Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của ngân hàng thương mại theo pháp luật việt nam - Pdf 35

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

T THU HNG

CáC HàNH VI CạNH TRANH KHÔNG LàNH MạNH
CủA NGÂN HàNG THƯƠNG MạI THEO PHáP LUậT VIệT NAM

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

T THU HNG

CáC HàNH VI CạNH TRANH KHÔNG LàNH MạNH
CủA NGÂN HàNG THƯƠNG MạI THEO PHáP LUậT VIệT NAM

Chuyờn ngnh: Lut Kinh t
Mó s: 60 38 01 07

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: TS. NG V HUN

H NI - 2015




1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của cạnh tranh ................................................. 7
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh............ 10
1.2.

HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH CỦA
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI ......................................................... 14

1.2.1. Khái quát chung về hoạt động của ngân hàng thƣơng mại ................ 14
1.2.2. Khái niệm, bản chất và đặc trƣng cơ bản hành vi cạnh tranh
không lành mạnh của ngân hàng thƣơng mại ..................................... 18
1.2.3. Hậu quả do các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của ngân
hàng thƣơng mại gây ra ...................................................................... 26
1.3.

PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH
MẠNH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI .................................. 29

1.3.1. Khái niệm, đặc điểm và nội dung cơ bản pháp luật về hành vi
cạnh tranh không lành mạnh ............................................................... 29
1.3.2. Những đặc trƣng cơ bản của pháp luật về hành vi cạnh tranh
không lành mạnh của ngân hàng thƣơng mại ..................................... 36
Tiểu kết Chƣơng 1 ........................................................................................... 39


Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI CẠNH
TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH CỦA NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .................................. 40
2.1.
THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI

VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH CỦA
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM ................................. 88


3.1.1. Xu thế phát triển hoạt động dịch vụ ngân hàng thƣơng mại ở thị
trƣờng Việt Nam ................................................................................. 88
3.1.2. Một số định hƣớng hoàn thiện pháp luật ............................................ 90
3.2.

KIẾN NGHỊ VỀ CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ .................................... 93

3.2.1. Giải pháp thuộc các cơ quan quản lý nhà nƣớc nhằm chống hành
vi cạnh tranh không lành mạnh của NHTM ....................................... 93
3.2.2. Giải pháp đối với các ngân hàng thƣơng mại nhằm chống hành
vi cạnh tranh không lành mạnh của NHTM ..................................... 108
Tiểu kết Chƣơng 3 ......................................................................................... 112
KẾT LUẬN .................................................................................................. 113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 115


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt

Nghĩa đầy đủ

CTKLM:

Cạnh tranh không lành mạnh


đoạn 2011 - 2020 sau khi hoàn thiện là cơ sở để NHNN quyết định chiến
lƣợc phát triển ngành trong 10 năm tới, tạo ra bƣớc phát triển mới để hệ
thống ngân hàng Việt Nam có thể rút ngắn khoảng cách với nhóm các quốc
gia phát triển hàng đầu khu vực, đóng góp cho sự phát triển của đất nƣớc và
thực hiện thắng lợi mục tiêu kinh tế 2011 - 2020 vừa đƣợc Đại hội Đảng
Cộng sản Việt Nam lần thứ XI thông qua.
Theo cam kết khi gia nhập Tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO), kể từ
ngày 01/04/2009, các TCTD nƣớc ngoài đƣợc thành lập ngân hàng 100% vốn
nƣớc ngoài tại Việt Nam với các ràng buộc về vốn. Đây đang là sức ép rất lớn

