HUYỆN ĐOÀN THUẬN CHÂU
BCH ĐOÀN TRƯỜNG THPT
THUẬN CHÂU
*
ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH
Thuận Châu, ngày 11 tháng 01 năm 2015
TÀI LIỆU TUYÊN TRUYỀN
BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM
(Tài liệu sinh hoạt “Khi tôi 18”)
Biển và hải đảo ngày càng trở thành nguồn lực kinh tế to lớn, mở ra một không gian sinh tồn
mới, gắn bó mật thiết và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh,
bảo vệ môi trường của mỗi nước. Việt Nam cũng nằm trong xu hướng chung đó vì nước ta là quốc
gia có vùng biển và các đảo, gồm cả đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong biển Đông.
Thực hiện công tác tuyên truyền về chủ quyền Biển và hải đảo Việt Nam, BCH Đoàn trường yêu
cầu các chi đoàn tổ chức sinh hoạt chi đoàn theo nội dung triển khai trong tài liệu trong thời gian tháng 01
năm 2016. Trong một số giờ chào cờ đầu tuần, BCH Đoàn trường tổ chức “Sinh hoạt dưới cờ” bằng hình
thức đặt câu hỏi và gọi đại diện đoàn viên học sinh trả lời câu hỏi theo nội dung đã triển khai.
1
(Bản đồ Biển và Hải đảo Việt Nam)
1/ Hỏi: Vị trí vai trò của biển Đông như thế nào?
Trả lời:
- Biển Đông là biển lớn, có vị trí chiến lược quan trọng. Diện tích khoảng 3,5 triệu km², được bao
bọc bởi 9 nước là Việt Nam, Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan, Malaysa, Singapo, Indonexia, Bruney và
Philippin. Là tuyến đường hàng hải huyết mạch, giao thông nhộn nhịp đứng thứ 2 thế giới. Hàng ngày có
khoảng 300 tàu vận tải loại lớn qua lại, chiếm ¼ lưu lượng tàu hoạt động trên biển của thế giới, chuyên
tế biển và ven biển đạt 48% GDP cả nước (năm 2007) đóng góp to lớn vào quá trình phát triển đất nước.
- Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã thông qua Nghị quyết “Chiến
lược biển Việt Nam năm 2020” với mục tiêu: “Phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển,
làm giàu từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển gắn với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc
độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn…”. Bảo đảm vững chắc chủ quyền,
quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.
4/ Hỏi: Cơ sở lịch sử - thực tiễn nào để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa?
Trả lời:
- Cho đến thế kỷ XVII, 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là các đảo vô chủ. Vào nửa đầu thế kỷ
XVII, chúa Nguyễn đã tổ chức “Đội Hoàng Sa” hàng năm ra Hoàng Sa thu lượm hải vật, đánh bắt hải
sản, đo vẽ, trồng cây và dựng mốc trên đảo, đến nửa đầu thế kỷ XVIII, tổ chức thêm “Đội Bắc Hải” ra
Trường Sa làm nhiệm vụ như “Đội Hoàng Sa”.
- Liên tục từ đó, Việt Nam đã có nhiều hoạt động củng cố chủ quyền trên 2 quần đảo như: Năm
1925 duy trì tuần tra trên đảo, đưa quân đội trú đóng; năm 1933 - 1938, thành lập đơn vị hành chính, đặt
cột mốc, xây hải đăng, trạm khí tượng, trạm vô tuyến điện; lên tiếng phản đối các nước nêu yêu sách chủ
quyền đối với Hoàng Sa; năm 1951, khẳng định chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam đối với 2 quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa tại hội nghị San Francisco mà không gặp phải ý kiến phản đối nào; năm 1956
quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Phước Tuy và năm 1961, chuyển quần đảo Hoàng Sa từ tỉnh Thừa Thiên
về tỉnh Quảng Nam quản lý; năm 1977 tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và
thềm lục địa; năm 1982 thành lập huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai và huyện đảo Hoàng Sa
thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng; năm 1994 tham gia Công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển năm
1982, năm 2003, ban hành Luật Biên giới quốc gia, tháng 4 năm 2007 thành lập thị trấn Trường Sa, xã
Song Tử Tây và xã Sinh Tồn thuộc huyện đảo Trường Sa. Hiện nay, huyện đảo Hoàng Sa thuộc thành
3
phố Đà Nẵng và huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa… Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần công bố
Sách Trắng về chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định 2 quần
9/ Hỏi: Đảo, quần đảo?
