Tổ chức và quản lý kênh phân phối sản phẩm thức ăn chăn nuôi tại công ty TNHH Nam Dũng - Pdf 35

Khoá luận tốt nghiệp
QTKD52B

Nguyễn Thị Kim Lương

LỜI CẢM ƠN!
Để hoàn thành tốt bài khóa luận tốt nghiệp này tôi đã nhận được
rất nhiều sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý tận tình của nhiều thầy cô
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, ban lãnh đạo Công ty TNHH Nam
Dũng, sự động viên, khích lệ của gia đình và bạn bè
Đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Th.s Đồng Đạo Dũng
và Th.s Đào Hồng Vân đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng
dẫn tôi nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Nghiệp
Hà Nội cùng quý thầy cô trong khoa Kế toán & QTKD đã tận tình dạy
bảo tôi trong suốt thời gian học tập tại trường và tạo điều kiện cho tôi
học tập và hoàn thành tốt khóa luận.
Đồng thời tôi cũng xin cảm ơn các anh chị và ban lãnh đạo Công
ty TNHH Nam Dũng đã tạo điều kiện cho tôi thực tập và viết bài khóa
luận tốt nghiệp này.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè tôi đã luôn
ở bên tôi, cổ vũ, động viên tôi trong suốt thời gian tôi thực tập để giúp tôi
có thể hoàn thành tốt bài khóa luận tốt nghiệp này.
Hà Nội, ,ngày 27 tháng 5 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Kim Lương

Khoa Kế toán & QTKD
Nội

Trường ĐHNN Hà

Bảng 3.1.5.a. Kết quả tiêu thụ sản phẩm của DN:................................51
Bảng 3.1.5.b. Kết quả tiêu thụ của từng loại sản phẩm qua 3 năm....51
Bảng 3.2.1.1.b. Hệ thống ĐL bán lẻ của công ty TNHH Nam Dũng.. .54
Bảng 3.2.1.1.c. Hệ thống ĐL cấp 1 của công ty TNHH Nam Dũng.....55
Bảng 3.2.3.1.a. Kết quả tiêu thụ của từng kênh qua 3 năm..................66
Bảng 3.2.3.1.b. Kết quả tiêu thụ từng loại SP trong từng kênh qua 3
năm..............................................................................................................67
Bảng 3.2.3.2. Hiệu quả tiêu thụ của từng kênh......................................69
(năm 2010).................................................................................................69

Khoa Kế toán & QTKD
Nội

Trường ĐHNN Hà

iii


Khoá luận tốt nghiệp
QTKD52B

Nguyễn Thị Kim Lương
DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1.2.2.a. Cấu trúc kênh trực tiếp....................................................8
Sơ đồ 2.1.2.2.b. Cấu trúc kênh gián tiếp...................................................8
Sơ đồ 2.1.2.2.c. Kênh marketing theo mức độ liên kết............................9
Sơ đồ 2.1.4.4. Hệ thống marketing mix...................................................31
Sơ đồ 3.1.3.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty..................................44
Sơ đồ 3.2.1.1.a. Sơ đồ hệ thống kênh phân phối sản phẩm của công ty


Trđ

: triệu đồng.

Khoa Kế toán & QTKD
Nội

Trường ĐHNN Hà

v


Khoá luận tốt nghiệp
QTKD52B

Nguyễn Thị Kim Lương

PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong kinh doanh vấn đề tiêu thụ hàng hóa là vấn đề sống còn của mỗi
DN. DN không thể tồn tại nếu sản phẩm của DN không tiêu thụ được trên thị
trường. trong nền kinh tế thị trường hiện nay, người tiêu dùng Việt Nam rất
khó định hướng trong quyết định mua hàng vì phải đối mặt với hàng loạt sản
phẩm có tính năng tương tự, đồng thời với các chương trình khuyến mại ồ ạt và
quảng cáo rầm rộ.... vì vậy mà để cạnh tranh được với đối thủ DN phải dựa vào
kênh phân phối.
Nghiên cứu thị trường cho thấy lựa chọn của người tiêu dùng Việt Nam
hiện nay không chỉ hướng tới giá cả, chất lượng mà còn xem trọng sự tiện lợi
và dễ mua, tức là đang hướng tới vấn đề phân phối của nhà sản xuất. Kết quả


Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt để tiêu thụ tốt sản phẩm
của mình các DN phải thiết lập cho mình một hệ thống kênh phân phối tối ưu,
và quản lý kênh phân phối một cách có hiệu quả. Quản lý là một nghệ thuật,
đặc biệt trong kênh phân phối thể hiện mối quan hệ giữa DN với đối tác bên
ngoài chứ không phải trong nội bộ DN nên quản lý kênh phân phối đòi hỏi DN
phải kết hợp khéo léo lợi ích của mình với lợi ích của các thành viên trong
kênh để đảm bảo mối quan hệ trong kênh được bền vững trên cơ sở thỏa mãn
lợi ích của tất cả các thành viên trong kênh.
Mỗi một DN đều phải có cách tổ chức và quản lý kênh phân phối riêng
phù hợp với đặc điểm của sản phẩm, mục tiêu của mình, phù hợp với môi
trường cạnh tranh trong ngành. Nhận thấy được tầm quan trọng của việc tổ
chức và quản lý kênh phân phối sản phẩm trong vấn đề đẩy mạnh tiêu thụ sản
phẩm, nên trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại công ty TNHH Nam Dũng em
đã tìm hiểu và chọn đề tài "Tổ chức và quản lý kênh phân phối sản phẩm
thức ăn chăn nuôi tại công ty TNHH Nam Dũng ".
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng tổ chức và quản lý kênh phân phối sản
phẩm TĂCN của công ty TNHH Nam Dũng , chỉ ra những ưu điểm và tồn tại
cần khắc phục và những biện pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hoạt động tổ chức
và quản lý kênh phân phối sản phẩm TĂCN của công ty .
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về kênh phân phối.
- Nghiên cứu thực trạng tổ chức và quản lý kênh phân phối sản phẩm
TĂCN tại công ty TNHH Nam Dũng.
- Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của công tác tổ chức và quản lý kênh
phân phối sản phẩm thức ăn chăn nuôi của công ty TNHH Nam Dũng..
- Đề xuất một số biện pháp chủ yếu để hoàn thiện công tác tổ chức và
quản lý kênh phân phối sản phẩm thức ăn chăn nuôi của công ty TNHH Nam



Khoá luận tốt nghiệp
QTKD52B

Nguyễn Thị Kim Lương

PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan tài liệu
2.1.1. Một số vấn đề lý luận về phân phối
2.1.1.1. Khái niệm
Theo nghĩa rộng: phân phối là khái niệm của kinh doanh nhằm định
hướng và thực hiện chuyển giao quyền sở hữu giữa người bán và người mua,
đồng thời thực hiện việc tổ chức điều hòa, phối hợp giữa các tổ chức trung gian
khác nhau đảm bảo cho hàng hóa tiếp cận và khai thác tối đa các loại nhu cầu
của thị trường.
Theo nghĩa hẹp: phân phối là tổng thể những hoạt động của DN nhằm
đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng và thực hiện việc chuyển giao quyền sở
hữu sản phẩm.
2.1.1.2. Chức năng
Phân phối có 2 chức năng cơ bản: phân phối vật chất và phân phối
thương mại.
- Phân phối vật chất: tức là thông thường một sản phẩm được hoàn
chỉnh sau sản xuất không hoàn toàn sẵn sàng một cách trực tiếp cho người tiêu
dùng về sự tách rời về không gian sử dụng và tiêu dùng, sản xuất với số lượng
lớn còn tiêu dùng thì với số lượng nhỏ, thông qua hoạt động phân phối mà sản
phẩm vật chất sẽ đế được với người tiêu dùng nhanh hơn. Phân phối vật chất
nhằm xóa bỏ sự khác nhau giữa sản xuất và tiêu dùng về số lượng, không gian
và thời gian.

