KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG TOÀN CẦU LẦN THỨ HAI VỀ BẢO TỒN TÀI NGUYÊN DI TRUYỀN THỰC VẬT PHỤC VỤ MỤC TIÊU LƯƠNG THỰC VÀ NÔNG NGHIỆP - Pdf 35

KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG TOÀN CẦU LẦN THỨ HAI
VỀ BẢO TỒN TÀI NGUYÊN DI TRUYỀN THỰC VẬT
PHỤC VỤ MỤC TIÊU LƯƠNG THỰC VÀ NÔNG NGHIỆP

ÚY BAN TÀI NGUYÊN
DI TRUYỀN VỀ LƯƠNG THỰC
VÀ NÔNG NGHIỆP


KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG TOÀN CẦU LẦN THỨ HAI
VỀ BẢO TỒN TÀI NGUYÊN DI TRUYỀN THỰC VẬT
PHỤC VỤ MỤC TIÊU LƯƠNG THỰC VÀ NÔNG NGHIỆP

ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG FAO THÔNG QUA
ROME, Ý, NGÀY 29 THÁNG 10 NĂM 2011

Ủy ban Tài nguyên Di truyền về Lương thực và Nông nghiệp
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp Quốc
FAO, 2011


Các chỉ định sử dụng và việc trình bày
các tài liệu trong ấn phẩm thông tin này
không có hàm ý diễn đạt bất cứ ý kiến nào
của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp
của Liên hợp Quốc liên quan đến pháp lý
hoặc tình trạng phát triển của bất kỳ quốc
gia, vùng lãnh thổ, thành phố, khu vực tự trị
hoặc liên quan đến việc phân định ranh giới
hay biên giới. Việc đề cập các vấn đề cụ thể
của công ty hoặc sản phẩm của nhà máy,

LỜI NÓI ĐẦU
Kế hoạch Hành động Toàn cầu lần thứ hai về tài nguyên di truyền thực vật phục vụ mục tiêu
lương thực và nông nghiệp được chuẩn bị dưới sự bảo hộ của Ủy ban Tài nguyên Di truyền về
Lương thực và Nông nghiệp và được Hội đồng FAO thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2011.
Bản kế hoạch này cập nhật Kế hoạch Hành động Toàn cầu về Bảo tồn và Sử dụng bền vững
Tài nguyên Di truyền Thực vật phục vụ mục tiêu Lương thực và Nông nghiệp đã được thông
qua năm 1996 tại Hội nghị Kỹ thuật về Tài nguyên Di truyền Thực vật Quốc tế lần thứ 4.
Kế hoạch Hành động Toàn cầu lần thứ hai phản ánh nhu cầu và ưu tiên được xác định trong
Báo cáo lần thứ hai về Hiện trạng Tài nguyên Di truyền Thực vật Thế giới phục vụ mục tiêu
Lương thực và Nông nghiệp, báo cáo đánh giá toàn cầu đã được FAO xuất bản năm 2010. Kế
hoạch Hành động Toàn cầu lần thứ hai được rất nhiều chuyên gia tư vấn cấp khu vực chuẩn
bị, với sự tham gia của 131 quốc gia và đại diện của các cộng đồng nghiên cứu quốc tế, tư
nhân và các tổ chức xã hội.
Nhu cầu bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng tài nguyên thực vật thế giới là cần thiết hơn
bao giờ hết. Tài nguyên di truyền thực vật là cơ sở cho an ninh lương thực trong thế giới đang
đối mặt với rất nhiều thách thức. Hơn một tỷ người đang trong tình trạng đói thường xuyên và
suy dinh dưỡng, trong khi đó, dân số thế giới dự đoán sẽ đạt đến 9,2 tỷ người vào năm 2050.
Để nuôi sống thế giới, sản lượng nông nghiệp cần phải tăng 60%. Tuy nhiên cùng thời điểm
này, cơ sở nguồn tài nguyên bị đe doạ bởi sự ấm lên toàn cầu và biến đổi khí hậu, giảm dần
tài nguyên đất và nước, suy thoái môi trường. Vấn đề tiếp tục mất mát đa dạng di truyền thực
vật cho lương thực và nông nghiệp đang làm giảm đáng kể sự lựa chọn của chúng ta hiện nay
và của các thế hệ mai sau, đang làm mất đi đa dạng di truyền thích ứng với biến đổi khí hậu
và đảm bảo an ninh lương thực, phát triển kinh tế và hòa bình thế giới.
Kế hoạch Hành động Toàn cầu lần thứ hai đưa ra hàng loạt kế hoạch ưu tiên và hành động
vừa để bảo vệ nguồn tài nguyên di truyền đa dạng và giàu có vừa đảm bảo sử dụng bền vững
các giống cải tiến thông qua việc sử dụng các đặc tính có lợi nhằm tạo ra nguồn lương thực
chất lượng cao hơn, số lượng lớn hơn đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người. Chỉ
bằng cách này chúng ta mới giải quyết được an ninh lương thực và đói nghèo. Do đó, hợp tác
quốc tế trở nên cấp thiết hơn nhiều so với các thập niên trước đây. Vì vậy, việc cấp bách hiện
nay là chúng ta phải cùng nhau phát triển cả về bề rộng và chiều sâu các nỗ lực bảo tồn và sử

sản thế giới về tài nguyên di truyền thực vật, hãy thực hiện Kế hoạch Hành động Toàn cầu lần
thứ hai với tinh thần hiện thực, quyết tâm và cam kết.

José Graziano da Silva
Tổng Giám đốc
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp Quốc


TÓM TẮT
1.
Tài nguyên di truyền thực vật phục vụ mục tiêu lương thực và nông nghiệp (PGRFA)
cung cấp cơ sở sinh học cho sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực thế giới. PGRFA là
nguồn vật liệu thô quan trọng nhất cho nông dân (người bảo vệ PGRFA) và cho các nhà chọn
tạo giống. Đa dạng di truyền PGRFA cho phép các giống và cây trồng thích ứng với điều kiện
thay đổi và vượt qua trở ngại do sâu, bệnh và sức ép phi sinh học gây ra. PGRFA là vật liệu
thiết yếu cho sản xuất nông nghiệp bền vững. Không có sự không tương thích giữa bảo tồn và
sử dụng nguồn tài nguyên. Trên thực tế, điều tối quan trọng là đảm bảo cho cả hai hoạt động
này bổ sung hoàn toàn cho nhau. Việc bảo tồn, sử dụng bền vững, chia sẻ công bằng, bình
đẳng lợi ích từ việc sử dụng tài nguyên là mối quan tâm và trách nhiệm quốc tế. Đây chính là
những mục tiêu của Hiệp ước Quốc tế về PGRFA và phù hợp với Công ước Đa dạng Sinh học
(CBD). Trong bối cảnh chủ quyền của các quốc gia về đa dạng tài nguyên và sự phụ thuộc lẫn
nhau về PGRFA, Kế hoạch Hành động Toàn cầu lần thứ hai về Tài nguyên Di truyền thực vật
phục vụ mục tiêu Lương thực và Nông nghiệp là sự thể hiện đúng đắn về trách nhiệm và mối
quan tâm liên tục của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực này.
2.
Trong suốt 15 năm qua, Kế hoạch Hành động Toàn cầu là văn bản chính thức cho các
quốc gia, khu vực và những nỗ lực toàn cầu nhằm bảo tồn và sử dụng bền vững PGRFA và
chia sẻ công bằng những lợi ích thu được từ việc này. Bảo tồn và sử dụng bền vững PGRFA
là một phần của hệ thống FAO toàn cầu, Kế hoạch Hành động Toàn cầu là yếu tố chính được
FAO sử dụng để thực hiện trách nhiệm đối với PGRFA. Kế hoạch Hành động Toàn cầu cũng

Tiếp cận nguồn gen và Chia sẻ Công bằng Lợi ích phát sinh từ việc sử dụng nguồn gen. Thế
giới đã thừa nhận cần có một cam kết mới đối với các hoạt động nghiên cứu và phát triển
nông nghiệp. Kế hoạch Hành động Toàn cầu được cập nhật nhằm đáp ứng và phản ánh quá
trình phát triển đó.
5.
Kế hoạch Hành động Toàn cầu lần thứ hai nhấn mạnh những cơ hội và thách thức mới
thông qua 18 hoạt động ưu tiên. Báo cáo lần thứ hai về hiện trạng PGRFA, hàng loạt hội nghị
tư vấn cũng như ý kiến của các chuyên gia toàn thế giới, đã cung cấp yêu cầu cần thiết để xây
dựng Kế hoạch Hành động Toàn cầu lần thứ hai và hướng tới viễn cảnh và ưu tiên ở mức
quốc tế, khu vực và mức quốc gia. Việc cập nhật và tăng cường vai trò của Kế hoạch Hành
động Toàn cầu lần thứ hai như là một nhân tố hỗ trợ cho Hiệp ước Quốc tế về PGRFA.
6.
Các yếu tố yêu cầu được liệt kê ở trên là cơ sở để sắp xếp số lượng các hoạt động ưu
tiên, giảm số lượng từ 20 trong Kế hoạch Hành động Toàn cầu ban đầu xuống còn 18. Điều
này thực hiện thông qua hợp nhất hoạt động ưu tiên số 5 và 8 (Duy trì ổn định các tập đoàn
bảo quản ngoại vi và mở rộng các hoạt động bảo tồn nội vi) thành hoạt động ưu tiên mới số 6
– Duy trì và mở rộng bảo tồn ngoại vi nguồn gen. Sát nhập hai hoạt động tư tiên số 12 (Tăng
cường phát triển và thương mại hóa cây trồng, giống ít được sử dụng) và số 14 (Phát triển thị
trường mới cho các giống địa phương và sản phảm có tính "đa dạng cao") thành hoạt động ưu
tiên mới số 11 – Xúc tiến phát triển và thương mại hóa tất cả các giống, chủ yếu là giống của
nông dân/giống bản địa và cây trồng ít được sử dụng.
7.
Ngoài ra, trọng tâm của một số hoạt động ưu tiên khác được điều chỉnh để phù hợp
với các hoạt động ưu tiên mới. Kế hoạch Hành động Toàn cầu lần thứ hai nhấn mạnh tầm
quan trọng và đưa ra tầm nhìn xa hơn đối với công tác chọn tạo giống thực vật, điều này được
thể hiện trong hoạt động ưu tiên số 9 – Hỗ trợ chọn tạo giống thực vật, các nỗ lực tăng cường
tiềm năng di truyền và mở rộng nền di truyền. Bên cạnh đó, một nỗ lực khác cũng được đề
cập dựa trên tham vấn khu vực để đơn giản hóa và làm rõ các văn kiện.



90–141

5. Hỗ trợ thu thập có mục tiêu tài nguyên di truyền thực vật phục vụ mục tiêu
lương thực và nông nghiệp
6. Duy trì và mở rộng bảo tồn chuyển chỗ nguồn gen
7. Phục hồi và nhân giống nguồn gen bảo tồn chuyển chỗ
Sử dụng bền vững
8. Mở rộng mô tả, đánh giá và phát triển các tập đoàn nhỏ đặc thù để tạo thuận
lợi cho sử dụng
9. Hỗ trợ chọn tạo giống thực vật và các nỗ lực tăng cường tiềm năng di truyền
và mở rộng nền di truyền
10. Thúc đẩy đa dạng hóa sản phẩm cây trồng và mở rộng đa dạng cây trồng cho
nền nông nghiệp bền vững

142–212


11. Xúc tiến phát triển và thương mại hóa tất cả các giống, chủ yếu là giống của
nông dân/giống địa phương và cây trồng ít được sử dụng.
12. Hỗ trợ sản xuất và phân phối hạt giống
Xây dựng năng lực thể chế và nhân lực bền vững

213–312

13. Xây dựng và tăng cường các chương trình quốc gia
14. Thúc đẩy và tăng cường mạng lưới tài nguyên di truyền thực vật phục vụ mục
tiêu lương thực và nông nghiệp
15. Xây dựng và tăng cường hệ thống thông tin toàn diện về tài nguyên di truyền
thực vật phục vụ mục tiêu lương thực và nông nghiệp
16. Phát triển và tăng cường hệ thống giám sát, bảo vệ đa dạng di truyền và giảm

năng suất và sản xuất nông nghiệp, không chỉ cung cấp các gen cho cải tiến giống cây
trồng mà còn đóng góp một cách hiệu quả trong chức năng hệ sinh thái nông nghiệp và phát
triển sản phẩm sinh học. Ở nhiều khu vực nông thôn trên thế giới, PGRFA là một thành phần
thiết yếu của chiến lược sinh kế của cộng đồng bản xứ và địa phương.
Lịch sử Kế hoạch Hành động Toàn cầu
3. Kế hoạch Hành động Toàn cầu (GPA) về Bảo tồn và Sử dụng Bền vững PGRFA được đại
diện của 150 quốc gia chính thức thông qua tại Hội nghị Kỹ thuật Quốc tế lần thứ tư về Tài
nguyên Di truyền Thực vật vào năm 1996 ở Leipzig, Đức. Hội nghị cũng thông qua Tuyên
bố Leipzig, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của PGRFA đối với an ninh lương thực thế
giới và các nước cam kết thực hiện GPA. Hơn 150 quốc gia, các khu vực công cộng
và tư nhân đã tham gia tích cực trong việc chuẩn bị GPA. FAO cam kết tạo điều kiện thuận
lợi và giám sát việc thực hiện GPA dưới sự hướng dẫn của Ủy ban Liên chính phủ về Tài
nguyên Di truyền cho Lương thực và Nông nghiệp, Ủy ban này là một phần của FAO trực
thuộc Hệ thống Toàn cầu về Bảo tồn và Sử dụng Tài nguyên Di truyền Thực vật.
4. Tại Kỳ họp thường kỳ lần thứ tám, năm 1999, Ủy ban tái khẳng định rằng FAO sẽ định
kỳ đánh giá hiện trạng PGRFA thế giới để tạo điều kiện phân tích các tồn tại và nhu cầu thay
đổi nhằm góp phần vào quá trình cập nhật GPA. Tại Kỳ họp thường kỳ lần thứ 10 năm 2004,
Ủy ban đã đồng ý áp dụng phương pháp mới để giám sát thực hiện GPA dựa trên bộ chỉ thị
quốc tế đã thống nhất, từ đó dẫn đến thành lập Cơ chế Chia sẻ thông tin Quốc gia (NISMs).
Tại Kỳ họp Thường kỳ thứ mười hai năm 2009, Ủy ban đã thông qua Báo cáo lần thứ hai về
hiện trạng PGRFA thế giới (Báo cáo lần thứ hai), báo cáo này xem như một đánh giá có thẩm
quyền về lĩnh vực và yêu cầu FAO cập nhật GPA dựa trên Báo cáo lần thứ hai, đặc biệt là dựa


trên những tồn tại và nhu cầu đã xác định, dựa trên đóng góp của các chính phủ cũng như kết
quả từ các hội nghị khu vực và tham vấn. Ủy ban quyết định GPA cần được xem xét tại Kỳ
họp Thường kỳ lần thứ mười ba.
5. Năm 2001, Hội nghị FAO đã thông qua Hiệp ước Quốc tế về PGRFA (Hiệp ước Quốc
tế), Điều 14 của Hiệp ước công nhận GPA là một hợp phần hỗ trợ. Năm 2006, Ban điều hành
về Hiệp ước Quốc tế quyết định rằng các hoạt động ưu tiên của GPA cũng chính là các ưu

giữ một vai trò quan trọng trong việc đàm phán của Hiệp ước Quốc tế. Các tập đoàn nguồn
gen tiếp tục tạo nên xương sống của Hệ thống toàn cầu thuộc FAO về bảo tồn và sử dụng bền
vững PGRFA. Hiện nay, Kho hạt giống toàn cầu Svalbard (Svalbard Global Seed Vault) cung
cấp mức độ an toàn bổ sung cho các tập đoàn nguồn gen bảo tồn ex situ hiện có. Ngoài ra,
việc thiết lập NISMs tại hơn 65 quốc gia tạo điều kiện cho việc tiếp cận thông tin liên quan,
giám sát thực hiện GPA, thúc đẩy quá trình hoạch định chính sách quốc gia cũng như hợp tác


giữa các bên tham gia. Chương trình hợp tác toàn cầu về xây dựng năng lực cho chọn tạo
giống cây trồng thể hiện các nỗ lực nỗ lực thu hẹp khoảng cách trong các chương trình cấp
quốc gia thông qua liên kết giữa bảo tồn PGRFA và sử dụng trong cải tiến giống cây trồng.
Ngoài ra, Cơ chế Tạo thuận lợi Toàn cầu - GPA xác định và phổ biến thông tin về cơ hội tài
trợ cho tất cả các hoạt động ưu tiên.
Cơ sở hình thành Kế hoạch Hành động Toàn cầu lần thứ hai
8. Kể từ khi GPA được xây dựng và thông qua, nhiều thay đổi đáng kể đã diễn ra liên quan
đến bảo tồn và sử dụng PGRFA dẫn đến những thách thức và cơ hội mới. Quá trình phát triển
đã được nhấn mạnh trong Báo cáo lần thứ hai và được làm rõ trong các cuộc thảo luận tại hội
nghị khu vực và accs hội nghị tư vấn, quá trình phát triển này đã cung cấp minh chứng và cơ
sở cho việc cập nhật GPA.
9. Các dự đoán về phát triển và xu hướng trong nông nghiệp dưới đây sẽ có tác động đáng kể
trong việc bảo tồn và sử dụng PGRFA:
a) Phần lớn lương thực trong hầu hết các nước phát triển do hệ thống sản xuất công
nghiệp cung cấp và được thúc đẩy do nhu cầu tiêu dùng mạnh mẽ đối với lương thực giá rẻ,
chất lượng đồng nhất và có thể đoán trước. Giống cây trồng được tạo ra để đáp ứng yêu cầu
của các hệ thống và tiêu chuẩn thị trường nghiêm ngặt, giống cây trồng thường được sản xuất
ở dưới dạng hệ thống sản xuất độc canh và chuyên canh, tuy nhiên cũng chú trọng đến vấn đề
kháng sinh học, chất lượng dinh dưỡng và ổn định năng suất. Quá trình này đã làm tăng xu
hướng mất mát đa dạng di truyền, đa dạng loài trên đồng ruộng của nông dân.
b) Tuy nhiên, trong thế giới các nước đang phát triển vẫn có một tỷ lệ đáng kể lương
thực được sản xuất mà không sử dụng hóa chất và lượng lương thực dư thừa từ nền nông

dạng loài, quần thể và giống, bao gồm cả những loài đã thích nghi với điều kiện khắc
nghiệt và những loài từ các khu vực dự kiến sẽ bị ảnh hưởng lớn do biến đổi khí hậu;



Nghiên cứu tăng cường và sẵn có các thông tin về mô tả các vật liệu bảo quản ex situ,
các vật liệu này sẽ hữu ích với điều kiện khí hậu mới;



Hỗ trợ việc tiếp cận và di chuyển PGRFA cần được tăng cường để đáp ứng sự phụ
thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trước những điều kiện môi trường mới;



Hỗ trợ hơn nữa công tác xây dựng năng lực về chọn tạo giống thực vật, quản lý hệ
thống hạt giống và tạo điều kiện cho sử dụng PGRFA hiệu quả và bền vững;



Sự tham gia có mục tiêu của nông dân và cộng đồng nông nghiệp trong các hoạt động
cải tiến cây trồng ở cấp độ quốc qia và địa phương, bao gồm hỗ trợ chọn tạo giống và
nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng.

11. Trong suốt 15 năm qua, lượng lớn các thông tin về mức độ, bản chất của xói mòn và tổn
thất di truyền của PGRFA đã được công bố. Xói mòn di truyền ghi nhận đã xảy ra ở rất nhiều
khu vực trên thế giới và sự tổn thất di truyền của cây trồng tiếp tục tăng nhanh. Nguyên nhân
chủ yếu của xói mòn là do việc thay thế các giống của nông dân/giống địa phương, khai
hoang đất, khai thác quá mức, giảm nguồn cung cấp nước, áp lực dân số, thay đổi thói quen
ăn uống, suy thoái môi trường, thay đổi hệ thống nông nghiệp, chăn thả quá mức, pháp luật và

khai thác đa dạng di truyền.

c.

Trong thập niên qua, không có nhiều phát triển lớn liên quan đến các phương pháp và
thực hành bảo tồn ex situ, hệ thống thông tin mới và công cụ sinh học phân tử có khả
năng giúp việc bảo tồn và sử dụng PGRFA hiệu quả và kinh tế hơn. Ngoài ra, rất nhiều
hoạt động được thực hiện trong lĩnh vực bảo tồn in situ áp dụng cho cả CWR, cây
hoang dại làm lương thực và bảo tồn nông trại. Từ kinh nghiệm và kiến thức thu được
dẫn tới sự công nhận tầm quan trọng của phương pháp đa ngành, phối hợp mà trong
đó nông dân, cộng đồng bản xứ, địa phương đóng vai trò hàng đầu, trong đó sinh kế và
triển vọng về thịnh vượng của người được phản ánh đầy đủ.

13. Việc phát triển chính sách liên quan đến bảo tồn và sử dụng GRFA là một bước tiến đáng
kể. Điển hình như việc thông qua Chương trình Công tác Đa dạng Sinh học Nông nghiệp của
Hội nghị các Bên tham gia Công ước Đa dạng sinh học (CBD) năm 2000, việc thông qua các
Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ năm 2000, xây dựng Chiến lược Toàn cầu về Bảo
tồn Thực vật năm 2002, thành lập Quỹ tín thác Đa dạng Cây trồng Toàn cầu năm 2004 và
việc thông qua Chương trình Công tác Nhiều năm của Ủy ban (MYPOW), trong đó bao bao
gồm cả các nội dung quan trọng về PGRFA năm 2007.
14. Không còn nghi ngờ gì nữa, sự phát triển quan trọng nhất là Hiệp ước Quốc tế đã có hiệu
lực trong năm 2004. Điều 14 của Hiệp ước công nhận tầm quan trọng của GPA hiện có và
cam kết Các bên tham gia Ký kết Hiệp ước thúc đẩy thực hiện có hiệu quả GPA, kể cả thông
qua hành động quốc gia, hợp tác quốc tế để cung cấp khuôn khổ chặt chẽ, cho công tác
chuyển giao công nghệ, xây dựng năng lực và trao đổi thông tin, có tính đến các quy định chia
sẻ lợi ích trong Hệ thống Đa phương. Các bên Ký kết cũng công nhận khả năng thực hiện các
hoạt động ưu tiên, kế hoạch và chương trình PGRFA của các quốc gia – đặc biệt là các nước
đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi, kể cả việc thực hiện GPA, sẽ phụ
thuộc chủ yếu vào việc thực hiện hiệu quả Điều 6 (sử dụng bền vững PGRFA) và Điều
13 (chia sẻ lợi ích trong Hệ thống Đa phương) và Chiến lược Tài trợ như đã quy định tại Điều

a)

Tăng cường thực hiện Hiệp ước Quốc tế;

b) Đảm bảo việc bảo tồn PGRFA là cơ sở cho an ninh lương thực, nông nghiệp bền vững và
xóa đói giảm nghèo bằng cách cung cấp một nền tảng cơ bản cho việc sử dụng hiện tại và
tương lai;
c)

Xúc tiến sử dụng bền vững PGRFA để thúc đẩy sự phát triển kinh tế và giảm đói nghèo,
đặc biệt là ở các nước đang phát triển, cung cấp nhiều lựa chọn cho việc thích ứng và
giảm nhẹ biến đổi khí hậu, nhấn mạnh thay đổi toàn cầu khác và đáp ứng nhu cầu về
lương thực, thức ăn chăn nuôi và các nhu cầu khác;

d)

Xúc tiến việc trao đổi PGRFA, chia sẻ công bằng và bình đẳng các lợi ích phát sinh từ
việc sử dụng của tài nguyên;

e)

Hỗ trợ các nước, các khu vực, khi thích hợp, phù hợp với luật pháp quốc gia, tiến hành
các biện pháp bảo vệ và thúc đẩy Quyền của người nông dân theo quy định tại Điều 9 của
Hiệp ước Quốc tế;

f)

Giúp đỡ các quốc gia, các vùng, cơ quan điều hành Hiệp ước Quốc tế và các tổ chức khác
chịu trách nhiệm bảo tồn và sử dụng PGRFA để xác định các ưu tiên cho hành động;


b) Liên kết giữa bảo tồn với việc sử dụng và xác định, khắc phục trở ngại giúp tăng cường
việc sử dụng PGRFA đang bảo tồn là cần thiết để đạt được lợi ích tối đa từ các nỗ
lực bảo tồn. Quản lý thông tin hiệu quả, bao gồm chia sẻ rộng rãi thông tin có liên quan
với người sử dụng bằng công nghệ thông tin tiên tiến, hiện đại là điều kiện tiên quyết
quan trọng để đạt được mục tiêu. Mục tiêu này bao gồm cả tăng cường các thông tin về
phân tử và hệ gen, do đó cần phải liên kết, phân tích, cùng với dữ liệu mô tả, đánh giá các
tính trạng hình thái, nông học được quản lý trong cơ sở dữ liệu ngân hàng gen.
c)

Tăng cường năng lực ở tất cả các cấp là chiến lược then chốt để hỗ trợ các hoạt động cụ
thể của GPA. Kế hoạch Hành động Toàn cầu tìm cách thúc đẩy việc sử dụng thực tế và
hiệu quả, phát triển các cơ quan, hợp tác nguồn nhân lực, cơ chế tài chính giữa các bên
bằng cách nâng cao tính linh hoạt của nguồn nhân lực và tài chính như là một đóng góp
cho việc thành lập hệ thống toàn cầu thực sự về PGRFA. Hơn nữa, cần phải tăng cường
mối liên kết giữa đổi mới khoa học, công nghệ và ứng dụng của nó trong việc bảo tồn và
sử dụng PGRFA.

d) Tăng cường nỗ lực và quan hệ giữa các nhà chọn giống khu vực công cộng và tư nhân
trong việc bảo tồn và sử dụng PGRFA là nhiệm vụ chủ yếu. Ngoài ra, việc tạo và chọn
giống cũng như nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng và nông dân nói chung cần
được tăng cường và công nhận rộng rãi hơn nữa như là cách thích hợp để đạt được mục
tiêu bảo tồn và sử dụng bền vững, lâu dài PGRFA.
e)

Bảo tồn in situ và phát triển PGRFA dựa trên hai hình thức: trên đồng ruộng và trong tự
nhiên. Nông dân, cộng đồng bản xứ và địa phương đóng một vai trò quan trọng trong cả
hai phương thức bảo tồn. Nâng cao năng lực của nông dân thông qua mối liên kết với cơ
quan khuyến nông, khu vực công cộng và tư nhân, các tổ chức phi chính phủ và hội nông
dân cũng như việc cung cấp ưu đãi cho bảo tồn in situ sẽ giúp thúc đẩy an ninh lương
thực, khả năng thích ứng và khả năng phục hồi nhanh, đặc biệt là trong cộng đồng dân cư

a)

Phần Bối cảnh cung cấp cơ sở về các hoạt động ưu tiên và tóm tắt thành tựu đạt được từ
năm 1996, các phần này chủ yếu là dựa vào kết quả báo cáo trong Báo cáo Lần thứ hai.

b) Phần mục tiên xác định mục tiêu cuối cùng và trung gian được thực hiện theo các hoạt
động ưu tiên. Sự kết hợp chính xác của các mục tiêu có thể hỗ trợ cộng đồng quốc tế
trong việc đánh giá mức độ thực hiện các hoạt động ưu tiên qua thời gian.
c)

Phần Chính sách/chiến lược đưa ra chính sách quốc gia, quốc tế và phương pháp tiếp cận
chiến lược để thực hiện các mục tiêu của hoạt động ưu tiên. Trong một vài trường hợp,
khuyến cáo về chính sách mang tính quốc tế mới được đưa ra; trong một số trường hợp
khác, có các đề xuất thay đổi về phương pháp, các ưu tiên và tầm nhìn.

d) Phần năng lực chỉ ra khả năng về nhân lực và thể chế nên được phát triển hoặc được cung
cấp trong quá trình thực hiện các hoạt động ưu tiên.
e)

Phần nghiên cứu/công nghệ, bao gồm phát triển và chuyển giao công nghệ, xác định các
lĩnh vực nghiên cứu khoa học, phương pháp, công nghệ, hoặc hoạt động liên quan đến
việc thực hiện các hoạt động ưu tiên.

f)

Phần điều phối/quản trị nhấn mạnh cách các vấn đề có thể tiếp cận như hoạt động ưu tiên
được lên kế hoạch và được thực hiện như thế nào. Trọng tâm của phần này chủ yếu giới


hạn ở mức quốc gia để tránh tình trạng lặp lại, cần tiếp tục tăng cường hợp tác với các tổ

trường, đặc biệt ở cấp quốc gia.
25. Mục tiêu: Tạo điều kiện phát triển, thực hiện và giám sát những chiến lược bảo tồn bổ
sung và các chính sách quốc gia liên quan tới bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên di
truyền thực vật. Đẩy mạnh liên kết giữa Bộ nông nghiệp và Bộ môi trường để thúc đẩy việc
giám sát hiện trạng và xu hướng của tài nguyên di truyền thực vật và từ đó đảm bảo việc bảo
tồn hợp lý.
26. Phát triển và ứng dụng phương pháp vào việc điều tra và kiểm kê tài nguyên di truyền
thực vật bảo tồn in situ và bảo tồn ex situ, bao gồm GIS, phương pháp dựa trên vệ tinh (như
GPS và cảm ứng từ xa) và chỉ thị phân tử. Xác định, định vị, kiểm kê và đánh giá mối đe dọa
tới tài nguyên di truyền thực vật, đặc biệt từ việc sử dụng đất và biến đổi khí hậu.
27. Chính sách/Chiến lược: Khả năng định danh loài là nhân tố chính cho hoạt động ưu tiên
này. Việc điều tra và kiểm kê tài nguyên di truyền thực vật, khi cần thiết, nên được xem là
bước đầu tiên trong quá trình bảo tồn và giảm thiểu tốc độ mất mát đa dạng sinh học. Tuy
nhiên, không có năng lực bảo tồn và/hoặc sử dụng đa dạng sinh học, các hoạt động này có thể
khó được sử dụng. Do vậy, điều tra và kiểm kê nên được liên kết với mục tiêu cụ thể và với
kế hoạch bảo tồn in situ, thu thập, bảo tồn ex situ và sử dụng. Các phương pháp và định nghĩa
tiêu chuẩn cần được thúc đẩy để đánh giá trực tiếp tổn thất di truyền cũng như xói mòn di
truyền. Đồng thời, cần cấp thiết phát triển những chỉ thị cải tiến, bao gồm chỉ thị đại diện cho
đa dạng di truyền, xói mòn di truyền và khả năng tổn thất di truyền. Các chỉ thị này có thể
được sử dụng để thiết lập ranh giới cơ bản cấp quốc gia, khu vực và toàn cầu. Những chỉ thị
này nên phải khách quan, cân bằng trong hệ thống sử dụng ở cấp quốc gia. Những chỉ thị này
không nên thiết lập các biện pháp trừng phạt và cũng không ảnh hưởng tới chủ quyền quốc


gia đối với tài nguyên di truyền, không áp đặt các hệ thống thông tin đặc thù. Thỏa thuận
chung cần được tiếp tục theo đuổi về thiết kế và sử dụng các chỉ thị như vậy.
28. Kiến thức địa phương và bản địa nên được công nhận là thành phần quan trọng của điều
tra kiểm kê và nên xem xét cẩn thận và được tư liệu hóa nếu thích hợp với sự đồng ý trước
của cộng đồng bản địa và địa phương.
29. Năng lực: Các quốc gia nên cung cấp và có thể được hưởng lợi từ việc hỗ trợ tài chính, kỹ

nên cộng tác trong các hoạt động điều tra kiểm kê để xây dựng năng lực.


2. Hỗ trợ quản lý bảo tồn nông trại và cải tiến tài nguyên di truyền thực vật phục vụ
mục tiêu lương thực và nông nghiệp
35. Bối cảnh: Chọn tạo giống cây trồng giúp nâng cao năng suất cây trồng, cải thiện tính
kháng với sâu và bệnh, tăng cường đa dạng, chất lượng nông nghiệp và nông sản, đặc biệt
trong môi trường thuận lợi. Người nông dân lựa chọn trồng những giống cải tiến do nhiều
nguyên nhân như điều kiện thị trường, an ninh lương thực gia đình và sự ổn định môi trường.
Mặc dù những lựa chọn này thường dẫn tới xói mòn di truyền một cách đáng kể, nhưng
những bằng chứng trong hai thập niên gần đây cho thấy vẫn có nhiều nông dân ở các nước
đang phát triển, thậm chí ở cả các nước phát triển, tiếp tục duy trì đa dạng di truyền cây trồng
quan trọng trên đồng ruộng của họ. Sự đa dạng này hình thành nên yếu tố quan trọng trong
chiến lược sinh kế của người nông dân vì khả năng thích nghi với môi trường khó trồng trọt
hoặc không đồng nhất. Đa dạng cây trồng cũng được duy trì để đáp ứng với những thay đổi về
nhu cầu thị trường, lao động sẵn có và các yếu tố kinh tế-xã hội khác, cũng như những lý do
về văn hóa và tôn giáo.
36. Một loạt sáng kiến và thực hành đã thành hiện thực giúp cộng đồng nông nghiệp tiếp tục
thu lợi từ việc duy trì và sử dụng đa dạng di truyền cây trồng địa phương trong các hệ thống
sản xuất của họ. Xây dựng năng lực và năng lực lãnh đạo trong các cộng đồng và tổ chức địa
phương là tiền đề cho việc thực hiện những sáng kiến dựa vào cộng đồng. Thúc đẩy và hỗ trợ
quản lý trên đồng ruộng về tài nguyên di truyền đang trở thành hợp phần quan trọng trong
chiến lược bảo tồn cây trồng. Dó đó quản lý đồng ruộng tài nguyên di truyền thực vật là một
trong ba ưu tiên hàng đầu của Quỹ Chia sẻ Lợi ích của Hiệp ước Quốc tế.
37. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề quan trọng về phương pháp và
kỹ thuật. Cụ thể vẫn còn nhiều cơ hội để cải thiện việc điều phối quản lý đồng ruộng với việc
sử dụng và bảo tồn ex situ. Để nhận biết được toàn bộ tiềm năng của việc cải thiện bảo tồn
nông trại, những hoạt động thực tiễn này cần hợp nhất hoàn toàn với các chính sách phát triển
nông thôn.
38. Mối lo ngại về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới nông nghiệp đang tăng nhanh trong

thống nhất công việc trong các chính sách và hoạt động phát triển nông thôn. Để mở rộng vai
trò của các ngân hàng gen quốc gia, khu vực, quốc tế và mạng lưới trong việc hỗ trợ, cung cấp
vật liệu cho các chương trình bảo tồn nông trại cải thiện theo hướng tổng hợp hơn. Để xây
dựng các chương trình bảo tồn nông trại dựa trên hệ thống kiến thức địa phương và truyền
thống, dựa trên tổ chức và quản lý để đảm bảo có sự tham gia của người nông dân trong việc
lập kế hoạch, quản lý và đánh giá. Để tập trung chú ý của khoa học và công chúng vào vai trò
đa dạng mà trong đó giới tính và độ tuổi đóng vai trò trong sản xuất và quản lý tài nguyên tại
những hộ nông dân nghèo.
41. Chính sách/Chiến lược: Mặc dù những hoạt động quản lý bảo tồn nông trại hiện đang
dịch chuyển vượt ra ngoài phạm vi nghiên cứu quy mô nhỏ thông qua các dự án về phương
pháp luận, những hoạt động quản lý này vẫn cần được hợp nhất vào chiến lược phát triển và
bảo tồn rộng lớn hơn/hoặc những kế hoạch hành động. Hoạt động bảo tồn nông trại bổ sung
cho sự phát triển chính thức giống cây trồng và củng cố các hệ thống cung cấp hạt giống. Các
cơ quan nghiên cứu cần kết hợp với các cộng đồng nông dân thật linh động. Chiến lược cụ thể
cần được hình thành để bảo tồn in situ tài nguyên di truyền thực vật và để quản lý đa dạng cây
trồng bảo tồn nông trại và ở những khu vực bảo tồn. Chiến lược bảo tồn CWR ở những trung
tâm khởi nguyên, trung tâm đa dạng, các điểm nóng đa dạng sinh học cần được quan tâm chú
ý. Thực hành tốt phải được truyền bá vào bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên di truyền
thực vật để hỗ trợ, duy trì các giá trị xã hội, kinh tế và văn hóa của các cộng đồng địa phương,
bản địa và cải thiện chất lượng cuộc sống. Điều này có thể đạt được bằng cách kết hợp các
cộng đồng tham gia vào tất cả các khía cạnh quản lý và cải tiến bảo tồn nông trại tài nguyên di
truyền thực vật.
42. Chính phủ nên xem xét cách sản xuất, khuyến khích kinh tế, chính sách khác, dịch vụ
khuyến nông và nghiên cứu nông nghiệp để tạo điều kiện và khuyến khích việc quản lý bảo
tồn nông trại, cải thiện tài nguyên di truyền thực vật. Giá trị của bảo tồn ngày càng tăng cần
được chứng minh dưới dạng cung cấp liên tục các dịch vụ hệ sinh thái. Tầm quan trọng của
tài nguyên di truyền thực vật là một trong những dịch vụ chỉ mới bắt đầu được nhận thức đầy
đủ, nỗ lực để tư liệu hóa giá trị của CWR và đa dạng giống cây trồng cần được tiếp tục và
tăng cường.


tồn nông trại, cụ thể như kỹ thuật chọn lọc và tạo giống thích hợp nhằm bổ sung và cải thiện
những giống đã được người nông dân sử dụng.
49. Trọng tâm của các chương trình đào tạo là giúp người nông dân thu được kiến thức và
công nghệ mới, khám phá thị trường mới cho các sản phẩm của họ cũng như giúp nhà nghiên
cứu trở thành người có khả năng, người hỗ trợ tốt hơn cho nông dân. Đào tạo nên nhằm vào 4
nhóm khác nhau: các nhà khoa học (gồm các nhà chọn tạo giống, nhà nghiên cứu và nhà kinh
tế nông nghiệp), nhân viên hỗ trợ kỹ thuật, các cơ quan khuyến nông (gồm các tổ chức phi
chính phủ) và người nông dân. Hỗ trợ công việc ở mức độ cao nên bao gồm đào tạo tương
ứng trong lĩnh vực khoa học xã hội và sinh học. Đào tạo các cơ quan khuyến nông nhằm tăng
kỹ năng của họ trong lĩnh vực thực vật học dân tộc, chọn lọc và tạo giống với sự tham gia của
cộng đồng, duy trì hạt giống và sử dụng các công cụ ICT.


50. Đào tạo người nông dân nên được tiến hành trong bối cảnh của toàn bộ chuỗi sản xuất và
tập trung chủ yếu vào xác định các tính trạng cây, chọn lọc/tạo giống, sử dụng và duy trì các
cây trồng địa phương, thúc đẩy bán sản phẩm. Phát triển các kỹ năng của người nông dân về
chọn lọc những cây trồng ở giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng và không chỉ sau thu hoạch, là
quan trọng.
51. Các chương trình đào tạo cần được thiết kế trong khuôn khổ hợp tác chặt chẽ với Hệ
thống Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc gia (NARS), nông dân, hội nông dân và các bên tham
gia khác, các chương trình này cũng nên dựa trên nhu cầu do những đối tác này đưa ra.
Chương trình đó không nên bỏ qua vai trò trung tâm của người phụ nữ trong việc ảnh hưởng
và định hướng tiến hóa cây trồng. Các chương trình đào tạo nên xem xét mục đích sử dụng
khác nhau về nguồn tài nguyên sinh vật giữa phụ nữ và nam giới, bao gồm mối quan tâm của
phụ nữ về sử dụng đa mục đích và các yêu cầu chế biến đối với cây trồng.
52. Nghiên cứu/Công nghệ: Tám dạng nghiên cứu khoa học nghiêm ngặt và đa ngành cần:
a) Nghiên cứu thực vật học dân tộc, kinh tế-xã hội/văn hóa xã hội để hiểu và phân tích
kiến thức của người nông dân, chọn lọc/tạo giống, sử dụng và quản lý tài nguyên di truyền
thực vật, phù hợp với sự sự chấp thuận của người nông dân liên quan và với những yêu
cầu thích hợp nhằm bảo vệ kiến thức và công nghệ của họ;

55. Điều phối/Quản trị: Các nỗ lực điều phối trong lĩnh vực này nhằm khuyến khích các
sáng kiến ở cấp cộng đồng để hỗ trợ việc quản lý và cải thiện tài nguyên di truyền thực vật
bảo tồn nông trại. Cần ưu tiên kinh phí và các dịch vụ hỗ trợ cho những dự án cơ sở và nhỏ.
Quyền ưu tiên nên dành cho các dự án kỹ thuật xúc tiến đa dạng cây trồng và hợp tác giữa
cộng đồng nông dân với các cơ quan nghiên cứu. Thời hạn của những dự án này nên đủ dài
trong giai đoạn 10 năm hoặc hơn nữa để đảm bảo kết quả có ý nghĩa.
56. Mối liên kết giữa các tổ chức đầu tiên quan tâm đến bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật
với các tổ chức quan tâm đến sử dụng tài nguyên di truyền thực vật thường yếu kém hoặc
không có ở nhiều quốc gia, và nên được tăng cường những mối liên hệ này.
3. Hỗ trợ nông dân trong các tình huống thảm họa và khôi phục lại hệ thống cây trồng
57. Bối cảnh: Thảm họa tự nhiên và xung đột dân sự thường là trở ngại cho việc phục hồi
nhanh hệ thống nông nghiệp; điều này tác động tới nông dân sản xuất nhỏ, ảnh hưởng đến sự
tồn tại của người dân sống ở các nước đang phát triển. An ninh hạt giống là thành phần chính
của khả năng phục hồi nhanh. Trong khi hỗ trợ ngay hạt giống giúp người nông dân bị tác
động bởi thảm họa khốc liệt, phương pháp tiếp cận hệ thống để tái thiết lập an ninh hạt giống
và hệ thống cây trồng là cần thiết nhất trong trường hợp các áp lực xảy ra thường xuyên. Về
một khía cạnh nào đó, sự công nhận ngày càng tăng về những mối đe dọa do biến đổi khí hậu
tới an ninh lương thực, hạt giống và vai trò tiềm năng mà tài nguyên di truyền thực vật có thể
giúp nông nghiệp duy trì năng suất và mạnh mẽ dưới những điều kiện thay đổi. Khi các giống
cây trồng bị mất đi trên đồng ruộng của người nông dân, họ có thể đưa vào trồng lại từ những
vùng lân cận và với một số hỗ trợ thông qua các thị trường địa phương và trao đổi giữa những
người nông dân. Tuy nhiên, người nông dân cũng có thể trồng lại cây trồng đã mất từ nguồn
ngân hàng gen, mạng lưới quốc gia, khu vực và quốc tế. Tuy nhiên các ngân hàng gen đôi khi
cũng bị tổn thương bởi thảm họa tự nhiên hay do con người gây ra, trong trường hợp này thì
khả năng hỗ trợ phục hồi hệ thống cây trồng sẽ phụ thuộc vào năng lực của họ khi tiếp cận với
vật liệu được lưu giữ trong các ngân hàng gen khác. Điều 12 của Hiệp ước Quốc tế đưa ra nền
tảng đúng đắn cho cải thiện và tạo điều kiện cho việc tiếp cận này. Hệ thống thông tin quốc
gia, khu vực và toàn cầu cần thiết hỗ trợ các hoạt động khôi phục cây trồng.
58. Hạt nhập khẩu như lương thực viện trợ thường được sử dụng làm hạt giống và thường
thích nghi kém với điều kiện địa phương. Điều này có thể dẫn tới suy giảm năng suất sau


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status