Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong định hướng phát triển kinh tế xã hội đến năm 2010 của Đảng ta, tại
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: “Hiện nay và nhiều năm tới,
vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng”.
Theo đó, vấn đề tam nông có vai trò quan trọng trong nền kinh tế cũng như an ninh xã
hội của đất nước. Trong đó, nông nghiệp không chỉ cung cấp lương thực thực phẩm
đảm bảo nhu cầu cơ bản của con người mà còn cung cấp các nguyên liệu cho một số
ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp nhẹ rất quan trọng phục vụ cho đời sống, sản
xuất và xuất khẩu. Mặt khác, SXNN chiếm đại đa số về diện tích đất đai và dân số, đó
là nơi giải quyết việc làm cũng như cung cấp lao động cho các ngành kinh tế khác. Đặc
biệt đối với nước ta với 70% dân số sống ở nông thôn, trên 65% số dân làm nông
nghiệp thì vấn đề tạo việc làm, thu nhập cho người dân ở nông thôn và phát triển kinh
tế xã hội nông thôn theo hướng bền vững là rất quan trọng.
Việt Nam là quốc gia có khí hậu nhiệt đới gió mùa, với đặc điểm của SXNN
phụ thuộc lớn vào ĐKTN thì việc phát triển SXNN phải được đầu tư như thế nào ?
Với kinh nghiệm đúc rút từ hàng nghìn năm lúa nước, cha ông ta đã từng có câu:
“Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Có thể nói vai trò quan trọng của nước
đối với SXNN là không thể phủ nhận. Nước tham gia vào hầu hết các giai đoạn của
SXNN từ làm đất, gieo cấy tới sinh trưởng phát triển của cây và thu hoạch chế biến.
Tuy nhiên, nước cũng có thể phá hủy tất cả chỉ trong giây lát qua 1 trận lũ bão. Vì
vậy cần phải tìm cách phát huy lợi thế từ nước trong tưới tiêu, sản xuất và điều tiết
nước khi cần một cách hợp lí. Thấy được tầm quan trọng của thủy lợi trong SXNN
nên nhiều năm qua, nhà nước ta đã đầu tư nhiều ngân sách cho các tỉnh, địa phương
xây dựng các công trình đê, kè, hồ chứa, cống, đập giúp tận dụng nguồn nước và
giúp SXNN có hiệu quả. Bên cạnh đó, xây dựng các công trình thủy lợi còn góp
phần xây dựng cơ sở hạ tầng thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn và tác động tích
cực tới cảnh quan môi trường, phù hợp với chính sách phát triển nông nghiệp nông
thôn bền vững và hiệu quả.
1
-
Tìm hiểu thực trạng đầu tư và thực hiện dự án thủy lợi tại địa phương.
-
Tìm hiểu một số tác động của dự án thủy lợi đến phát triển kinh tế, nông
nghiệp, nông thôn tại địa phương.
-
Đưa ra một số định hướng và giải pháp cho việc nâng cao hiệu quả hoạt
động và tính bền vững của công trình thủy lợi.
2
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Hộ nông dân và cộng đồng hưởng lợi từ dự án thủy lợi tại xã Yên Trị.
1.4 Phạm vi nghiên cứu
-
Phạm vi không gian: Xã Yên Trị, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình
-
Phạm vi thời gian:
Đề tài được thực hiện từ 15/01/2010 tới 20/05/2010.
Phát triển bền vững: là sự phát triển với tốc độ cao, liên tục trong thời gian
dài, sự phát triển đó dựa trên việc sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên
nhiên mà vẫn bảo vệ được môi trường sinh thái, phát triển kinh tế nhằm đáp ứng
nhu cầu hiện tại nhưng không làm cạn kiệt nguồn tài nguyên để lại hậu quả xã hội
các thế hệ tương lai.
2.1.1.2 Tăng trưởng và phát triển
Tăng trưởng và phát triển là hai mặt của sự phát triển xã hội, có quan hệ chặt
chẽ với nhau. Tăng trưởng là điều kiện cần cho sự phát triển.
Tăng trưởng là sự gia tăng về mặt số lượng của một sự vật nhất định. Trong
kinh tế, tăng trưởng thể hiện sự gia tăng hơn trước về sản phẩm hay chất lượng đầu
ra của một quá trình sản xuất hay hoạt động. Dưới tầm nhìn của kinh tế vĩ mô tăng
trưởng là sự tăng thêm về tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay tổng thu nhập quốc
4
dân (GNP).