Trả lời:
- Đảo là vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước.
- Quần đảo là một tập hợp các đảo, bao gồm cả bộ phận của các đảo, vùng nước tiếp liền và các
thành phần tự nhiên khác có liên quan chặt chẽ với nhau.
Đảo, quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt
Nam.
10/ Hỏi: Cơ sở pháp lý nào để khẳng định chủ quyền các vùng biển và thềm lục địa Việt
Nam?
Trả lời:
4
Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS)
- Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 có 162 quốc gia phê chuẩn và tham gia (tính
đến ngày 03 tháng 06 năm 2011). Công ước Luật Biển năm 1982 được coi là Hiến pháp của thế giới về
các vấn đề biển và đại dương. Công ước Luật Biển năm 1982 nêu mỗi quốc gia ven biển có 5 vùng biển,
bao gồm: Nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
- Năm 1994, Quốc hội nước ta đã thông qua Nghị quyết về việc phê chuẩn và chính thức trở
thành thành viên của Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Bằng việc phê chuẩn này, chúng
ta có đầy đủ cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam.
Luật Biển Việt Nam
- Ngày 21 thàng 06 năm 2012, tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Biển Việt
Nam. Đây là hoạt động lập pháp cần thiết để hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của Việt Nam, phục vụ cho
việc sử dụng, quản lý, bảo vệ các vùng biển, đảo và phát triển kinh tế biển của Việt Nam, tạo điều kiện
cho quá trình hội nhập quốc tế và tăng cường hợp tác với các nước, vì hòa bình, ổn định trong khu vực và
trên thế giới.
11/ Hỏi: Đường cơ sở dùng để làm gì?:
Trả lời:
Theo quy định của Luật Biển Việt Nam: Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam
cáo xác định ranh giới ngoài thềm lục địa phía nam. Năm 2003, ban hành Luật Biên giới quốc gia, năm
2012, ban hành Luật Biển Việt Nam.
3. Về quản lý hành chính: Đã triển khai thành lập huyện đảo Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng;
huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa; trong đó có thị trấn Trường Sa và 2 xã Song Tử Tây, Sinh
Tồn; hiện có nhiều hộ gia đình sống; xây dựng nhà khách, nhà tưởng niệm Bác Hồ, dựng tượng Quốc
công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, xây dựng chùa...; triển khai một số dự án quan
trọng như nuôi trồng hải sản, chương trình năng lượng sạch và hệ thống chiếu sáng ở các đảo trên huyện
đảo Trường Sa; đã phủ sóng truyền hình, đài phát thanh, điện thoại di động lên toàn bộ biển Đông. Nhiều
đoàn trong cả nước thường xuyên ra thăm hỏi, động viên cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đang sinh sống,
làm việc trên quần đảo Trường Sa.
4. Về kinh tế: Các hoạt động về thăm dò, khai thác dầu khí của chúng ta đã và đang diễn ra bình
thường, chúng ta đang tiếp tục duy trì hợp tác với các tập đoàn dầu khí lớn của Nga, Mỹ, Canada, Úc, Ấn
độ, Nhật, Hàn Quốc trên vùng đặc quyền 200 hải lý và thềm lục địa… Các ngành chức năng và các địa
phương cũng đã thực hiện nhiều biện pháp hỗ trợ đối với ngư dân khai thác trên biển. Ngư dân ta tiếp tục
đánh bắt hải sản ở khu vực đảo Hoàng Sa, Trường Sa; sản lượng khai thác của khối tàu cá xa bờ chiếm
40% tổng sản lượng khai thác hải sản của cả nước.