1


đối với các NHTM trong nƣớc, bởi lẽ, với một thị trƣờng tài chính còn non
trẻ, chƣa có kinh nghiệm thích ứng và xử lý với những biến động của kinh tế
thị trƣờng, nhƣng lại có quá nhiều chủ thể cung ứng dịch vụ ngân hàng, bởi
vậy, việc bảo đảm cho các NHTM trong nƣớc có vị trí xứng đáng trên thị
trƣờng quả là công việc khó khăn, nhất là tiềm lực tài chính và kinh nghiệm
kinh doanh. Thực thi các cam kết quốc tế, các NHTM trong nƣớc buộc phải
thay đổi các phƣơng thức kinh doanh, đặc biệt là cần phải có các giải pháp để
nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trƣờng khi có sự hiện diện của các
NHTM nƣớc ngoài tại Việt Nam.
Mặc dù thời gian qua, các NHTM trong nƣớc cũng đã tập trung mọi
nguồn lực để nâng cao năng lực tài chính và mở rộng quy mô, tuy nhiên, vấn
đề cạnh tranh giữa các NHTM tại thị trƣờng Việt Nam cũng đang trở nên
nóng bỏng và khốc liệt. Là một lĩnh vực quan trọng và nhạy cảm trong nền
kinh tế, ngành Ngân hàng cần phải có những quy định pháp lý hết sức chặt
chẽ và hiện đại để điều chỉnh kịp thời các hành vi cạnh tranh đa dạng và thay
đổi liên tục để duy trì môi trƣờng kinh doanh lành mạnh cho tất cả các TCTD.
Xuất phát từ mục tiêu duy trì và bảo vệ môi trƣờng cạnh tranh lành

Pháp luật số 4/2008; “Hành lang pháp lý liên quan đến sáp nhập và thâu tóm
ngân hàng ở Việt Nam” của ThS. Bùi Thanh Lâm đăng trên Tạp chí Nghiên
cứu lập pháp số 11/2010; “Hoàn thiện pháp luật cạnh tranh ngân hàng trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Học viện
năm học 2009 – 2010, Học viện Ngân hàng (Chủ nhiệm Viên Thế Giang)...
Một số công trình luận văn thạc sỹ nhƣ: “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh
tranh của các NHTM Việt Nam thông qua hoạt động sáp nhập và mua lại”,
Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Phạm Thị Tuyết Vân, Trƣờng Đại học Kinh tế
TP.Hồ Chí Minh, 2008; “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đến 2015”, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế,
Đặng Hoàng An Dân, Trƣờng Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, 2010... Các

3


công trình nghiên cứu khoa học trên đã đƣa ra những bàn luận và giải quyết
đƣợc một số vấn đề về lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật, song đều
nghiên cứu ở khía cạnh nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng. Tuy nhiên, kết quả
nghiên cứu của các công trình này cũng cho thấy, vấn đề cạnh tranh giữa các
NHTM mặc dù là một trong những chế định cơ bản nhƣng cũng là một trong
những chế định còn nhiều nội dung chƣa đạt đến sự đồng thuận và gây tranh
luận sôi nổi trong giới khoa học và kinh doanh từ trƣớc đến nay.
Trên cơ sở kế thừa những giá trị khoa học của các công trình nghiên
cứu trƣớc đây, Luận văn này tiếp tục đi sâu, phát triển nhằm hoàn thiện hơn
nữa pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng của
Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh, pháp
luật về cạnh tranh không lành mạnh nói chung và cạnh tranh không lành mạnh,

Nam trên thực tiễn để đối chiếu, tìm ra những hạn chế và đề xuất hƣớng hoàn
thiện phù hợp. Các phƣơng pháp nghiên cứu này còn dựa trên sự tiếp thu
quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta trong sự nghiệp đổi mới, đặc biệt là đổi
mới cơ chế kinh tế, phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu chủ yếu về vấn đề cạnh
tranh không lành mạnh giữa các NHTM theo pháp luật Việt Nam.
* Phạm vi nghiên cứu: Kể từ những năm 90 trở đi, đất nƣớc chuyển đổi
sang nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa dẫn đến các TCTD
bắt đầu có sự cạnh tranh. Tuy nhiên, phải đến khi Luật Ngân hàng Nhà nƣớc
và Luật các Tổ chức tín dụng ra đời năm 1997, thì pháp luật về cạnh tranh
giữa các ngân hàng mới chính thức đƣợc ghi nhận. Do đó, luận văn sẽ đi sâu