Phát triển: Là quá trình thay đổi liên tục làm tăng điều kiện sống của con
người, phân phối công bằng những thành quả đạt được và nâng cao chất lượng cuộc
sống. Như vậy phát triển bao hàm tăng trưởng kinh tế để tăng mức sống vật chất và
tinh thần của con người; Thay đổi cơ cấu kinh tế xã hội, hướng tới cơ cấu kinh tế xã
hội tiến bộ; Phân phối công bằng thu nhập quốc dân cho mọi người; Nâng cao giá
trị cuộc sống, gia đình, niềm tin, tự do, công bằng xã hội, bình đẳng (Quyền Đình
Hà, 2005).
2.1.2 Một số vấn đề về phát triển nông thôn
2.1.2.1 Những khó khăn trước mắt trong phát triển nông thôn Việt Nam
Kinh tế Việt Nam đang trên đường hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới có
nhiều cơ hội nhưng cũng không ít những khó khăn, thách thức. Việt Nam cần chú
trọng phát triển toàn diện các vùng kinh tế trên cả nước đặc biệt là phát triển nông
thôn, những vùng sâu vùng xa, nơi trình độ dân trí thấp, người dân ít được tiếp cận
rất nhiều khó khăn, thiếu thốn, mức sống của nhân dân thấp, tỷ lệ hộ nghèo đói còn
rất cao, nhất là vùng trung du miền núi. Chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng ngày
càng tăng, hiện nay thu nhập của nông thôn có khoảng cách rất xa so với thu nhập ở
thành thị và có nguy cơ ngày càng tăng lên.
2.1.2.2 Quan điểm phát triển nông thôn của Đảng và nhà nước ta
Phát triển nông thôn đảm bảo hiệu quả đồng bộ về các mặt kinh tế - xã hội –
môi trường.
Hiệu quả kinh tế: Phát triển nông thôn nhằm đảm bảo sản xuất ngày càng
nhiều nông sản phẩm với giá thành hạ, chất lượng sản phẩm tăng, năng xuất lao
động cao. Trên cơ sở hiệu quả để thực hiện phát triển sản xuất và nâng cao thu nhập
cho người dân.
Hiệu quả xã hội: Phát triển nông thôn nhằm tạo việc làm, tạo cơ hội để mọi người
dân có thu nhập, để không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân cả về mặt vật chất
lẫn tinh thần. Trên cơ sở đó thực hiện công bằng, dân chủ, văn minh xã hội, đẩy lùi các tệ
nạn xã hội, phát huy những truyền thống tốt đẹp của cộng đồng nông thôn.
Hiệu quả môi trường sinh thái: Bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái nông
nghiệp, bảo vệ nguồn nước, rừng và các tài nguyên, bảo vệ và cải tạo đất, xây dựng
cảnh quan và môi trường sống lành mạnh.
Phát triển nông thôn theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, phát
triển nông thôn theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa đi đôi với mở rộng thị
6
trng nụng thụn bao gm th trng tiờu th sn phm, th trng vn, vt t,
trang thit b, lao ng v dch v khoa hc k thut... M rng t do canh tranh
theo quy lut cung cu, giỏ c v khuyn khớch cỏc thnh phn kinh t cựng nhau
u t, khai thỏc hiu qu cỏc ngun lc.
Khuyn khớch cỏc thnh phn kinh t quc doanh, tp th, t nhõn cỏ th h
gia ỡnh, khai thỏc y cỏc ngun lc bao gm: t ai, lao ng, tin vn v c
2.1.3 Cơ sơ lý luận về dự án
Chương trình: Là hệ thống các hoạt động nhằm thực hiện kế hoạch đặt ra
trong hướng phát triển nông thôn. Trong đó, nó bao gồm nhiều dự án nhỏ, do đó
chương trình có mối quan hệ mật thiết với các kế hoạch và các dự án.
Dự án: là một tập hợp các hoạt động, nhằm bố trí và sử dụng các nguồn lực
khan hiếm (tài chính, thời gian…) để tạo ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ nhằm
thỏa mãn các mong đợi của các bên liên quan dự án.