5. Về quốc phòng, an ninh: Thành lập lực lượng Cảnh sát Biển, Vùng II Hải quân… Hải quân,
không quân thường xuyên được nâng cao năng lực phòng thủ và tăng cường hoạt động tuần tra trong
vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam. Các lực lượng tuần tra, kiểm soát của bộ đội biên phòng,
cảnh sát biển thường xuyên triển khai các công việc để quản lý các hoạt động trên biển, xua đuổi, xử lý
hành chính các vụ việc tàu cá nước ngoài vi phạm vùng biển của chúng ta.
6. Về ngoại giao: Chúng ta kiên trì đấu tranh có lý, có tình ở các cấp khác nhau, song phương và
đa phương, qua cả kênh chính thức và không chính thức; kết hợp đấu tranh ngoại giao với đấu tranh dư
luận và vận động quốc tế. Chúng ta đã chủ động vận động qua nhiều kênh, nhiều cấp khác nhau, kể cả cấp
cao, làm rõ lập trường đúng đắn của chúng ta; phê phán yêu sách “đường lưỡi bò” phi lý của Trung Quốc,
ủng hộ thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông giữa các nước ASEAN và Trung
Quốc năm 2002 (DOC: Declaration on Conduct of the Parties in the East Sea), tiến tới xây dựng Bộ quy
tắc ứng xử của các bên ở biển Đông (COC: Code of Conduct for the East Sea) nhằm duy trì hòa bình, ổn
định ở biển Đông… Tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng Quốc tế, tạo thêm sức mạnh cho
16/ Hỏi: Các nước nào đang tranh chấp tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam?
Trả lời:
Có 5 nước 6 bên tranh chấp tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Hiện trạng đang bị Trung
Quốc chiếm giữ 7 đảo, đá; Philippin chiếm giữ 9 đảo; Malayxia chiếm giữ 7 đảo; Brunay cũng nêu yêu
sách chủ quyền nhưng không chiếm giữ đảo, bãi đá nào; Đài Loan (lãnh thổ-bên) chiếm giữ đảo Ba Bình
và cắm mốc tại bãi cạn Bàn Than; Việt Nam thực hiện chủ quyền và đóng giữ 21 đảo (gồm 9 đảo nổi, 12
đảo đá ngầm với 33 điểm đóng quân).
* Trung Quốc: Với yêu sách “đường lưỡi bò”, Trung Quốc muốn độc chiếm cả quần đảo Trường
Sa, đặt tên quần đảo Trường Sa của Việt Nam là Nam Sa thuộc thành phố Tam Sa.
* Philippin: Năm 1956, một người Philippin đến Trường Sa, vạch một đường bao quanh và tuyên
bố sở hữu quần đảo này, đặt tên là Kalayaan (vùng đất tự do). Năm 1979, Tổng thống Philippin đã ký sắc
lệnh sát nhập toàn bộ quần đảo Trường Sa (trừ đảo Trường Sa lớn) vào tỉnh Palawan của Philippin với lập
luận rằng các đảo này thuộc Philippin vì nó cận kề về địa lý và quan trọng cho an ninh, quốc phòng của
Philippin.
* Malayxia: Năm 1979, Malayxia xuất bản bản đồ công bố ranh giới thềm lục địa của Malayxia
bao trùm lên phía nam quần đảo Trường Sa với lập luận các đảo, bãi đá ở Trường Sa thuộc về Vương
Quốc cổ của Malayxia và nằm trong phạm vi yêu sách thềm lục địa của Malayxia.
* Brunay: Năm 1988 và 1993, Brunay công bố bản đồ yêu sách thềm lục địa ở biển Đông trùm
lên một phần nhỏ ở phía Nam quần đảo Trường Sa. Tuy nhiên, Brunay không có yêu sách hay chiếm
đóng đảo, bãi đá nào của quần đảo Trường Sa.