5


nghiên cứu từ giai đoạn năm 1997 đến nay, trong đó, đặc biệt ƣu tiên trong
phạm vi 5 năm gần đây với sự ra đời của Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật
Ngân hàng Nhà nƣớc và Luật các Tổ chức tín dụng mới (đƣợc sửa đổi năm
2010). Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực
trạng và xu thế cạnh tranh hiện nay của các NHTM để có những kiến nghị, đề
xuất hợp lý nhất. Đồng thời, luận văn cũng có sự so sánh pháp luật về cạnh
tranh trong lĩnh vực ngân hàng của một số nƣớc nhƣ: Mỹ, Hunggari, Ba Lan,
Anh, Pháp… để tham khảo trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện các quy
định pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng của Việt Nam.
6. Những đóng góp mới của Luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần đáng kể về mặt lý luận
của pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng.
-Về thực tiễn, Luận văn chỉ ra xu thế cạnh tranh của các NHTM ở Việt

từ nhiều góc nhìn khác nhau.
Với tƣ cách là hiện tƣợng xã hội, P.A Samuelson & W.D.Nordhaus –
hai nhà kinh tế học Mỹ đã viết trong cuốn “Kinh tế học” (tái bản lần thứ 12)
rằng: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp nhằm cạnh tranh
với nhau để giành giật một đối tượng khách hàng hay một thị trường trong
lĩnh vực nào đó...”. Với tƣ cách là động lực nội tại trong mỗi một chủ thể
kinh doanh, cuốn “Black’Law Dictionary” diễn tả cạnh tranh là “sự nỗ lực
hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích
giống nhau từ chủ thể thứ ba” [42, tr. 278]. Từ điển Kinh doanh của Anh xuất bản
năm 1992 cũng định nghĩa: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các
nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản
xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” [15, tr.19]. Từ điển Tiếng Việt
định nghĩa cạnh tranh là tranh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng nhƣ
nhau, nhằm giành phần hơn, phần thắng về phía mình [41, tr. 258]. Cạnh tranh
cũng có thể đƣợc hiểu là hành vi của doanh nghiệp độc lập với nhau và là đối

7


thủ của nhau cung ứng hàng hóa, dịch vụ nhằm làm thỏa mãn nhu cầu giống
nhau với sự may rủi của mỗi bên, thể hiện qua việc lôi kéo đƣợc hoặc để bị
mất đi một lƣợng khách hàng thƣờng xuyên [16, tr. 11].
Theo các cách giải thích trên, nếu nhìn từ phía các chủ thể của hành vi
thì cạnh tranh đƣợc coi là phƣơng thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm
năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định của ngƣời tiêu dùng. Nếu
nhìn khái quát trên quy mô toàn xã hội thì cạnh tranh là phƣơng thức phân bổ
các nguồn lực, tài nguyên một cách tối ƣu, do đó là động lực bên trong của
nền kinh tế phát triển. Với những ý nghĩa quan trọng đó, thông qua việc đáp
ứng các nhu cầu và đem lại lợi ích cho ngƣời tiêu dùng, cạnh tranh có vai trò
điều tiết, phân phối thu nhập, đào thải tự nhiên đối với những doanh nghiệp

các doanh nghiệp. Mức lợi nhuận của mỗi nhà kinh doanh sẽ tỷ lệ thuận với
năng lực của bản thân họ trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, ngƣời
tiêu dùng trong xã hội, do đó các doanh nghiệp sẽ đua nhau lấy lòng khách
hàng. Từng thủ đoạn đƣợc sử dụng để ganh đua đƣợc gọi là hành vi cạnh
tranh của doanh nghiệp. Kết quả của cuộc cạnh tranh trên thị trƣờng làm cho
ngƣời chiến thắng mở rộng đƣợc thị phần và tăng lợi nhuận, làm cho kẻ thua
cuộc chịu mất khách hàng và phải rời khỏi thị trƣờng.
Thứ ba, mục đích của các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh là cùng
tranh giành thị trƣờng mua hoặc bán sản phẩm. Trong kinh doanh, lợi nhuận
là động lực cho sự gia nhập thị trƣờng, là thƣớc đo sự thành đạt và là mục
đích hƣớng đến của các doanh nghiệp. Do đó, khi tham gia vào thị trƣờng,
doanh nghiệp luôn ganh đua để có thể tranh giành các cơ hội tốt nhất nhằm
mở rộng thị trƣờng. Trên thị trƣờng, cạnh tranh chỉ xảy ra giữa các doanh
nghiệp có chung lợi ích tiềm năng về nguồn nguyên liệu đầu vào (cạnh tranh
mua); hoặc về thị trƣờng đầu ra của sản phẩm (cạnh tranh bán) của quá trình
sản xuất. Việc có chung khách hàng hoặc đối tác để tranh giành, có chung
một nguồn lợi ích để hƣớng đến làm cho các doanh nghiệp có cùng mục đích
và trở thành đối thủ cạnh tranh của nhau.