ra mối quan hệ tốt đẹp giữa các thành viên trong kênh, mọi thành viên trong
kênh phân phối phải có mối quan hệ với nhau.
2.1.2. Một số vấn đề lý luận về kênh phân phối
2.1.2.1. Khái niệm và vai trò kênh phân phối
* Khái niệm kênh phân phối: hiện tại có nhiều định nghĩa khác nhau về kênh
phân phối. Kênh phân phối có thể được coi là con đường đi của sản phẩm từ
người sản xuất đến người tiêu dùng (hoặc người sử dụng) cuối cùng. Nó cũng
được coi như một dòng chuyển quyền sở hữu các hàng hóa khi chúng được
mua bán qua các tổ chức và cá nhân khác nhau. Có nhiều định nghĩa khác nhau
là do xuất phát từ sự khác nhau về quan điểm của người nghiên cứu nên không
thể có một định nghĩa về kênh phân phối thỏa mãn tất cả các đối tượng quan
tâm. Trong bài này tối sử dụng quan điểm là quyết định quản lý kênh phân phối
của nhà quản trị ở các doanh nghiệp (chủ yếu là công ty sản xuất và nhập
khẩu). Với quan điểm đó kênh phân phối được định nghĩa là : “Một tổ chức hệ
thống các quan hệ với các doanh nghiệp và cá nhân bên ngoài để quản lý các
hoạt động phân phối tiêu thụ sản phẩm nhằm thực hiện các mục tiêu trên thị
trường của doanh nghiệp”. Trong định nghĩa trên có 4 vấn đề cốt lõi được quan
tâm đó là: bên ngoài, sự tổ chức hệ thống các quan hệ, các hoạt động tiêu thụ,
và mục tiêu phân phối.
Khoa Kế toán & QTKD
Nội

Trường ĐHNN Hà

5


Khoá luận tốt nghiệp
QTKD52B


hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất và sử dụng kênh Marketing như là một
công cụ cạnh tranh trong nỗ lực thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của những khách
hàng mục tiêu đã lựa chọn.
Khoa Kế toán & QTKD
Nội

Trường ĐHNN Hà

6


Khoá luận tốt nghiệp
QTKD52B

Nguyễn Thị Kim Lương

- Là một tài sản của doanh nghiệp đánh giá giá trị và uy tín của nó trên
thị trường mặc dù kênh Marketing không phải là một cấu trúc nội bộ của doanh
nghiệp.
*. Chức năng của kênh phân phối:
- Điều nghiên: thu thập thông tin cần thiết để hoạch định chiến lược và
tạo thuận lợi cho sự trao đổi.
- Cổ động: Triển khai và phổ biến những thông tin có sức thuyết phục
cao về những món hàng đang kinh doanh và các sản phẩm mới.
- Tiếp xúc: Tìm ra và thông tin được với khách hàng tương lai
- Phân chia, đóng gói và phân loại hàng hóa.
- Thương lượng: cố gắng đi tới thỏa thuận về giá cả và các vấn đề khác
quanh món hàng mà khách định mua để có thể bán được
- Tài trợ: huy động và phân chia tiền bạc để thanh toán chi phí của kênh,
cấp tín dụng cho khách hàng.

Người sản xuất

Người tiêu dùng

*. Kênh gián tiếp: đây là loại kênh mà giữa người sản xuất và người tiêu dùng
xuất hiện nhiều trung gian khác nhau làm nhiệm vụ đưa hàng hóa từ người sản
xuất đến tay người tiêu dùng. Trong loại kênh này hàng hóa của doanh nghiệp
có thể được tiêu thụ với tốc độ nhanh hơn, khối lượng lớn hơn, và sản phẩm
được tiêu thụ trên một địa bàn rộng lớn hơn. Việc sử dụng loại kênh này có thể
làm giảm một phần lợi nhuận của doanh nghiệp do phải chia sẻ với các trung
gian khác. Đối với các trung gian doanh nghiệp có thể sẽ gặp khó khăn trong
việc kiểm soát hành vi của họ trong việc tiêu thụ sản phẩm do họ là những tổ
chức độc lập với doanh nghiệp. Các thông tin về thị trường và thông tin phản
hồi của khách hàng về sản phẩm có thể không chính xác khi về đến doanh
nghiệp do phải qua nhiều cấp trung gian. Hoạt động của doanh nghiệp có thể bị
ảnh hưởng nếu giữa người tiêu dùng và các trung gian hoặc giữa các trung gian
và người sản xuất xảy ra trục trặc. Khi sử dụng các trung gian trong kênh phân
phối, doanh nghiệp có thể giảm mức độ mạo hiểm khi thâm nhập một thị
trường mới do các trung giam là những người am hiểu về khu vực thị trường
mà họ phụ trách và họ đã xây dựng được một mạng lưới phân phối.
Sơ đồ 2.1.2.2.b. Cấu trúc kênh gián tiếp.
Người sản xuất

Trung gian

Người tiêu dùng

Trong kênh gián tiếp người ta có thể chia ra làm các loại kênh có mức độ dài
ngắn khác nhau dựa vào số lượng các trung gian có trong kênh:
- Kênh một cấp: đây là loại kênh ngắn nhất trong các kênh gián tiếp

Kênh đơn và kênh

Hệ thống kênh liên

thông thường

kết dọc (VMS)

VMS được quản

VMS

VMS



Hợp đồng

Tập đoàn

Các tổ chức hợp

Chuỗi bán lẻ được

Độc quyền

tác bán lẻ

người BH đảm bảo


được đặt trong mục tiêu chung của cả hệ thống. Nhà sản xuất, nhà bán buôn,
nhà bán lẻ hoạt động như một thể thống nhất. Với liên kết dọc, quá trình đàm
phán diễn ra một cách dễ dàng bởi lợi ích của từng thành viên được đặt trong
lợi ích của toàn hệ thống.
Có ba loại kênh VMS:
- Kênh VMS được quản lý: đay là kênh liên kết dọc mà ở đó một thành
viên có những cơ sở sức mạnh tự nhiên vốn có của họ. Và vì vậy họ trở thành
người lãnh đạo tỏng kênh, các thành viên khác tự nguyện đi theo chấp nhận
những yêu cầu và chiến lược mà họ đưa ra.
- Kênh VMS tập đoàn: đây là những kênh liên kết dọc mà mỗi thành
viên trong kênh để thuộc quyền sở hữu của mỗi tổ chức, mỗi cá nhân. Thực
chất quan hệ giữa các thành viên trong kênh giờ trở thành quan hệ của một tổ
chức. Đây là kiểu kênh có mức khả năng điều khiển giữa các thành viên là cao
nhất vì kiểu kênh này có thể điều khiển bằng các biện pháp hành chính mệnh
lệnh. Với kênh VMS tập đoàn, nó sẽ phát huy được hiệu quả kinh tế theo quy
mô trong phân phối. Nó cho phép chủ động phân chia các công việc phân phối
một cách tốt nhất, đồng thời VMS tập đoàn có khả năng điều hòa cung cầu thị
trường một cách chủ động. Tuy nhiên nó dễ dẫn đến độc quyền trong sản xuất
và phân phối, như thế lợi ích của xã hội sec không được tối đa hóa.
Khoa Kế toán & QTKD
Nội

Trường ĐHNN Hà

10


Khoá luận tốt nghiệp
QTKD52B


giao nhậu, thanh toán,.... Dòng chảy thông tin từ người sản xuất đến người tiêu
dùng cuối cùng đều là thông tin hai chiều. Dòng thông tin hoạt động trước,
trong và sau khi thực hiện các dòng vận động khác.
Khoa Kế toán & QTKD
Nội

Trường ĐHNN Hà

11


Khoá luận tốt nghiệp
QTKD52B

Nguyễn Thị Kim Lương

- Dòng vận động vật chất của sản phẩm: đây là sự di chuyển hàng hóa
vật phẩm thật sự trong không gian và thời gian từ địa điểm sản xuất tới địa
điểm tiêu dùng qua hệ thống kho tàng và phương tiện vận tải. Tham gia vào
dòng vận động vật chất có các công ty vận tải, các công ty kho. Đây là dòng
chảy chiếm tỷ trọng chi phí lớn nhất trong tổng chi phí phân phối. Vì vậy cần
tổ chức hoạt động phân phối vật chất sao cho đạt được chi phí phân phối vật
chất thấp nhất tương ứng với một mức độ dịch vụ khách hàng nhất định.
- Dòng chuyển quyền sở hữu: mô tả việc quyền sở hữu sản phẩm được
chuyển từ thành viên này sang thành viên khác trong kênh. Mỗi hành vi mua
bán xảy ra trong kênh là một lần hàng hóa chuyển quyền sở hữu từ người bán
sang người mua. Vấn đề đặt ra trong tổ chức và quản lý kênh là phải đảm bảo
số lần chuyển quyền sở hữu trong kênh hợp lý nhất.
- Dòng đàm phán: Giữa các thành viên trong kênh tác động qua lại lẫn
nhau để phân chia các công việc phân phối cũng như trách nhiệm và quyền lợi

- Dòng đặt hàng: đây chính là phương thức và cơ chế thu thập, tập hợp
và xử lý đơn đặt hàng giữa các thành viên kênh.. những nhu cầu của người mua
hoặc người sử dụng cuối cùng phải được chuyển trở lại người sản xuất một
cách kịp thời để được đáp ứng. Người sản xuất làm các quyết định phân phối
hàng ngày dựa theo đoen đặt hàng nhận được.
- Dòng san sẻ rủi ro: trong quá trình phân phối tiêu thụ sản phẩm chứa
đựng nhiều rủi ro bao gồm các rủi ro về thiệt hại vật chất trong vận chuyển và
bảo quản dự trữ sản phẩm, các rủi ro về tiêu thụ sản phẩm do nhu cầu thị
trường thay đổi... vì vậy trong kênh phân phối phải xác định rõ trách nhiệm của
từng thành viên kênh trước những rủi ro có thể để tránh những tranh chấp.
Dòng chia sẻ rủi ro chính là cơ chế phân chia trách nhiệm gánh vác những thiệt
hài do rủi ro của từng thành viên kênh.
- Dòng tài chính: đây chính là cơ chế tạo vốn và hỗ trợ vốn trong các
kênh phân phối. trong quá trình lưu thông sản phẩm ở những cấp độ phân phối
nhất định, vào những thời điểm nhất định, một thành viên kênh có thể có nhu
cầu vốn để thanh toán rất lớn. Cơ chế tạo vốn trong kênh có thể giúp cho họ có
được ngồn vốn thanh toán dễ dàng, nhanh chóng. Ví dụ: trong những thời kỳ
khủng hoảng kinh tế, khi sức mua thị trường giảm sút lớn để giúp các đại lý
của mình vượt qua thời kỳ khó khăn này các nhà sản xuất có khả năng tài chính
thường hỗ trợ cho các đại lý bằng cách cấp vốn cho hàng dự trữ tồn kho, cho
kéo dài thời hạn thanh toán.
- Dòng thu hồi, tái sử dụng lại bao gói: đây là dòng vận động bắt buộc
đối với các hệ thống kênh phân phối của một số loại sản phẩm. Các doanh
nghiệp sản xuất bắt buộc phải sử dụng những bao gói dùng nhiều lần nhằm
giảm chi phí sản xuất và bảo vệ môi trường. Trong tổ chức và quản lý kênh,
dòng chảy này phải được kết hợp chặt chẽ với dòng vận động sản phẩm vật
chất

Khoa Kế toán & QTKD
Nội

+ Hỗ trợ về nhân lực và vật lực để sản xuất và người bán buôn có điều
kiện tiếp xúc khách hàng hơn
+ Phát hiện nhu cầu và cung cấp thông tin này cho nhà sản xuất.
+ Phân chia những lô hàng lớn thành những lô nhỏ hơn một mặt tiết
kiệm cho nhà cung cấp, mặt khác phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của khách
hàng
+ Thay nhà cung cấp dự trữ một lượng tồn kho lớn với chi phí thấp đồng
thời tạo điều kiện cho người tiêu dùng tiếp cận sản phẩm dễ dàng
+ Chia sẻ rủi ro với nhà sản xuất bằng việc đặt hàng và chấp nhận mua
hàng trước mùa tiêu thụ.
Với tốc độ tăng quy mô của người bán lẻ ảnh hưởng đến việc liên kết nhiệm vụ
phân phối giữa các thành viên trong kênh, đặc biệt một số chức năng phân phối
Khoa Kế toán & QTKD
Nội

Trường ĐHNN Hà

14


Khoá luận tốt nghiệp
QTKD52B

Nguyễn Thị Kim Lương

từ nhà sản xuất và nhà bán buôn chuyển qua người bán lẻ có quy mô lớn. Mặt
khác, quy mô lớn sẽ làm tăng sức mạnh và tính độc lập, giảm sức ép, giảm sự
ảnh hưởng từ nhà sản xuất. điều này cho thấy các nhà quản lý kênh ở các hàng
chế tạo sẽ đối mặt với những cơ hội cũng như khó khăn mới trong việc sử dụng
người bán lẻ trong kênh.


15


Khoá luận tốt nghiệp
QTKD52B

Nguyễn Thị Kim Lương

hợp các mối quan hệ giữa các DN và cá nhân độc lập trong kinh doanh. Vì vậy
kênh phân phối không phải là một hệ thống kinh tế đơn thuần mà nó còn là một
hệ thống xã hội thực sự có các hành vi đặc trưng giống như tất cả các hệ thống
xã hội khác. Mối quan hệ làm việc giữa các thành viên của kênh và sự tác động
qua lại giữa họ không chỉ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố kinh tế mà còn nhiều yếu
tố xã hội khác. Quan hệ hành vi trong kênh phân phối gồm các quan hệ sau:
- Quan hệ hợp tác: các thành viên tham gia vào hệ thống kênh phân phối
trước hết phải hợp tác với nhau để khai thác các cơ hội kinh doanh trên thị
trường. Các thành viên kênh ở mỗi cấp độ phân phối có thể hợp tác để xây
dựng các trung tâm thương mại, hay cùng sử dụng hiệu quả các phương tiện
kinh doanh. Ví dụ, các thành viên kênh có thể phối hợp để cùng nhập khẩu một
lô hàng hoặc cùng thuê một phương tiện vận tải.
- Quan hệ cạnh tranh: cạnh tranh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tất
cả các thành viên của kênh phân phối, đặc biệt trong hoàn cảnh cạnh tranh đã
mở rộng ra phạm vi toàn thế giới. trong các kênh phân phối tồn tại ít nhất bốn
loại cạnh tranh:
+ Cạnh tranh chiều ngang cùng loại: là cạnh tranh giữa các thành viên
kênh cùng loại ở cùng một cấp độ phân phối với nhau. Đây là hình thức cạnh
tranh cơ bản phổ biến và thông thường.
+ Cạnh tranh chiều ngang nhưng khác loại: là sự cạnh tranh giữa các
DN ở cùng một cấp độ phân phối nhưng khác loại. các siêu thị mới xuất hiện

thể tác động tích cực tới hoạt động của kênh.
2.1.3. Tổ chức kênh phân phối
Tổ chức (thiết kế) kênh phân phối là tất cả những hoạt động liên quan
đến việc phát triển những kênh phân phối mới ở những nơi trước đó nói chưa
tồn tại hoặc là để cải tiến các kênh hiện tại. khi các doanh nghiệp tổ chức kênh
phân phối để tiêu thụ sản phẩm, họ có thể theo nhiều cách khác nhau, nhưng
những bước công việc cơ bản DN phải thực hiện trong quá trình xây dựng hay
tổ chức kênh là:
2.1.3.1. Nhận dạng nhu cầu phải tổ chức kênh phân phối
Trước hết DN cần phải xác định khi nào cần phải quyết định xây dựng
kênh phân phối của họ. Sau đây là một số trường hợp mà DN cần thiết phải đưa
ra quyết định thiết kế kênh là:
(1) Phát triển sản phẩm mới hoặc dòng sản phẩm mới. Nếu các kênh hiện có
cho các sản phẩm khác là không thích hợp với sản phẩm hoặc dòng sản phẩm
mới, kênh mới có thể cần được xây dựng hoặc các kênh hiện tại phải được sửa
đổi cho phù hợp.
(2) Đưa các sản phẩm hiện tại vào thị trường mục tiêu mới.
(3) Khi thành lập công ty mới.
(4) Mở ra các khu vực thị trường địa lý mới.
(5) Xảy ra xung đột hoặc các quá trình hành vi khác. Khi trường hợp xung đột
có thể trở nên nghiêm trọng đến mức chỉ có thể giải quyết nó bằng cách cải tạo
kênh hiện có.

Khoa Kế toán & QTKD
Nội

Trường ĐHNN Hà

17


phẩm sẽ thay đổi.
Sự bao phủ của thị trường, của hệ thống kênh phân phối từ phân phối rộng rãi
đến phân phối độc quyền.
+ Yêu cầu về mức độ điều khiển kênh: Trong khi lựa chọn kênh phân
phối, doanh nghiệp phải dựa trên nhu cầu về mức độ điều khiển kênh mong
muốn. Mức độ điều khiển kênh tỷ lệ thuận với tính trực tiếp của kênh. Khi sử

Khoa Kế toán & QTKD
Nội

Trường ĐHNN Hà

18


Khoá luận tốt nghiệp
QTKD52B

Nguyễn Thị Kim Lương

dụng các kênh gián tiếp, nhà sản xuất phải từ bỏ một số yêu cầu điều khiển việc
tiêu thụ sản phẩm của mình trên thị trường.
+ Quy mô của tổng chi phí phân phối: Khi lựa chọn kênh phải tính đến
tổng chi phí phân phối của cả hệ thống kênh, bởi vì đây là một hệ thống tổng
thể phụ thuộc vào nhau. Mục tiêu của DN phải tối ưu hóa hoạt động của cả hệ
thống, phải lựa chọn được kênh phân phối có tổng chi phí thấp nhất.
+ Mức độ linh hoạt của kênh: Xuất phát từ nhà sản xuất cần phải thích
ứng với sự thay đổi của thị trường đang diễn ra nhanh chóng. Tương lai không
chắc chắn thì càng không nên chọn các kênh có cam kết lâu dài.
- Đặc điểm của sản phẩm:

QTKD52B

Nguyễn Thị Kim Lương

ảnh hưởng nhiều đến việc lựa chọn kênh tiêu thụ họ có thể duy trì nhiều loại
kênh phân phối cùng một lúc.
Nguồn lực của doanh nghiệp sẽ quyết định có thể thực hiện các chức
năng phân phối nào và phải nhường cho các thành viên kênh khác những chức
năng nào. Dòng sản phẩm của DN có ảnh hưởng đến kiểu kênh. Lực lượng
marketing của DN khác nhau thì kiểu kênh sử dụng cũng khác nhau.
b. Các nhân tố bên ngoài
*. Các yếu tố trong môi trường ngành:
- Nhà cung cấp: áp lực cạnh tranh của nhà cung cấp nguyen liệu ảnh
hưởng tới giá của sản phẩm. Vì vậy mà ngành nào có áp lực cạnh tranh của
nhà cung cấp cao thì các DN sẽ có xu hướng sử dụng những kênh ngắn để tiêu
thụ sản phẩm
- Khách hàng:
+ Đặc điểm của thị trường mục tiêu: Định hướng khách hàng là nguyên
tắc cơ bản của quản trị Marketing nói chung và quản trị kênh phân phối nói
riêng. Các nhà quản lý DN phải đưa ra được các giải pháp cơ bản nhằm đáp
ứng nhu cầu và mong muốn của thị trường mục tiêu. Do vậy, từ các quyết định
về sản phẩm đến giá bán và các hoạt động xúc tiến của doanh nghiệp trên thị
trường mục tiêu. Trong tổ chức kênh phân phối cũng vậy, các đặc điểm của thị
trường mục tiêu là yếu tố cơ bản nhất định hướng cho các thiết kế cấu trúc và
kiểu quan hệ trong kênh phân phối. Cấu trúc kênh phân phối phải đáp ứng
được nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng cuối cùng, đem đến lợi ích
cơ bản người tiêu dùng mong muốn nhận được từ các kênh phân phối. Những
lợi ích cơ bản mà người tiêu dùng mong muốn nhận được từ các kênh phân
phối bao gồm: thông tin về sản phẩm, tiện dụng (dễ dàng) khi mua sắm, đa
dạng về sản phẩm để người mua có thể lựa chọn theo ý thích của mình, và dịch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status