* Đài Loan: Đài Loan hiện đang chiếm đóng đảo Ba Bình và đã xây dựng công trình trên bãi cạn
Bàn Than, cách đảo Ba Bình khoảng 0,4 km vào năm 2004. Đài Loan đang xúc tiến nâng cấp đường băng
sân bay và hệ thống giao thông trên đảo Ba Bình (Đài Loan gọi là Thái Bình).
17/ Hỏi: Cơ sở nào để giải quyết tranh chấp về biển, đảo?
Trả lời:
* Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS): Công ước về Luật Biển năm
1982 được coi là Hiến pháp của thế giới về các vấn đề biển và đại dương; khi liên quan đến các tranh
chấp có thể nảy sinh giữa các thành viên, đòi hỏi các quốc gia thành viên giải quyết mọi tranh chấp bằng
các biện pháp hòa bình theo đúng quy định của Hiến chương Liên Hợp quốc.
* Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông giữa các nước ASEAN và Trung Quốc năm
vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo luật pháp quốc tế, tăng cường thực hiện và bảo vệ kinh tế
biển, nhất là hoạt động dầu khí và đánh bắt cá trong phạm vi 200 hải lý; bác bỏ yêu sách “đường lưỡi bò”
của Trung Quốc.
3/ Duy trì nguyên trạng biển Đông; bảo vệ quyền đánh bắt cá chính đáng của ngư dân chúng ta
trên biển Đông. Chúng ta chủ động, tích cực cùng các bên liên quan đàm phán tìm giải pháp cơ bản lâu
dài mà các bên có thể chấp nhận được đối với các khu vực tranh chấp.
4/ Xử lý hài hòa mối quan hệ giữa bảo vệ chủ quyền lãnh thổ với giữ vững môi trường hòa bình,
ổn định để phát triển đất nước, coi trọng quan hệ hữu nghị hợp tác Việt - Trung và các nước có liên quan,
phấn đấu không để xảy ra xung đột quân sự ở biển Đông; tránh các vấn đề tranh chấp làm đổ vỡ quan hệ
giữa nước ta với Trung Quốc.
Phương châm là vận dụng tổng hợp các biện pháp chính trị, ngoại giao, dư luận, pháp lý, quân sự
trên tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, kiên trì nguyên tắc, đồng thời xử lý các tình huống, các vấn đề
cụ thể một cách bình tĩnh, chủ động.
19/ Hỏi: Đến nay công tác biển, đảo của chúng ta đã đạt được kết quả như thế nào?
Trả lời:
Công tác biển, đảo luôn được đặt dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo sát sao của Đảng, Nhà nước, luôn
được sự quan tâm, ủng hộ của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân cả nước, kể cả đồng bào chúng ta
định cư ở nước ngoài; luôn có sự phối hợp chặt chẽ của toàn bộ hệ thống chính trị. Chính vì vậy, mặc dù
tình hình biển Đông diễn biến hết sức phức tạp, nhưng công tác biển, đảo của chúng ta đã đạt được nhiều
kết quả quan trọng, thể hiện:
1/ Khẳng định rõ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển; giữ vững các
vùng biển, đảo do chúng ta quản lý; duy trì được hòa bình và ổn định ở biển Đông.
8
2/ Các hoạt động kinh tế, đặc biệt là dầu khí và nghề cá trên biển Đông vẫn được triển khai
thường xuyên; lợi ích quốc gia được giữ vững.
3/ Giữ được cục diện quan hệ hữu nghị hợp tác với Trung Quốc và các nước liên quan.
4/ Chúng ta đã tuyên truyền để dư luận quốc tế ngày càng hiểu rõ hơn lập trường đúng đắn, chính
nghĩa của chúng ta trên biển Đông; hiểu rõ tính phi lý trong yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc.