hiểu biết về thế giới, từ đó giúp hình thành trong ý thức các em một cái nhìn về thế
giới (Thế giới quan), và các em sẽ có thái độ hành vi đúng với thế giới đó (Đức). Sự


10

tương tác giữa Trí và Đức diễn ra trong các hoạt động sống của học sinh, trong đó
phần lớn thời gian nằm trong môi trường giáo dục ở nhà trường và ở đó nhân cách
được hình thành. Chính vì vậy mà cố thủ tướng Phạm Văn Đồng có câu: “ Đến một
trình độ cao, tri thức với tư tưởng, đạo đức với trí dục là một. Trí dục phải dẫn tới
đạo đức, đức dục là kết quả tất yếu của sự hiểu biết.”
2/ Nội dung của bài lên lớp.
Để đáp ứng được những mục đích trên thì nôi dụng của bài lên lớp có thể
chia thành bốn nội dung bộ phận sau:
NA- Hệ thống kiến thức lý thuyết về thế giới như: các học thuyết về tư tưởng, các
học thuyết về khoa học, các khái niệm.
NB- Các kỹ năng, kỹ xảo hành động cụ thể.
NC- Kinh nghiệm hoạt động sáng tạo của loài người thông qua lao động từ nhiều thế
hệ tích lũy lại.
ND- Hệ thống các quy phạm đạo đức, văn hóa truyền thống dân tộc và nhân loại.
Thông thường nội dung bài lên lớp hóa học theo chương trình quy định của Bộ Giáo
dục và Đào tạo đã được biên soạn thành từng bài trong sách giáo khoa. Nội dung
của mỗi bài lên lớp này gồm các học thuyết, khái niệm về hóa học; các kĩ năng, kĩ
xảo hóa học cần rèn luyện; các kinh nghiệm hoạt động sáng tạo trong thực tế sản
xuất hoặc phát minh khoa học cần truyền lại. Đặc biệt môn hóa học có nhiều khả
năng giúp học sinh hình thành nên thế giới quan duy vật biện chứng là nền móng
kết hợp với đạo đức truyền thống dân tộc hình thành nên nhân cách chân chính của

mỗi nhóm học sinh có trình độ khác nhau cùng giúp nhau hoàn thành nhiệm vụ
thành phần được giao. Cuối cùng thầy cô và học sinh ráp nối các kết quả thu được
của các nhóm để được kết quả chung. Để nâng cao chất lượng của bài lên lớp thì
thầy cô có thể thay đổi mục đích và nội dung vì đây là phần cứng quy định của
chương trình. Tuy nhiên lựa chọn và sáng tạo phương pháp dạy học để nâng cao
chất lượng bài lên lớp thì phụ thuộc chủ yếu vào tâm huyết và năng lực của giáo
viên.
Trong các hình thức tổ chức dạy học thì bài lên lớp là hình thức tổ chức dạy
học quan trọng nhất. Vậy hình thức tổ chức dạy học của bài lên lớp. Đó là nhóm
học sinh có sĩ số cố định và có trình độ phát triển nhất định tạo thành một tổ chức
trọn vẹn, tham gia tập thể quá trình đào tạo tức là lớp học sinh. Giáo viên chỉ đạo
hoạt động của cả tập thể, nhưng có tính đến đặc điểm nhận thức của mỗi em, giúp
cả tập thể học sinh nắm vững một cách trực tiếp ngay trên lớp một cách tối đa


12

những kiến thức trong nội dung bài lên lớp. Đây là hình thức tổ chức dạy học
thường xuyên, bắt buộc học sinh phải tới lớp chuyên cần.
5/ Kết quả của bài lên lớp (K).
Sau một tiết lên lớp với mục đích, nội dung, phương pháp mà thầy cô đã thực
hiện thì học sinh lĩnh hội được điều gì? Đó là kết quả của bài lên lớp. Kết quả dạy
học có bốn trình độ lĩnh hội: hiểu (K1), tái hiện (K2), kỹ năng (K3), biến hóa (K4).
Kết quả của bài lên lớp làm cho thầy cô hài lòng khi nó đạt hoặc vượt yêu
cầu mà mục đích đề ra, vậy kết quả chính là mục đích đã được thực hiện. Nếu kết
quả không đạt yêu cầu sẽ gây nên sự day dứt lương tâm nghề nghiệp của giáo viên
nhưng chính sự day dứt này lại là nội lực mạnh mẽ của việc cải tiến phương pháp
dạy học để có những tiết dạy học thành công.
1.3.4. Mối quan hệ có tính qui luật giữa 5 thành tố của bài lên lớp.
Qua các phân tích ở trên ta thấy giữa M-N-P-K-H có sự liên hệ chặt chẽ

+ Mục tiêu và nội dung bài lên lớp quyết định phương pháp dạy học của bài lên lớp
và hình thức tổ chức hoạt động của giáo viên và học sinh trong giờ học.
Mối quan hệ có quy luật giữa các thành tố của bài học làm cho cấu trúc của bào học
được chặt chẽ, trọn vẹn và đa dạng.
1.4. Nhu cầu đổi mới phƣơng pháp dạy học theo hƣớng phát triển năng lực
ngƣời học
Thực trạng dạy và học còn nhiều thiếu sót, nhiều phần chưa đáp ứng được nhu cầu
của Đảng, còn lạc hậu so với nền giáo dục thế giới.
1.4.1. Về phía học sinh
Học sinh chưa trở thành chủ thể của hoạt động nhận thức. Một phần không
nhỏ các em tiếp thu kiến thức trên lớp một cách thụ động nên nắm kiến thức không
chắc và vận dụng yếu vậy nên yếu tố linh hoạt trong vận dụng kiến thức là không
cao. Và kết quả là các em chưa thể đáp ứng được mẫu người biết lao động sáng tạo
của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa như hiện nay.
1.4.2. Về phía thầy cô
Phương pháp nhận thức khoa học hóa học là thực nghiệm nhưng các thầy cô
còn nặng về thuyết trình, còn thí nghiệm hóa học, các phương tiện trực quan,
phương pháp nghiên cứu được sử dụng ít và chất lượng chưa cao. Thầy cô mới chỉ
chú trọng kiến thức mà chưa chú trọng dạy cho học sinh cách thức suy nghĩ để biến
kiến thưc đó thành của mình.


14

1.4.3. Theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục – Đào tạo
Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 9 nói về giáo
dục như sau: chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010 nhằm đưa nước
ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công
nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học công nghệ ,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status