LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cần thiết và hết sức quan trọng của mỗi
sinh viên, không những củng cố lại kiến thức đã học mà còn vận dụng các kiến
thức đó vào thực tiễn. Hơn nữa đồng thời giúp sinh viên nâng cao kiến thức luận,
phương pháp làm việc một cách hiệu quả đáp ứng nhu cầu thực tiễn.
Từ những cơ sở đó, được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ
nhiệm khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, tôi đã tiến hành thực tập tốt nghiệp
tại Công ty Thịnh Hưng (TNHH) từ ngày 27/12/2010 đến ngày 27/05/2011 với đề
tài:“Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty
Thịnh Hưng (TNHH) trên thị trường tỉnh Bắc Ninh” .
Để hoàn thành tốt khoá luận tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc tới Ban chủ nhiệm khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh đã tận tình giảng dạy
và truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn Th.S Đặng Văn Tiến đã hướng dẫn tận
tình và giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian hoàn thành luận văn.
Qua đây tôi cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn Ban giám đốc, Phòng kế
toán Công ty Thịnh Hưng (TNHH) đã tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn và giúp
đỡ tôi hoàn thành tốt đợt thực tập tốt nghiệp.
Mặc dù đã rất cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu nhưng do thời gian cũng như
kiến thức còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận
được những ý kiến đóng góp của thầy, cô giáo để đề tài của tôi được hoàn thiện
hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Thị Tuyết Nhung
I. MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường.
- Nghiên cứu các công ty bạn cũng đang kinh doanh cùng lĩnh vực với
Thịnh Hưng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
- Từ đó thấy được môi trường cạnh tranh trong lĩnh vực xây dựng ở tỉnh
Bắc Ninh trong đó Thịnh Hưng là một thành viên diễn ra gay gắt như thế nào.
- Từ thực trạng trên mới đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh cho công ty.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công ty Thịnh Hưng (TNHH) và các công ty bạn
hoạt động cùng lĩnh vực với Thịnh Hưng trên thị trường tỉnh Bắc Ninh.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: Công ty Thịnh Hưng (TNHH) và thị trường tỉnh Bắc Ninh.
+ Phạm vi thời gian: từ ngày 27/12/2010 đến ngày 27/05/2011.
1.4. Kết quả nghiên cứu dự kiến
- Đánh giá được thực trạng hoạt động cạnh tranh diễn ra tại công ty.
- Đưa ra được một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho
công ty
- Có được những nhận thức sâu hơn cho bản thân về cạnh tranh.
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan tài liệu
2.1.1. Cơ sở lý thuyết
2.1.1.1. Cạnh tranh, đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường
a. Khái niệm và đặc điểm của cạnh tranh
* Khái niệm cạnh tranh:
Trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay, các khái
niệm liên quan đến cạnh tranh còn rất khác nhau. Theo Mác “cạnh tranh là sự
phấn đấu ganh đua gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện
thuận lợi trong sản xuất và trong tiêu thụ để đạt được những lợi nhuận siêu
ngạch”, có các quan niệm khác lại cho rằng “cạnh tranh là sự phấn đấu về chất
giành được các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm buộc các
doanh nghiệp phải thường xuyên động não, tích cực nhạy bén và năng động phải
thường xuyên cải tiến kỹ thuật, ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ mới, bổ
sung xây dựng các cơ sở hạ tầng, mua sắm thêm trang thiết bị máy móc, loại bỏ
những máy móc đã cũ kỹ và lạc hậu và điều quan trọng phải có phương pháp tổ
chức quản lý có hiệu quả, đào tạo và đãi ngộ trình độ chuyên môn, tay nghề cho
người lao động. Thực tế cho thấy ở đâu thiếu có sự cạnh tranh thường ở đó biểu
hiện sự trị trệ và yếu kém sẽ dẫn doanh nghiệp sẽ mau chóng bị đào thải ra khỏi
quy luật vận động của nền kinh tế thị trường. Để thúc đẩy tiêu thụ và đẩy nhanh
tốc độ chu chuyển hàng hóa các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu thị trường, tìm
hiểu nhu cầu, thị hiếu của khách hàng. Do đó, cạnh tranh không chỉ kích thích tăng
năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất mà còn cải tiến mẫu mã, chủng loại
hàng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch vụ làm cho sản xuất
ngày càng gắn liền với tiêu dùng, phục vụ nhu cầu xã hội được tốt hơn. Cạnh tranh
là một điều kiện đồng thời là một yếu tố kích thích hoạt động kinh doanh phát
triển. Bên cạnh những mặt tích cực cạnh tranh còn để lại nhiều hạn chế và tiêu
cực, đó là sự phân hóa sản xuất hàng hóa, làm phá sản những doanh nghiệp kinh
doanh gặp nhiều khó khăn do thiếu vốn, cơ sở hạ tầng hạn hẹp, trình độ công nghệ
thấp và có thể làm cho doanh nghiệp phá sản khi doanh nghiệp gặp những rủi ro
khách quan mang lại như thiên tai, hỏa hoạn… hoặc bị rơi vào những hoàn cảnh,
điều kiện không thuận lợi.
Như vậy, cạnh tranh được hiểu và được khái quát một cách chung nhất đó
là cuộc ganh đua gay gắt giữa các chủ thể đang hoạt động trên thị trường với nhau,
kinh doanh cùng một loại sản phẩm hoặc những sản phẩm tương tự thay thế lẫn
nhau nhằm chiếm lĩnh thị phần, tăng doanh số và lợi nhuận. Các doanh nghiệp
thương mại cần nhận thức đúng đắn về cạnh tranh để một mặt chấp nhận cạnh
tranh theo khía cạnh tích cực để từ đó phát huy yếu tố nội lực nâng cao chất lượng
phục vụ khách hàng, mặt khác tránh tình trạng cạnh tranh bất hợp lý dẫn đến làm
Nhà nước.
* Căn cứ vào mức độ cạnh tranh trên thị trường: 3 loại
+ Cạnh tranh hoàn hảo:
Là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có rất nhiều người bán, họ đều
quá nhỏ lẻ nên không ảnh hưởng đến giá cả thị trường. Điều đó có nghĩa là không
cần biết sản xuất được bao nhiêu, họ đều có thể bán tất cả sản phẩm của mình tại
mức giá thị trường hiện hành. Vì vậy mặt hàng trong thị trường cạnh tranh hoàn
hảo không có lý do gì để bán rẻ hơn mức giá thị trường. Đồng thời hàng năm cũng
không tăng giá của mình lên cao hơn giá thị trường vì nếu hàng tăng giá thì hãng
sẽ không bán được hàng, do người tiêu dùng sẽ đi mua hàng với mức giá hợp lý từ
các đối thủ cạnh tranh của hãng. Do đó các hãng sản xuất sẽ luôn tìm các biện
pháp để giảm chi phí sản xuất đến mức tối đa, nhờ đó để có thể tăng lợi nhuận.
Đối với thị trường cạnh tranh hoàn hảo sẽ không có những hiện tượng cung
cầu giả tạo, không bị hạn chế bởi các biện pháp hành chính Nhà nước, vì vậy trong
thị trường cạnh tranh hoàn hảo giá cả thị trường sẽ dẫn tới chi phí sản xuất.
+ Cạnh tranh không hoàn hảo:
Nếu một hàng có thể tác động đáng kể đến giá cả thị trường đối với đầu ra
của hãng ấy thì hãng ấy được liệt vào “hàng cạnh tranh không hoàn hảo”. Như
vậy, cạnh tranh không hoàn hảo là cạnh tranh trên thị trường không đồng nhất với
nhau. Mỗi loại sản phẩm có thể có nhiều nhãn hiệu khác nhau mặc dù sự khác biệt
giữa các sản phẩm là không đáng kể. Mỗi loại sản phẩm lại có uy tín, hình ảnh
khác nhau, các điều kiện mua bán hàng cũng rất khác nhau. Người bán có thể có
uy tín độc đáo khác nhau đối với người mua do nhiều lý do khác nhau như: khách
hàng quen, gây được lòng tin từ trước… Người bán là kéo khách về phía mình
bằng nhiều cách: quảng cáo, khuyến mại, phương thức bán hàng và cung cấp dịch
vụ, tín dụng, chiết khấu giá… Loại hình cạnh tranh không hoàn hảo hiện nay rất
phổ biến trong nền kinh tế thị trường.
+ Cạnh tranh độc quyền:
vốn kinh doanh từ những ngành ít thu được lợi nhuận sang những ngành có lợi
nhuận cao hơn. Sự điều chỉnh này sau một thời gian nhất định sẽ hình thành nên
sự phân phối vốn hợp lý giữa các ngành sản xuất. Kết quả cuối cùng là các chủ
doanh nghiệp đầu tư ở các ngành khác nhau với số vốn bằng nhau và chỉ thu được
lợi nhuận như nhau. Tức là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân cho tất cả các
ngành.
c. Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung trước đây phạm trù cạnh tranh hầu
như không tồn tại giữa các doanh nghiệp, tại thời điểm này các doanh nghiệp hầu
như đã được Nhà nước bao cấp hoàn toàn về vốn, chi phí cho mọi hoạt động, kể cả
khi các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ trách nhiệm này cũng thuộc về Nhà nước. Vì
vậy, vô hình chung Nhà nước đã tạo ra một lối mòn trong kinh doanh, một thói
quen trì trệ và ỉ lại, doanh nghiệp không phải tự tìm kiếm khách hàng mà chỉ có
khách hàng tự tìm đến doanh nghiệp. Chính điều đó đã không tạo được động lực
cho doanh nghiệp phát triển. Sau khi kết thúc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
(1986) nước ta đã chuyển sang một giai đoạn mới, một bước ngoặt lớn, nền kinh tế
thị trường được hình thành thì vấn đề cạnh tranh xuất hiện và có vai trò đặc biệt
quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với người tiêu dùng cũng
như nền kinh tế quốc dân nói chung.
* Đối với nền kinh tế quốc dân:
Đối với nền kinh tế cạnh tranh không chỉ là môi trường và động lực của sự
phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao
động mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hóa quan hệ xã hội, cạnh tranh
còn là điều kiện giáo dục tính năng động của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó cạnh
tranh góp phần gợi mở những nhu cầu mới của xã hội thông qua sự xuất hiện của
những sản phẩm mới. Điều đó chứng tỏ đời sống của con người ngày càng được
nâng cao về chính trị, về kinh tế và văn hóa. Cạnh tranh bảo đảm thúc đẩy sự phát
triển của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động xã hội ngày càng phát triển sâu
* Đối với ngành:
Hiện nay đối với nền kinh tế nói chung, cạnh tranh đóng một vai trò rất
quan trọng trong sự phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm. Cạnh tranh bình
đẳng và lành mạnh sẽ tạo bước đà vững chắc cho mọi ngành nghề phát triển. Nhất
là đối với ngành xây dựng là một ngành có vai trò chủ lực trong sự phát triển của
nền kinh tế quốc dân. Cạnh tranh sẽ tạo bước đà và động lực cho ngành phát triển
trên cơ sở khai thác lợi thế và điểm mạnh của ngành đó là thu hút được một nguồn
lao động dồi dào và có thể khai thác tối đa nguồn lực đó.
Như vậy, trong bất cứ một hoạt động kinh doanh nào dù là có quy mô hoạt
động lớn hay quy mô hoạt động nhỏ, dù là hoạt động đó đáp ứng ở tầm vĩ mô hay
vi mô thì không thể thiếu sự có mặt và vai trò của yếu tố cạnh tranh.
* Đối với sản phẩm:
Nhờ có cạnh tranh mà sản phẩm sản xuất ra ngày càng được nâng cao về
chất lượng, phong phú về chủng loại, mẫu mã và kích cỡ. Giúp cho lợi ích của
người tiêu dùng và của doanh nghiệp thu được ngày càng nhiều hơn. Ngày nay các
sản phẩm được sản xuất ra không chỉ để đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn cung
cấp và xuất khẩu ra nước ngoài. Qua nhưnữg ý nghĩa trên, ta thấy rằng cạnh tranh
không thể thiếu sót ở bất cứ một lĩnh vực nào của nền kinh tế. Cạnh tranh lành
mạnh sẽ thực sự tạo ra những nhà doanh nghiệp giỏi và đồng thời là động lực thúc
đẩy nền kinh tế phát triển, đảm bảo công bằng xã hội.
Bởi vậy cạnh tranh là một yếu tố rất cần có sự hỗ trợ và quản lỹ của Nhà
nước để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực như cạnh
tranh không lành mạnh dẫn đến độc quyền và gây lũng đoạn, xáo trộn thị trường.
2.1.1.2. Nội dung và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp
a. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là gì?
Cạnh tranh không phải là sự hủy diệt mà là sự thay đổi, thay thế những
doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, sử dụng lãng phí nguồn lực của xã hội bằng các
phản ánh trong các cuốn sách của M.Poter, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
có thể hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trường, tiêu thụ các sản phẩm cùng loại
( hay sản phẩm thay thế) của công ty đó. Với cách tiếp cận này mỗi ngành dù là
trong hay ngoài nước năng lực cạnh tranh được quy định bởi các yếu tố sau:
1
Số lượng các doanh nghiệp mới tham gia.
2
Sự có mặt của các sản phẩm thay thế.
3
Vị thế của khách hàng.
4
Uy tín của nhà cung ứng.
5
Tính quyết liệt của đối thủ cạnh tranh.
Nghiên cứu những yếu tố cạnh tranh này sẽ là cơ sở cho doanh nghiệp xây
dựng và lựa chọn chiến lược kinh doanh cạnh tranh phù hợp với giai đoạn, thời kỳ
phát triển của nền kinh tế.
+ Quan điểm tân cổ điển về khả năng cạnh tranh của một sản phẩm.
Quan điểm này dựa trên lý thuyết thương mại truyền thống, đã xem xét khả
năng cạnh tranh của một sản phẩm thông qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và
thụ của doanh nghiệp sẽ tăng lên.
Để chiếm lĩnh được ưu thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải có sự
lựa chọn các chính sách giá thích hợp cho từng loại sản phẩm, từng giai đoạn hay
tùy thuộc vào đặc điểm của từng vùng thị trường.
* Chất lượng dịch vụ:
Nếu như trước kia, giá cả được coi là yếu tố quan trọng nhất trong cạnh
tranh thì ngày nay nó đã phải nhường chỗ cho chỉ tiêu chất lượng dịch vụ và sản
phẩm nhất là khi đời sống ngày càng được nâng cao. Trên thực tế, cạnh tranh bằng
giá là “biện pháp nghèo nàn” nhất vì nó làm giảm lợi nhuận thu được, mà ngược
lại, cùng một loại sản phẩm, chất lượng sản phẩm và dịch vụ nào tốt, đáp ứng
được yêu cầu thì người tiêu dùng cũng sẵn sàng mua với một mức giá có cao hơn
một chút cũng không sao, nhất là trong thời đại ngày nay khi mà khoa học kỹ thuật
đang trong giai đoạn phát triển mạnh, vì thế đời sống của nhân dân được nâng cao
rất nhiều so với trước thì chất lượng sản phẩm và dịch vụ phải đưa lên hàng đầu.
Chất lượng sản phẩm dịch vụ là một vấn đề sống còn đối với một doanh
nghiệp đặc biệt là đối với các doanh nghiệp tư nhân khi mà họ đang phải đương
đầu với các đối thủ cạnh tranh khác. Một khi chất lượng sản phẩm và dịch vụ
không được đảm bảo thì cũng có nghĩa là doanh nghiệp sẽ bị mất khách hàng, mất
thị trường, nhanh chóng tới chỗ suy yếu và phá sản.
* Tổ chức dịch vụ tiêu thụ sản phẩm:
Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình nhập và xuất hàng, đây
cũng là giai đoạn thực hiện bù đắp chi phí và thu lợi nhuận.
Việc đầu tiên của quá trình tổ chức tiêu thụ sản phẩm là phải lựa chọn các
kênh phân phối sản phẩm một cách hợp lý, có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm sản
phẩm, với các mục tiêu của doanh nghiệp. Lựa chọn các kênh phân phối nhằm
mục đích đáp ứng một cách tốt nhất các yêu cầu của khách hàng, nhanh chóng giải
phóng nguồn hàng để bù đắp chi phí sản xuất dịch vụ, thu hồi vốn. Xây dựng một
hệ thống mạng lưới tiêu thụ sản phẩm tốt cũng có nghĩa là xây dựng một nền móng
động đầu tư, mua sắm hay phân phối nào cũng đều phải xem xét tính toán đến
tiềm lực tài chính của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có tiềm lực lớn về tài
chính sẽ rất thuận lợi trong việc huy động vốn đầu tư, trong mua sắm đổi mới công
nghệ và máy móc cũng như có điều kiện để đào tạo và đãi ngộ nhân sự. Những
thuận lợi đó sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao được trình độ chuyên môn, tay nghề
cho cán bộ, nhân viên, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ thấp chi phí để nâng cao
sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp nào yếu kém về tài chính sẽ
không có điều kiện để mua sắm, trang trải nợ và như vậy sẽ không tạo được uy tín
về khả năng thanh toán và khả năng đáp ứng những sản phẩm có chất lượng cao
đối với khách hàng. Từ đó làm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không
tiến triển được và có nguy cơ bị thụt lùi hoặc phá sản. Như vậy khả năng tài chính
là yếu tố quan trọng đầu tiên để doanh nghiệp hình thành và phát triển.
+ Nguồn lực về vật chất kỹ thuật:
Nguồn lực vật chất kỹ thuật sẽ phản ánh thực lực của doanh nghiệp đối với
đối thủ cạnh tranh về trang thiết bị hiện có được tận dụng và khai thác trong quá
trình hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Bởi lẽ trình độ máy móc và
công nghệ có ảnh hưởng mạnh mẽ tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Một
doanh nghiệp có hệ thống trang thiết bị máy móc, công nghệ hiện đại thì các sản
phẩm của doanh nghiệp nhất định sẽ được bảo toàn về chất lượng khi đến tay
người tiêu dùng. Có hệ thống máy móc hiện đại sẽ thúc đẩy nhanh quá trình tiêu
thụ hàng hóa, tăng nhanh vòng quay về vốn, giảm bớt được khâu kiểm tra về chất
lượng hàng hóa. Nếu xét về công nghệ máy móc có ảnh hưởng đến giá thành của
sản phẩm thì cũng sẽ ảnh hưởng đến giá bán của doanh nghiệp thương mại. Ngày
nay do tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, cuộc chiến giữa các
doanh nghiệp đang trở thành cuộc cạnh tranh về trí tuệ, về trình độ công nghệ.
Công nghệ tiên tiến không những đảm bảo năng suất lao động, chất lượng sản
phẩm cao, giá thành hạ mà còn có thể xác lập tiêu chuẩn mới cho từng ngành sản
xuất kỹ thuật. Mặt khác khi mà việc bảo vệ môi trường như hiện nay đang trở
và đội ngũ nhân viên không cần giỏi về chuyên môn vẫn có thể tồn tại lâu dài
trong doanh nghiệp. Ngày nay với quy luật đào thải của nền kinh tế thị trường thì
không bao giờ tồn tại hiện tượng đó nữa.
Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp nào có đội ngũ lãnh đạo giỏi, tài
tình và sáng suốt thì ở đó công nhân viên rất yên tâm để cống hiến hết mình, họ
luôn có cảm giác là doanh nghiệp mình sẽ luôn đứng vững và phát triển. Trách
nhiệm và quyền lợi của họ được đảm bảo và phát huy. Ở đâu có nhân viên nhiệt
tình có trách nhiệm thì ở đó có sự phát triển vững chắc, bởi những quyết định mà
ban lãnh đạo đưa ra đã có người thực hiện. Như vậy để có năng lực cạnh tranh thì
những người trong doanh nghiệp đó phải có ý thức và trách nhiệm về nghĩa vụ của
mình. Muốn vậy khâu tuyển dụng đào tạo và đãi ngộ nhân sự phải được quan tâm
hàng đầu, nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
* Các nhân tố khách quan:
Là hệ thống toàn bộ các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp, có liên quan và
ảnh hưởng đến quá trình tồn tại, vận hành và phát triển của doanh nghiệp. Các
nhân tố khách quan bao gồm:
+ Nhà cung cấp:
Nhà cung cấp đối với doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng, nó đảm bảo
cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành ổn định theo kế hoạch
đã định trước. Trên thực tế nhà cung cấp thường được phân thành ba loại chủ yếu:
loại cung cấp thiết bị, nguyên vật liệu, loại cung cấp nhân công, loại cung cấp tiền
và các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm. Như vậy mỗi doanh nghiệp cùng một lúc có
quan hệ với nhiều nguồn cung cấp thuộc cả ba loại trên. Vấn đề đặt ra là yêu cầu
của việc cung cấp phải đầy đủ về số lượng, kịp thời về thời gian, đảm bảo về chất
lượng và ổn định về giá cả. Mỗi sự sai lệch trong quan hệ với nhà cung cấp đều
ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, điều đó sẽ làm giảm sức
cạnh tranh của doanh nghiệp.
Để giảm tính độc quyền và sức ép từ phía các nhà cung cấp, các doanh
trường hợp họ chỉ có ít thông tin.
Bên cạnh đó sự yêu cầu của khách hàng cũng sẽ gây áp lực làm tụt giảm
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Điều này thể hiện ở chỗ nếu doanh nghiệp
không theo đuổi kịp những thay đổi trong nhu cầu của khách hàng thì họ sẽ có xu
hướng chuyển dịch sang những doanh nghiệp khác mà doanh nghiệp đó có thể đáp
ứng đầy đủ nhu cầu của họ. Và như vậy sức cạnh tranh sẽ giảm sút. Điều đó chứng
tỏ yếu tố khách hàng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự tồn tại, vận hành và phát triển
của doanh nghiệp.
+ Các đối thủ cành tranh hiện tại và tiềm ẩn:
Doanh nghiệp luôn phải đối phó với hàng loạt đối thủ cạnh tranh. Vấn đề
quan trọng ở đây là không được coi thường bất kì đối thủ nào, nhưng cũng không
nên coi đối thủ là kẻ địch. Cách xử lí khôn ngoan nhất không phải là hướng mũi
nhọn vào đối thủ của mình mà ngược lại phải xác định, điều khiển và hòa giải, lại
vừa phải hướng suy nghĩ và sự quan tâm của mình vào khách hàng là có nghĩa
mình đã thành công một phần trong cạnh tranh. Mặt khác cũng nên quan tâm tới
việc dự đoán trong tương lai và định hướng tới khách hàng. Vì thế, trong cạnh
tranh người được lợi nhất là khách hàng, nhờ có cạnh tranh mà khách hàng được
tôn vinh là thượng đế. Để có và giữ được khách hàng, doanh nghiệp cần phải tìm
cách sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng tốt hơn, đẹp hơn và rẻ hơn, không
những thể còn phải chiều lòng khách hàng, lôi kéo khách hàng bằng cách hoạt
động quảng cáo khuyến mãi và tiếp thị.
Có thể nói rằng khi doanh nghiệp này với các doanh nghiệp khác mới bắt
đầu bước chân vào thị trường thì họ là những đồng nghiệp, những đối tác để gây
dựng thị trường, để hình thành nên một khu vực cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho
khách hàng. Nhưng khi có người khách hàng đầu tiên bước vào khu vực thị trường
này, thì họ sẽ trở thành đối thủ của nhau, họ tìm mọi cách để lôi kéo khách hàng
về phía mình.
Trong những thời điểm và giai đoạn khác nhau thường có những đối thủ
Hệ số này càng cao, khả năng tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp
càng giảm.
- Hệ số thanh toán lãi vay:
Hệ số thanh toán lãi vay
LN trước thuế + Lãi tiền vay
Lãi tiền vay
Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp. Nếu tỷ
lệ này quá thấp sẽ làm giảm khả năng trả lãi, đồng thời lợi nhuận của doanh
nghiệp cũng không thể cao. Đây là một trong các căn cứ để Ngân hàng quyết định
có cung cấp các khoản vay tiếp theo hay không.
- Hệ số thanh toán hiện hành:
Hệ số thanh toán hiện hành
Tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn
- Hệ số thanh toán nhanh:
Hệ số thanh toán nhanh
Tài sản lưu động - hàng tồn
=
kho
Nợ ngắn hạn
- Hệ số thanh toán tức thời:
Hệ số thanh toán tức thời
Trong đó:
K1 = ∑Ltt x 100%
∑Ldt
- K1: xác suất trúng thầu theo số hợp đồng (%)
- ∑Ltt: tổng số lần thắng thầu
- ∑Ldt: tổng số lần tham gia dự thầu
+ Tính theo giá trị hợp đồng:
Trong đó:
K2 = ∑Gtt x 100%
∑Gdt
- K2: xác suất trúng thầu theo giá trị hợp đồng (%)
- ∑Gtt: tổng giá trị hợp đồng thắng thầu
- ∑Gdt: tổng giá trị hợp đồng tham gia dự thầu
* Thị phần và uy tín của doanh nghiệp:
Đây là chỉ tiêu đánh giá một cách khái quát khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp. Trong đó thị phần biểu hiện thành hai mặt: thị phần tuyệt đối và thị phần
tương đối.
∑ giá trị xây lắp của doanh
Thị phần tổng quát =
nghiệp
∑ giá trị xây lắp toàn ngành
quan. Các doanh nghiệp tham gia thị trường đều phải chấp nhận cạnh tranh. Cạnh
tranh, chấp nhận cạnh tranh và cạnh tranh bằng tất cả khả năng của mình mới có
thể giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Chính vì vậy, tăng khả năng cạnh
tranh là một điều tất yếu của mỗi một doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị
trường.
c. Sự cần thiết nâng cao khả năng cạnh tranh trong kinh doanh của Công ty Thịnh
Hưng (TNHH).
Công ty Thịnh Hưng (TNHH) là một doanh nghiệp trẻ hoạt động trong lĩnh
vực xây dựng với ngành nghề chính là chuyên nhận thầu và xây lắp công trình.
Khi mới thành lập công ty Thịnh Hưng gặp không ít khó khăn. Thị phần của công
ty không đáng kể, công ty phải chịu một sự cạnh tranh rất gay gắt. Trước tình hình
đó, để tồn tại và phát triển công ty cần phải nâng cao khả năng cạnh tranh của
mình để có thể tiếp tục tồn tại và phát triển.
2.1.2. Tổng hợp và đánh giá các nghiên cứu có liên quan trước đây
Năm 1985, cuốn sách “ Lợi thế cạnh tranh” được xuất bản lần đầu. Cuốn
sách là sự bổ sung chính yếu cho tác phẩm “ Chiến lược cạnh tranh”. Nếu “ Chiến
lược cạnh tranh” tập trung vào các ngành kinh doanh thì “ Lợi thế cạnh tranh” lại
chủ yếu nói về các công ty và doanh nghiệp. Mục tiêu là khái niệm hoá một công
ty với những nguồn gốc cơ bản của lợi thế cạnh tranh và tính bền vững của lợi thế
đó. Trọng tâm của tác phẩm này là một lý thuyết dựa trên hoạt động ( activitybased theory) của công ty. Để cạnh tranh trong bất kỳ ngành nào, các công ty phải
thực hiện một loạt những hoạt động riêng rẽ như thực hiện đơn đặt hàng, tiếp xúc
khách hàng, lắp rắp sản phẩm, đào tạo nhân viên… Chính các hoạt động này, vốn
ở tầm nhỏ hẹp hơn các chức năng như Marketing hay R&D, mới là nơi phát sinh
chi phí và tạo ra giá trị cho người mua. Chính chúng mới là các đơn vị cơ bản
( basic units) của lợi thế cạnh tranh. Đa số các công trình nghiên cứu trước đây
gắn lợi thế cạnh tranh với quy mô và thị phần, và điều này thực ra đã quá đơn giản