TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
ĐỀ TÀI
HỆ THỐNG CÁC VĂN BẢN QUY ĐỊNH VỀ ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ VÀ
THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CỦA NGƯỜI CÁN BỘ CÔNG CHỨC
NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ Ở NƯỚC TA
BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: Nghi thức nhà nước
Giảng viên giảng dậy: ThS : Đinh Thị Hải Yến
Sinh viên thực hiện : Lữ Tuấn Vũ
Lớp: Đại học Quản trị văn phòng 13A
Khóa : 2013- 2017
Hà Nội, tháng 05 năm 2016
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
ĐỀ TÀI
HỆ THỐNG CÁC VĂN BẢN QUY ĐỊNH VỀ ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ VÀ
THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CỦA NGƯỜI CÁN BỘ CÔNG CHỨC
NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ Ở NƯỚC TA
BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: Nghi thức nhà nước
Giảng viên giảng dậy: ThS : Đinh Thị Hải Yến
Sinh viên thực hiện : Lữ Tuấn Vũ
Lớp: Đại học Quản trị văn phòng 13A
CBCCVC
Đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chứ, viên
chức
UBND
Uỷ ban nhân dân
3
4
5
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đối với người cán bộ, công chức, đạo đức là gốc, là nền tảng để quyết định
mọi vấn đề có liên quan đến chất lượng thực thi công vụ, sinh thời Bác Hồ có dạy
“Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì
cũng khó”.
Đạo đức công vụ của cán bộ, công chức được hình thành và phát triển phải
là một quá trình lâu dài, liên tục và thống nhất, bao gồm các ảnh hưởng khách quan
và tác động chủ quan của toàn xã hội. Trong những tác động xã hội ảnh hưởng đến
việc rèn luyện, giáo dục đạo đức công vụ có những tác động của nhà trường, của
các đoàn thể, của gia đình, của các đồng nghiệp, các nhóm bạn, của các cơ quan
văn hoá giáo dục ngoài nhà trường, của các cơ quan thông tin đại chúng trong đó
đạo đức công cụ ở nước ta”” để làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Đối tượng nghiên cứu của đề tài.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài : đạo đức công vụ của cán bộ, công chức
các cơ quan nhà nước và các đơn vị hành chính sự nghiệp. Đề tài tập chung
nghiên cứu vấn đề đạo đức công vụ, thực trạng của đạo đức công vụ và đưa ra các
giải pháp khắc phục nhằm nâng cao vấn đề đạo đức công vụ trong văn hóa công
sở của nước ta hiện nay.
3. Phạm vi nghiên cứu.
Chủ đề đạo đức công vụ là một chủ đề lớn, bao gồm đạ đức công vụ của
cán bộ, công chức của cá nhân khi được nhà nước trao quyền thực thi công vụ. vì
7
vậy đề tài tập chung nghiên cứu về đạo đức công vụ của cán bộ công chức, viên
chức trong các cơ quan hành chính.
4. Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu lý luận về đạo đức công vụ, đạo đức công vụ và của cán bộ,
công chức, trong thực thi đạo đức công vụ. và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động thực thi công vụ của cán bộ công chức, là cơ sở để đề ra nhiệm
vụ xây dựng hệ thống quy chuẩn đạo đức cong vụ góp phần nâng cao chất lượng
cán bộ, công chức trong các cơ quan ở trung ương và địa phương .
5. Mục tiêu nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứ làm rõ những vấn đề về lý luận về đạo đức công vụ
trong nhà nước pháp quyền; đánh gía thực trạng đạo đức công vụ của cán bộ, công
chức, viên chức, ở việt nam hiện nay; đề xuất một số phương hướng, giải pháp
nhằm nâng cao đạo đức công vụ ở nước ta hiện nay.
6.Lịch sử nghiên cứu.
- Công vụ, công chức nhà nước của tác giả Phạm Hồng Thái, ấn hành năm
2004.
Hệ thống hóa và làm sâu sắc hơn cơ sở lý luận về giáo dục đạo đức công vụ
cho cán bộ công chức. Hệ thống được chuẩn mực đạo đức công vụ cần giáo dục
cho cán bộ công chức.
Là cơ sở để định hướng đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ để đáp ứng
nhu cầu xã hội , nâng cao tính hiệu quả công tác quản lý .
9
Đề tài đã chỉ ra những ưu điểm, kết quả đã đạt được và những hạn chế của
công tác nâng cao ý thức trách nhiệm về đao đức công vụ cho CBCC.
Đáp ứng được yêu cầu tìm kiếm tài liệu nâng cao tính hiểu biết cho sinh
viên nghành quản lý nhà nước và đội ngũ CBCC khu vực hành chính.
9. Cấu trúc của đề tài
Chương 1: Những lý luận chung về đạo đức công vụ.
Chương 2: Thực trạng đạo đức của cán bộ công chức trong thực thi công
vụ
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đạo đức công vụ ở
Việt Nam hiện nay.
10
CHƯƠNG I
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ
1.1Công vụ công chức và đạo đức công vụ.
1.1.1 khái quát về công vụ.
Công vụ là khái niệm mang tính lịch sử được sử dụng rộng rãi trong khoa học
chính trị, nhất là trong hoạt động nhà nước. Công vụ là thuật ngữ để chỉ một dạng
hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do các công chức viên chức nhà nước
đồng thời thực hiện chức năng tổ chức phục vụ các nhu cầu chung của xã hội
không vì mục đích lợi nhuận.Chủ thể thực thi công vụ là công chức.
Hoạt động công vụ không chỉ thuần tuý mang tính quyền lực nhà nước, mà còn
bao gồm cả hoạt động của các tổ chức do nhà nước thành lập (được nhà nước uỷ
quyền) để phục vụ các nhu cầu của nhân dân. Các hoạt động này đều do công chức,
nhân danh nhà nước tiến hành Nó bao gồm các hoạt động nhân danh quyền lực và
các hoạt động của các tổ chức được nhà nước uỷ quyền. Ở các nước trên thế giới,
khi đề cập đến công vụ, người ta ít nói đến yếu tố quyền lực nhà nước mà thường
chỉ nói tới công chức nhân danh pháp luật hoặc nhân danh nhà nước. Bởi lẽ, pháp
luật là công cụ chính, chủ yếu do nhà nước ban hành.Công vụ được tiến hành theo
chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của nhà nước và tuân theo pháp luật.Hoạt động
công vụ mang tính thường xuyên, chuyên nghiệp.
Công chức: Theo quy định tại Khoản 2, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức: “Công
chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức
danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã
hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân
dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng;
trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan
12
chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập
của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi
chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách
nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp
công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo
quy định của pháp luật”.
Tổng hợp số liệu thống kê về đội ngũ của Bộ Nội vụ, hiện nay, số lượng
viên chức khoảng 1,6 triệu người, CBCC khoảng 580.000 người kể cả số CBCC
cấp xã. Cơ cấu đội ngũ CBCC có nhiều thay đổi, so với trước đây số chuyên viên
được thể hiện ở hành vi đạo đức mang tính tự giác, tự nguyện và vì lợi ích của
người khác
Đạo đức bao gồm các yếu tố cấu thành là: Ý thức đạo đức, hành vi đạo đức
và quan hệ đạo đức. Ý thức đạo đức Con người không thể sống bên ngoài các mối
quan hệ xã hội. Để tồn tại, con người phải dựa vào nhau trên cơ sở những lợi ích
cá nhân phải phù hợp với những lợi ích của cộng đồng. Những nguyên tắc bảo
đảm cho sự phù hợp của những quyền lợi ấy khi đã trở thành tình cảm, quan
điểm, quan niệm sống chính là ý thức đạo đức. Mọi hành vi được thực hiện do
thôi thúc của một động cơ nào đó. Khi hành vi được thực hiện do thôi thúc của ý
thức đạo đức thì nó được gọi là hành vi đạo đức. Hành vi đó thể hiện ý thức đạo
14
đức và văn hoá đạo đức của cá nhân. Hành vi đạo đức tác động trực tiếp đến con
người và gắn liền với ý thức đạo đức. Quan hệ đạo đức là những quan hệ đã được
ý thức đạo đức điều chỉnh giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập thể và
xã hội. Những quan hệ này thường được hình thức hoá bằng những nghi thức xã
hội, những phong tục, tập quán... vì thế một mặt nó thể hiện ý thức đạo đức, mặt
khác nó đóng vai trò hình thành và củng cố ý thức đạo đức.
Đạo đức công vụ trước hết là một dạng của đạo đức nói chung, được dựa trên
đạo đức nói chung. Đạo đức công vụ là một phạm trù tương đối động rộng, được
hiểu là đạo đức thực thi công vụ của cán bộ, công chức; là những giá trị và chuẩn
mực đạo đức được áp dụng cho một nhóm người nhất định trong xã hội, cán bộ,
công chức trong lĩnh vực hoạt cụ thể là công vụ. Đạo đức công vụ là hệ thống các
chuẩn mực quy định nhận thức và hành động được xem là tốt hay xấu, là nên hay
không nên làm trong hoạt động công vụ của người cán bộ, công chức nhằm xây
dựng một nền công vụ trách nhiệm, chuyên nghiệp và trong sạch, tận tụy, công
tâm. Đạo đức công vụ bao hàm đạo đức, lối sống, cách xử sự của cán bộ, công chức
không chỉ trong các mối quan hệ xã hội thông thường mà còn trong phạm vi thực
hiện nhiệm vụ công.
1.2 Hệ thống các văn bản quy định về đạo đức công vụ của cán bộ, công
chức.
1.2.1Hệ thống văn bản quy định đạo đức công vụ
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt quan tâm đến đọa đực, nất là đạo
đức công vụ của người công chức. Đạo đức theo quan điểm của người là đạo đức
mới, đạo đức cách mạng, coi đạo đức là gốc nền tảng của cách mạng.
Đảng ta đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề đạo đực và giáo dục đạo đức và
giáo dục đạo đức chi nhân dân, nhất là đội ngũ cán bộ, công chức. đảng ta coi văn
hóa là nền tảng tinh thần của xã hội mà đạo đức là một yếu tố cấu thành quan trọng
16
của nó.Thể chế hóa quan điểm của đảng, nhà nước đã ban hành nhiều quy định về
đạo đức công chức.
Sắc lệnh số 76/SL của Chủ Tịch nước : Sắc lệnh ban hành Quy chế Công
chức(20/5/1950). Quy chế công chức, Hiến pháp năm 1992; Pháp lệnh cán bộ,công
chức. Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí số:48/2005/QH11 ngày 29 tháng 11
năm 2005: Luật hống tham nhũng 2005; Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan
nhà nước ban hành kèm theo quyết định số: 129/2007/QĐ-TTg ngày 02 tháng 8 năm
2007. Luật cán bộ, công chức năm 2008; Luật viên chức số : 58/2010/QH 12 ngày
15 tháng 11 năm 2010. Chỉ thị số 03/CT-TW ngày 14/5/2011 về việc tiếp tục đẩy
mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vàThủ tướng Chính
phủ đã ban hành Chỉ thị 1973/CT-TTg ngày 07/11/2011, về việc tiếp tục đẩy mạnh
học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Ngoài ra đạo đức công vụ còn được quy định rõ tại những ngành cụ thể như:
Luật công an nhân dân số: 73/2014/QH13 ngày 07/01/2015. quy định về
nguyên tắc tổ chức, hoạt động; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và chế độ, chính
sách đối với Công an nhân dân.
Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo : Ban hành
Quy định về đạo đức nhà giáo.
dựng nền công vụ mới, gắn với nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Quyền lực nhà nước liên quan trực tiếp đến nền công vụ, được phản ánh qua
một trong những nội dung cốt yếu của nền công vụ, đó là đội ngũ cán bộ, công
chức. Bất kỳ nhà nước nào cũng phải định ra những chuẩn mực đạo đức trong nền
công vụ của mình. Ngoài những nội dung chuẩn mực mà nhiều quốc gia sử dụng
tương tự như nhau, thì tuỳ theo đặc điểm văn hoá, tâm lý xã hội... mỗi quốc gia lại
có những chuẩn mực đạo đức đặc thù riêng trong nền công vụ của mình. Chuẩn
18
mực đạo đức công vụ của cán bộ, công chức Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí
Minh, Nhà nước và nền công vụ nước ta coi là “cái nền”, “cái gốc” của đội ngũ cán
bộ, công chức và được gói gọn trong 4 chữ “cần”, “kiệm”, “liêm”, “chính”, suy
rộng ra là “nhân, nghĩa, liêm, trí, dũng, tín”. Ngay từ năm 1950, trong điều kiện
khó khăn, gian khổ của công cuộc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc
lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 ban hành Quy chế công chức Việt Nam. Với văn bản
này có thể nói, đây là lần đầu tiên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành
một hệ thống các quy phạm pháp luật khá hoàn chỉnh, làm cơ sở pháp lý cho việc
xây dựng đội ngũ công chức cách mạng Việt Nam. Trong đó, tại Lời nói đầu, nội
dung về công chức và đạo đức công vụ đã được thể hiện rất rõ: “Công chức Việt
Nam là những công dân giữ một nhiệm vụ trong bộ máy nhà nước của chính quyền
nhân dân… Công chức Việt Nam phải đem tất cả sức lực và tâm trí, theo đúng
đường lối của Chính phủ và nhằm lợi ích của nhân dân mà làm việc”. Điều 2 của
Quy chế quy định: “Công chức Việt Nam phải phục vụ nhân dân, trung thành với
Chính phủ, tôn trọng kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm và tránh làm những việc có
hại đến thanh danh công chức hay đến sự hoạt động của bộ máy nhà nước. Công
chức Việt Nam phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Điều 3 Quy chế công
chức Việt Nam quy định quyền lợi của công chức và tại các điều tiếp theo quy định
việc tuyển dụng, tổ chức, quản trị, sử dụng công chức. Từ những quy định trên có
thể thấy, ngay trong Quy chế công chức đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Nhà
Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ
quốc và lợi ích quốc gia; tôn trọng nhân dân, tận tâm phục vụ nhân dân; liên hệ
chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; chấp
hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của
Nhà nước. Luật cán bộ, công chức cũng quy định: trong khi thi hành công vụ, cán
bộ, công chức có nghĩa vụ thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; có ý thức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp
20
hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền
khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí
mật nhà nước; chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn
kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm
tài sản nhà nước được giao; chấp hành quyết định của cấp trên. Đối với cán bộ,
công chức là người đứng đầu thì còn phải thực hiện các nghĩa vụ như: chỉ đạo tổ
chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của
cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của
cán bộ, công chức; tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng,
quan liêu, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về để xảy ra
quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; tổ chức thực hiện
các quy định pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hoá công sở trong cơ quan, tổ chức,
đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý có
hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây
phiền hà cho công dân... Với việc ban hành Luật cán bộ, công chức, chế định công
chức và đạo đức công vụ đã có bước phát triển và hoàn thiện mới, góp phần xác lập
các chuẩn mực đạo đức - pháp lý cho cán bộ, công chức Việt Nam trong tiến trình
xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh. Luật Phòng, chống
tham nhũng cũng có những quy định phản ánh những nội dung về chuẩn mực công
chức, công vụ, trong đó xác định cụ thể cán bộ, công chức là một trong những đối
nhà nước và thực hiện dân chủ ở xã cũng có những văn bản quy phạm pháp luật
quy định chuẩn mực đạo đức cán bộ, công chức, viên chức khi thi hành công vụ...
Các chuẩn mực về công chức và đạo đức công vụ đã được nhà nước ban hành dưới
các hình thức văn bản quy phạm pháp luật. Từ những nội dung cơ bản này, Chính
phủ và chính quyền các cấp, các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nhà nước đã
ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để tổ chức thực hiện và quản lý sâu
rộng hơn, cụ thể hơn trong các hoạt động của nền công vụ. Đó là các quy định pháp
luật về xây dựng cơ chế tuyển dụng và bổ nhiệm cán bộ, công chức một cách minh
bạch; những quy định nhằm tăng cường tính minh bạch thông qua việc công khai
22
và giám sát đối với tài sản và trách nhiệm cá nhân, hoặc các quy định nhằm nâng
cao đạo đức công vụ, hạn chế tiêu cực như sách nhiễu, vòi vĩnh, hối lộ...
Tiểu kết.
Đạo đức công vụ là đạo đức thực thi công vụ của cán bộ, công chức;
là những giá trị và chuẩn mực đạo đức được áp dụng cho một nhóm người nhất
định trong xã hội cán bộ, công chức trong lĩnh vực hoạt cụ thể là công vụ. Trong
chương 1 những lý luận về đạo đức công vụ đã cho ta thấy đạo đức, đạo đức công
vụ và vai trò hết sức quan trọng của đạo đức công vụ. Hệ thống được những văn
bản của nhà nước ta từ thời kỳ mới khai sinh cho đến thời điểm hiện tại. Chỉ ra
một điểm rằng đạo đức công vụ của nước ta được chú trọng đến công tác công vụ
của “ người công bộc của nhân dân” từ những quy định cho đến luật. Nhiều nguyên
tắc, chuẩn mực đạo đức mới của xã hội mới được thể chế hóa thành những quy
phạm pháp luật cho chuẩn mực hành vi của cán bộ, công chức trong thi hành công
vụ, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu xây dựng nền công vụ mới, gắn với nhà
nước của dân, do dân và vì dân.
23
thường đụng chạm đến lợi ích của nhau. Hoạt động này sẽ dẫn đến sự đáp trả bằng
sự đánh giá hoặc bằng ứng sự, nên đã hình thành quan hệ đạo đức. Đạo đức công
vụ là sự thể hiện đặc thù đạo đức chung của xã hội trong công vụ của đội ngũ cán
bộ, công chức, nhằm thực hiện chức năng của nhà nước trong quá trình quản lý các
mặt của đời sống xã hội; đó là những quy tắc chuẩn mực, giá trị được xã hội thừa
nhận là tốt đẹp, do quá trình tu dưỡng rèn luyện theo tiêu chuẩn mà có được khi họ
thi hành công vụ.
Đạo đức công vụ trong xã hội hiện đại đã trở thành một điều không thể thiếu
của một quốc gia phát triển, gắn liền với đạo đức phục vụ nhân dân của cán bộ,
công chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:” Cũng như sông phải có nguồn
nước mới, không có nguồn thì song cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây
héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thi dù tài giỏi đến mấy
cũng không lãnh đạo được nhân dân” (trích Hồ Chí Minh toàn tập). Nội dung công
vụ thể hiện trong các quan hệ: Công vụ quan hệ với nhà nước. Công vụ quan hệ
với nhân dân. Công vụ quan hệ với cấp trên. Công vụ quan hệ với cấp dưới. Công
vụ quan hệ với đồng nghiệp (cùng cấp). Đó là những mối quan hệ dựa trên nền tảng
lợi ích cá nhân với cá nhân, cá nhân với xã hội.
2.1.2 Văn hóa công sở.
Văn hóa nơi công sở cũng giống như bất cứ một loại hình văn hóa nào khác
là một loạt những hành vi và qui ước mà con người dựa vào đó để điều khiển các
mối quan hệ tương tác của mình với những người khác. Văn hóa này bao gồm cả
những quy định chính thức, được ghi thành văn bản của một công ty và cả những
quy định bất thành văn mà bạn chỉ học được bằng kinh nghiệm.
Văn hóa công sợ ở nước ta thực tế đáng buồn, trong nhiều năm qua sự độc
đoán chuyên quyền trong bộ máy công quyền đã làm giảm sút niềm tin của nhân
25