Dự án phát triển nông thôn: Là cụ thể hóa một chương trình phát triển nông
thôn, nhằm bố trí sử dụng các nguồn lực khan hiếm để thực hiện thành công các
mục tiêu phát triển về kinh tế, xã hội nông thôn, thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của cư
dân nông thôn. Dự án phát triển nông thôn liên quan đến nhiều nội dung nhiều hoạt
động kinh tế (nông nghiệp, công nghiêp, dịch vụ), sức khỏe cộng đồng, tổ chức xã
hội, cộng đồng, môi trường, công nghệ, cơ sở hạ tầng, văn hóa, giáo dục (Đỗ Kim
Chung, 2003).
Sơ đồ: Mối quan hệ chính sách - kế hoạch - chương trình - dự án
Chính
sách
Kế
hoạch
Chương
trình
Dự án
Dự án PTNT là một dự án đa mục tiêu, nhằm giải quyết các vấn đề phát triển
nông thôn với ba mục tiêu đan xen đó là: Kinh tế - xã hội - môi trường. Trong đó
cộng đồng nông thôn vừa là người thực hiện vừa là người hưởng lợi, nó có tác động lâu
đồng vùng dự án.
- Thể hiện sự đa dạng về tổ chức các
hoạt động có sự lồng ghép đan xen chặt
chẽ với nhau
- Không gian thực hiện dự án rộng nên
khó xác định, dự án được thực hiện
trong một thời gian dài.
- Coi trọng mục tiêu kinh tế, lợi
nhuận
- Có sự tách rời giữa chủ đầu tư
và người thực hiện dự án,
không có sự tham gia của
người vùng dự án
- Dự án đầu tư vào một lĩnh
vực nhất định, không có sự
lồng ghép giữa các dự án.
- Không gian thực hiện hẹp,
thời gian thực hiện ngắn hơn.
Nguồn: Đỗ Kim Chung 2003
Dự án thủy lợi: Dự án thủy lợi là dự án đầu tư xây dựng một hệ thống công
trình thủy lợi ngăn chặn những thiên tai do nguồn nước gây nên, biến nó trở thành tác
nhân có lợi cho con người. Bao gồm: Đê sông, đê biển, cống điều hòa nước, hệ thống
thủy nông, hệ thống cung cấp nước sinh hoạt... Đây là một loại dự án đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng phát triển nông thôn. Thông thường, các dự án này được thực hiện trong
sự phối hợp giữa nhà nước và nhân dân cùng làm hay sự phối hợp chặt chẽ giữa các
nhà đầu tư và cộng đồng hưởng lợi. Các nhà đầu tư thường đầu tư các công trình đầu
mối hay tạo nguồn còn cộng đồng hưởng lợi tự tổ chức xây dựng kênh mương đưa
nước vào ruộng của mình và hai khâu này thường được tiến hành đồng bộ.
mức độ tưới hết diện tích, tạo khả năng tăng vụ, cấp nước kịp thời vụ, đảm bảo yêu
cầu dùng nước của mỗi loại cây trồng, chi phí quản lý thấp, tăng năng suất và sản
lượng cây trồng... góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân ở nông thôn
(Nguyễn Xuân Tiệp, 2007 – Thủy lợi phí miễn, giảm như thế nào- Tạp chí Quản lý
kinh tế).
2.1.4.2 Vai trò của dự án thủy lợi với phát triển nông thôn
Hiện nay, việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng luôn được nhà nước chú trọng và
quan tâm, trong đó đầu tư vào lĩnh vực thuỷ lợi đã được chính phủ ưu tiên hàng đầu.
Hàng năm, Chính phủ đã đầu tư một lượng vốn rất lớn khoảng 50 – 55% tổng vốn
đầu tư vào nông nghiệp (theo Bộ NN&PTNT). Cùng với Chính phủ, đầu tư vào
ngành nông nghiệp còn có sự hỗ trợ từ nước ngoài và nguồn vốn của các địa
phương, nguồn vốn của nhân dân đóng góp theo chủ trương “Nhà nước và nhân dân
cùng làm”. Do đó, việc đầu tư vào lĩnh vực thuỷ lợi càng cần phải chú trọng xây
10
dựng các dự án có tính khả thi cao.
Nước ta là một nước nông nghiệp có những nét đặc trưng của khí hậu nhiệt
đới gió mùa ẩm, thiên tai vẫn xảy ra hàng năm trên diện rộng và khá phức tạp, khó
nắm bắt, do đó vai trò của các công trình thuỷ lợi không chỉ quan trọng trong lĩnh
vực phát triển kinh tế - xã hội địa phương mà nó còn góp phần hạn chế, giảm
thiểu rủi ro do thiên tai gây ra. Hệ thống thủy lợi phòng chống và giảm nhẹ các
thiệt hại do lũ lụt gây ra cho nhiều vùng dân cư, các cơ sở hạ tầng…đảm bảo an
toàn tính mạng và đời sống vật chất cho nhân dân trong khu vực.
Hệ thống thủy lợi xây dựng phục vụ nhu cầu tưới tiêu cho nông nghiệp chủ
yếu là trong trồng trọt làm tăng năng suất, sản lượng nông sản, góp phần nâng cao
thu nhập cho dân cư nông nghiệp vùng ảnh hưởng từ dự án. Từ đó làm giảm tỷ lệ
hộ nghèo ở nông thôn, nhất là miền núi, vùng sâu vùng xa và thúc đẩy các ngành
kinh tế khác phát triển.
dưỡng sinh trưởng của cây để khai thác được năng suất tiềm năng của cây trồng
cũng như của đất.
Trong nông nghiệp mỗi loại cây có một đặc điểm sinh lí khác nhau nên có
nhu cầu sử dụng nước khác nhau. Vì thế, việc chủ động tưới tiêu còn làm cho nông
nghiệp thực hiện tốt và linh hoạt thời vụ gieo trồng, từ đó cho phép địa phương bố
trí cây trồng tốt hơn, tạo điều kiện để đa dạng hoá cây trồng. Từ đó làm đa dạng hoá
nguồn thu nhập cho bà con nông dân góp phần xoá đói giảm nghèo.
2.1.5.2 Tác động về xã hội
Đối với lĩnh vực xã hội, dự án thuỷ lợi là một trong những bộ phận của dự án
phát triển nông nghiệp, nông thôn. Chính những tác động về kinh tế làm cho đời
sống của cư dân nông thôn ngày càng được cải thiện. Điều đó được thể hiện ở sự
tăng lên về thu nhập bình quân đầu người, bình quân lương thực đầu người, hệ
thống cơ sở hạ tầng nông thôn ngày càng kiên cố hơn, hiện đại hơn, người nông dân
có cơ hội và điều kiện để mở rộng sản xuất, tiếp cận với phương thức sản xuất tiên
tiến, hiện đại hơn và đóng góp vào tiến trình CNH- HĐH nông nghiệp nông thôn.
2.1.5.3 Tác động về môi trường sinh thái
Là đánh giá xem dự án khi thực hiện tác động tích cực hay tiêu cực tới vùng
dự án về môi trường sinh thái và thái độ của người dân ra sao. Dự án thủy lợi là dự
án góp phần cải thiện môi trường sinh thái. Nước là một tài nguyên thiên nhiên
nhưng không phải là nguồn tài nguyên vô tận. Do vậy hoạt động của các công trình
thuỷ lợi nhằm tận dụng, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước một cách hợp lí, góp
12
phần tạo ra một môi trường sinh thái ổn định, bền vững.
Một dự án thuỷ lợi được xây dựng thường có tác động đến hệ thống cây
trồng và đất đai trong vùng dự án. Có thể nó còn làm biến đổi cả một hệ thống cây
trồng, chuyển sang một hệ thống cây trồng hoàn toàn mới, cũng có thể nó tạo ra một
bước đột phá tăng năng suất của một số cây trồng đã có. Ở những vùng có hệ thống
- Sự thay đổi công thức luân canh cây trồng của người dân
Chỉ tiêu về tác động của dự án đến đời sống xã hội:
- Tỷ lệ hộ nghèo
- Tỷ lệ hộ dùng nước sạch
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Khái quát về thực trạng các công trình thủy lợi trên thế giới
Hiện nay, quy mô hệ thống hồ chứa thuỷ lợi trên thế giới vô cùng phát triển
cả về số lượng và chất lượng, đảm bảo đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về nguồn
nước cũng như hoạt động phòng chống lũ lụt, thiên tai của mỗi quốc gia. Hệ thống
hồ đập thuỷ lợi này hiện nay đã và đang đem lại nguồn lợi ích to lớn cho hoạt động
sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân, góp phần đóng góp không nhỏ vào
thu nhập của nền kinh tế quốc dân và cải thiện đời sống dân cư mỗi quốc gia. Kết
quả nghiên cứu điển hình ở Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ… đã và đang là minh
chứng thiết thực nhất cho vấn đề này.
Thái Lan là một quốc gia có diện tích đất trồng trọt lớn (20,45 triệu ha) đứng
thứ 2 trong các nước ASEAN, chỉ sau Indonesia (30,9 triệu ha) và gấp 3 lần Việt
Nam nhưng hiện nay tài nguyên nước của Thái Lan chỉ gấp 2 lần của Việt Nam, đây
là nguyên nhân Thái Lan đã phải xây dựng nhiều hệ thống hồ chứa thuỷ lợi để điều
tiết dòng chảy. Tính đến năm 1997, tổng dung tích các hồ chứa ở Thái Lan đạt trên
60 tỷ m3 nước chiếm 29% tổng lượng dòng chảy. Với tỷ lệ điều tiết này, Thái Lan là
nước đứng đầu các nước trong khu vực và cả Châu Á về tỷ điều tiết dòng chảy.
Thái Lan là nước có nhiều hồ chứa lớn: lớn nhất là hồ Srinagrind có dung tích
17, 745 tỷ m3 nước, 2 hồ Bhumibo có dung tích 13,46 tỷ m 3 và Sirikit có dung tích
tương đương hồ Hoà Bình 9,5 tỷ m3, năng lực thiết kế tưới 1,2 triệu ha (tuy nhiên
hồ này không bao giờ đạt đạt được năng lực tưới này và luôn thiếu nước). Theo
thống kê dung tích và diện tích tưới của một số hồ chứa ở Thái Lan (tính đến 1995)
được thể hiện trong bảng biểu sau:
14
(kw)
DT
tưới
(ha)
553.000
1.200.000
Năm
xây
dựng
1958-
1964
Sirikit
13.130 5.845
9.510
6.600
357.000 1.200.000 63-71
Srinagrind
10.880 4.370
17.745
7.480
540.000 400.000 73-79
Khao lam
3.720
924
8.860
12.000
29.728
67-74
Rafchaprapa
1.100
218
5.639
4.287
25.000
40.000
67-74
Ubolrrata
2.085
385
2.263
1.854
72.000
52.000
67-74
Sirindhom
1300
432
1.966
1.165
540.000
32.000
67-74
Nguồn: Số liệu của tổng cục thống kê Hoàng Gia Thái Lan năm 1999
Cùng với Thái Lan, Trung Quốc cũng là một trong những cường quốc về hệ
thống hồ chứa và đập dâng trong khu vực cũng như trên thế giới. Cho đến nay,
Trung Quốc và Thái Lan là hai quốc gia Châu Á có nhiều đặc điểm về nguồn
tài nguyên nước cũng như năng lực và điều kiện SXNN tương tự Việt Nam. Tình
hình phát triển của hệ thống công trình hồ đập thủy lợi của Trung Quốc và Thái Lan
trong những năm qua đã để lại cho Việt Nam nhiều suy nghĩ, rút ra nhiều bài học
kinh nghiệm cho hoạt động xây dựng, quản lý và phát triển hồ đập thủy lợi nói
riêng và thủy lợi nói chung.
Ngoài ra, trên thế giới còn nhiều quốc gia được coi là cường quốc của các
công trình thủy lợi như Hà Lan, Thụy Điển, Mỹ, các quốc gia này cũng có hệ thống
hồ đập thủy lợi khá phát triển, góp phần tích cực vào hoạt động giảm thiểu thiên tai,
phục vụ nhu cầu ngày càng cao của hoạt động sản xuất và đời sống con người.
2.2.2 Thực trạng hệ thống thủy lợi ở Việt Nam
Nước rất cần với cây trồng, nhưng khi mưa nhiều lại gây ra úng lụt, mưa ít
thì gây ra hạn hán. Vì vậy, ngay từ thời xưa nhân dân ta đã phải đấu tranh với thiên
nhiên tìm ra các biện pháp hữu hiệu để tưới tiêu nước, chống hạn hán, lũ lụt như tận
dụng nước trời gieo trồng vào mùa mưa, tận dụng các đợt thuỷ triều cho nước ngọt
chảy vào ruộng, đào sông ngòi mương máng để dẫn thoát nước, đắp đê kè ngăn lũ
lụt, sáng tạo các biện pháp kỹ thuật và công cụ tưới tiêu nước. Thấy được tầm quan
trọng của các công trình thủy lợi đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn,
những năm qua, nhà nước và nhân dân ta đã có những đầu tư khá lớn vào việc xây
dựng các công trình thủy lợi mới, hoàn thiện và nâng cấp công trình thủy lợi cũ đã
xuống cấp.
16
n nhng nm 90 ca th k 20, nc ta ó cú mt h thng c s vt cht
k thut v thu li khỏ mnh, cú nng lc hn ch c tỏc hi ca hn hỏn v ỳng
lt i vi SXNN v dõn sinh. Từ sau cách mạng tháng 8 - 1945, nhất là từ khi
miền Bắc đợc giải phóng 1945 và cả nớc thống nhất 1975, chúng ta đã từng bớc
khai thác sử dụng nguồn nớc và đạt đợc nhiều thành tựu to lớn. Nếu kể cả các
đa nông nghiệp Việt Nam từ một nớc đang thiếu hụt lơng thực 20 năm về trớc
trở thành nớc xuất khẩu lớn về gạo, cà phê, cao su, hồ tiêu. Ngoài tác dụng về
cắt lũ, cân bằng môi trờng sinh thái, khí hậu, các hồ chứa còn có tác dụng cung
cấp nguồn năng lợng nớc sạch chiếm khoảng 60% toàn bộ nguồn điện năng
hàng năm của cả nớc. Ngoài ra thuỷ lợi tạo điều kiện phát triển giao thông
thủy, góp phần phân bố lại lao động trong cả nớc, làm biến đổi nhiều mặt về xã
hội qua tác dụng chống lũ, chống úng, giải phóng sức lao động ở nông thôn, cải
thiện môi trờng làm cho nông thôn trở nên văn minh hơn, sạch đẹp hơn. Công
tác thuỷ lợi không có điểm dừng, cho đến nay cha có nớc nào kể cả các nớc
phát triển cao trên thế giới giải quyết xong vấn đề thuỷ lợi, tình trạng hạn hán,
lũ lụt vẫn thờng xảy ra và gây thiệt hại lớn đến ngời và của của xã hội. (Ngun:
p v h cha a mc tiờu l then cht ca phỏt trin thu li, Phm Hng Giang,
2004)
Tớnh n nm 2008, trờn phm vi c nc, cỏc h thng thu li ln, va v
nh ó m bo ti trc tip cho hn 3,45 triu hộc-ta t nụng nghip, tiờu cho
khong 1,4 triu ha, ngn mn cho gn 1 triu ha.v.v.Nhiu h thng cụng trỡnh
thu li ln nh: H thng thu nụng Sụng Chu, h thng thu nụng Bc Ngh An,
h thng thu nụng Bc Hng Hi v.v.t nhiu nm nay ó phỏt huy hiu qu tt,
phc v c lc cho SXNN v i sng nhõn dõn.
Theo chin lc phỏt trin thy li ca b Nụng nghip v phỏt trin nụng
thụn, ti nm 2010 h thng thy li Vit Nam phi cp ngun nc khai
thỏc c 10,5 triu ha t nụng nghip, trong ú cú 6,48 triu ha cõy hng nm
(riờng t lỳa 4,032 triu ha), 2,74 triu ha cõy lõu nm. a din tớch gieo trng
cõy lng thc chớnh l lỳa lờn 7,408 triu ha v ngụ 1,2 triu ha), trong ú ti ch
ng c 75%; Cp nc sinh hot: Nụng thụn (85% dõn cú ngun nc sinh hot
hp v sinh vi mc 60l/ngi/ngy); ụ th (100% dõn ụ th loi I c cp 165
l/ng.ng, 90% dõn ụ th loi II c cp 150 l/ng.ng, 90% dõn ụ th loi III c
cp 120 l/ng.ng). Theo ú, n nm 2020 phỏt trin thy li cp ngun nc
khai thỏc c 11 ,4 triu ha t nụng nghip, trong ú cú 6,7 triu ha cõy hng nm
(riờng t lỳa 4,1 triu ha), 3,2 triu ha cõy lõu nm. a din tớch gieo trng cõy
nhiên, ít kênh đào. Hàng năm các ngòi tiêu thường bị bồi lắng xói lở trong mùa mưa
lũ, gây khó khăn, tốn kém cho việc nạo vét, giải phóng luồng lạch tiêu.
19
Bảng 2.3: Hiện trạng năng lực thủy lợi của huyện Yên Thủy
Đơn vị
SL
Yên Thủy 173
hành
công
Năng lực thiết kế (ha)
Năng lực thực tế (ha)
Vụ chiêm
Vụ mùa
Vụ chiêm
Vụ mùa
Lúa
Màu
Lúa
Màu
Lúa
Màu
Lúa
Màu
473
5290 2871 2620
yếu bị vỡ tường cánh hai vai đập gây thẩm lậu, sân tiêu năng trước và sau bị xói vỡ
hoặc lũ cuốn trôi.
Công trình khu đầu mối các hồ chứa quan trọng nhất là đập, cống lấy nước
và tràn xả lũ. Tuy nhiên, hiện nay những nhược điểm chủ yếu của hệ thống đầu mối
này là mặt cắt ngang đập không đảm bảo, mái dốc chưa phù hợp, để trâu bò đi lại
gây hư hại mái đập, thân đập bị thấm mạnh gây sình lầy mái hạ lưu, tiềm ẩn nguy
cơ vỡ đập vào mùa lũ; cống lấy nước không kín vì kiểu cống là cống nghiêng mở
nước bậc thang, một số lớn hồ có van hình chóp không có cầu công tác gây khó
khăn cho công tác quản lý. Đường tràn xả lũ hầu hết là tràn trên đất tự nhiên,
thường bị xói lở hai bờ và hạ lưu. Mặt khác, nhiều hồ đập bị mất nước do xử lý
chống thấm chưa tốt.
Hệ thống đập dâng tạm chủ yếu làm bằng đá xếp, phai phên và cọc tre nên
thường bị cuốn trôi về mùa lũ, hàng năm thường phải huy động nhân dân tu bổ, sửa
chữa gây tốn kém công sức, tiền của.
Tình hình quản lý các công trình: Công ty khai thác công trình thủy lợi Hòa
Bình được bàn giao quản lý 11 công trình hồ chứa, còn lại 162 công trình do địa
phương quản lý. Công tác quản lý khai thác đối với hồ, đập do nhân dân quản lý còn
nhiều tồn tại như thiếu kiến thức chuyên môn, thiếu kinh nghiệm quản lý nên chưa kịp
thời phát hiện các hư hỏng để sửa chữa ngay dẫn đến công trình bị hư hỏng.
Đối với kênh mương: Do địa bàn huyện mang đặc thù địa hình miền núi các
kênh thường đi dọc theo đường đồng mức quanh đồi nên kênh thường có chiều dài
lớn và hay bị sạt lở, bồi lấp sau mỗi đợt mưa lũ. Kênh mương và các công trình trên
kênh chủ yếu do dân tự làm nên độ dốc, mặt cắt kênh không đảm bảo. Mặt khác,
kênh đi trên sườn dốc, hàng năm thương bị lũ phá hoại, do vậy hạn chế hiệu quả
tưới của công trình, không đạt nhiệm vụ thiết kế. Hiện nay còn trên 330 km kênh
chính và kênh nhánh là kênh đất cần được xây dựng kiên cố.
21
22
bình năm đạt 84%). Mùa mưa kéo dài tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11
đến tháng 3 năm sau. Lượng mưa hàng năm thường phân bố không đồng đều, mùa
hè nắng gắt mưa nhiều bắt đầu từ tháng 6 tới tháng 10. Mùa khô thường có mưa
phùn, sương mù, độ ẩm thường giảm từ đầu mùa và thấp nhất ở tháng 1. Mùa mưa
nhiệt độc cao thường có giông và mưa rào, lượng mưa khoảng từ 1500 đến 2200
mm. Điều kiện khí hậu nóng ẩm thích hợp cho phát triển nông nghiệp đặc biệt là
trồng trọt. Với những đặc điểm này, vùng có thế mạnh phát triển các loại cây trồng
màu đặc trưng cho khu vực trung du miền núi như: Ngô, lúa, lạc, khoai, mía, đậu
các loại và các loại rau vụ đông phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong xã và các vùng
lân cận. Tuy nhiên những thời điểm khắc nghiệt của mùa như hạn hán kéo dài và lũ
quét hàng năm có ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất của cây trồng vật nuôi.
Thủy văn: Địa bàn xã Yên Trị không có sông chạy qua, không có các hồ đập
lớn tự nhiên nhưng có một số các suối vừa và nhỏ tự nhiên. Hầu hết các suối này
đều bắt nguồn từ núi đá rừng Cúc Phương với nguồn nước khá dồi dào cung cấp
phần lớn nước tưới cho diện tích đất trồng trọt vào mùa khô. Tuy nhiên, những năm
gần đây, hiện tượng khai thác chặt phá rừng bừa bãi làm cho nguồn nước này ngày
một khan hiếm. Ngoài ra, trên địa bàn của xã còn một số hồ đập nước nhân tạo
nhưng đã xuống cấp về cả chất lượng hồ chứa và hệ thống mương, máng nên chưa
đáp ứng được nhu cầu sản xuất của nhân dân trong xã. Hiện nay, việc tưới tiêu nước
vẫn chủ yếu dựa vào thiên nhiên nên năng suất sản lượng cây trồng chưa cao.
Bảng 3.1: Thống kê điều kiện khí hậu thời tiết của tháng trong năm
Nhiệt độ không khí (0C)
Tháng
Tr.bìn
h
Max
Min
23
Độ ẩm không khí (%)
Tháng
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
X
XI
XII
Min
21
26
28
40
39
37
43
46
35
30
23
22
21
Nguồn: Báo cáo thuyết minh KTKT sửa chữa nâng cấp hồ Vó Săm
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
X
XI
XII
Năm
Tr.bình
17
29
30
28
28
>38
29
29
28
28
15
>38
Nguồn: Báo cáo thuyết minh KTKT sửa chữa nâng cấp hồ Vó Săm
Số ngày mưa, lượng mưa trung bình tháng và lượng mưa ngày lớn nhất
Tháng
I
II
135,1
Số ngày 6,7
11,3 15,3 12
12,4
13,9
14,2
16,1
X(mm)
20,8 33,5 98,8
156,
230,
218,
271,5 201,2 128,1 46,2
3
5
Nguồn: Báo cáo thuyết minh KTKT sửa chữa nâng cấp hồ Vó Săm
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội xã Yên Trị
3.1.2.1 Tình hình đất đai của xã
24
Toàn xã có tổng diện tích tự nhiên 1807,8 ha trong đó đất nông, lâm nghiệp
là 1133,9 ha còn lại là các loại đất khác, xã có 3 dân tộc anh em chung sống là
Mường, Kinh, người Việt gốc Hoa. Do không có nhiều vùng đất rộng nên xã tập
trung sản xuất trồng trọt ngay cả trên những khu đất đồi, núi đá vôi kết hợp với nuôi
bò, lợn, thả dê trên núi. Đây là một trong những vùng có nhiều đặc sản thú rừng của
huyện như lợn rừng, tê tê, sơn dương…và lâm sản quý hiếm như mật ong rừng, củ
mài, gỗ lim…
Riêng với đất nông nghiệp, trên địa bàn xã Yên Trị chia thành 2 loại đất
nông nghiệp là đất trồng rau màu và lúa phục vụ cho đời sống người dân và đất
trồng rừng, trong đó đất SXNN là 519,39 ha chiếm 45,81% tổng diện tích đất nông
nghiệp. Trong đó đa phần diện tích này được sử dụng để trồng lúa, ngô, khoai, lạc
đậu, và các loại cây công nghiệp như mía, vừng. Diện tích đất lâm nghiệp là 614,46
ha chiếm 54,19% tổng diện tích đất nông nghiệp. Do diện tích đất của vùng chủ yếu
là đồi núi được triển khai trồng rừng theo chương trình 661 nên cơ cấu đất dành
cho nông lâm nghiệp lớn hơn đất cho SXNN.
Diện tích đất ngày càng giảm qua các năm cho thấy xu hướng chung chuyển
đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp là tất yếu và phổ biến. 2009 diện tích
đất SXNN còn 62,43% thấp hơn so với năm 2007 và 2008 lần lượt là 62,72% và
62,49%. Tuy nhiên, vùng vẫn còn diện tích đất chưa sử dụng và có thể được khai
thác trong tương lai tới là hơn 170 ha vì vậy xã cần chủ trương khai thác những khu
vực đất hoang, chưa sử dụng nhưng có khả năng khai thác được. Với những chỉ số
về đất đai của vùng, có thể thấy chỉ tiêu BQ đất NN/hộ NN, BQ đất NN/khẩu NN là