9


1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh
1.1.2.1. Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Trƣớc hết, cạnh tranh không lành mạnh là một khái niệm bắt nguồn từ
những quy định mang tính nguyên tắc trong pháp luật dân sự, theo đó, các chủ
thể trong giao dịch (dân sự hay thƣơng mại) phải đảm bảo tôn trọng thuần
phong, mỹ tục và đạo đức xã hội ở mỗi quốc gia. Với những quy định nhƣ
vậy, giao dịch thƣơng mại trên thị trƣờng cũng phải đảm bảo tôn trọng những
quy tắc trong xã hội về đạo đức kinh doanh. Sự phát triển đa dạng của các

doanh nghiệp đều có thể bị xem xét về tính chính đáng, phù hợp với thông lệ
hay đạo đức kinh doanh và pháp luật về CTKLM có thể can thiệp vào nhiều
hoạt động khác nhau của đời sống kinh tế.
Thứ hai, hành vi CTKLM phải nhằm mục đích cạnh tranh . Có thể thấy
cạnh tranh là một vấn đề sống c ̣ òn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trƣờng. Quy luật cạnh tranh cũng giống nhƣ những quy luật tồn tại và đào thải
của tự nhiên, luôn khẳng định chiến thắng thuộc về kẻ mạnh. Do đó, để thu
đƣợc nhiều lợi nhuận, các doanh nghiệp luôn phải cạnh tranh với nhau và đôi
khi họ sử dụng cả những cách thức, phƣơng pháp mà pháp luật không cho
phép, xâm phạm đến lợi ích của các đối thủ khác. Mục đích cạnh tranh là yếu
tố bắt buộc để xác định một hành vi là cạnh tranh lành mạnh hay không lành
mạnh. Nếu hành vi của doanh nghiệp, hiệp hội không nhằm mục đích cạnh
tranh thì đó không phải là hành vi CTKLM.
Thứ ba, hành vi CTKLM mang tính chất đối lập, đi ngƣợc lại các thông
lệ kinh doanh tốt đẹp, các chuẩn mực thông thƣờng về đạo đức kinh doanh, có
thể hiểu là những quy tắc xử sự chung đã đƣợc chấp nhận rộng rãi và lâu dài
trong hoạt động kinh doanh trên thị trƣờng. Đặc điểm này phần nào thể hiện
nguồn gốc tập quán pháp của pháp luật về CTKLM, các quy định về CTKLM
đƣợc hình thành và hoàn thiện qua bề dày thực tiễn phát triển kinh tế xã hội,
không thể một sớm một chiều mà có đƣợc. Mặt khác, đặc điểm này cũng đòi

12


hỏi cơ quan xử lý về hành vi CTKLM phải có những hiểu biết và đánh giá sâu
sắc về thực tiễn thị trƣờng để phán định một hành vi có đi ngƣợc lại những
quy tắc xử sự chung trong kinh doanh tại một thời điểm nhất định hay không.
Thứ tư, hành vi CTKLM có đối tƣợng xâm hại cụ thể là các đối thủ
cạnh tranh, ngƣời tiêu dùng, lợi ích Nhà nƣớc hoặc các lợi ích xã hội khác.
Bên cạnh đó, thiệt hại mà hành vi gây ra có thể là hiện thực (đã xảy ra) nhƣng

Theo Sắc lệnh số 15/SL của Chủ tịch nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa ngày 05/05/1951, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đƣợc ra đời. Giai đoạn
từ năm 1951 đến năm 1987, ở Việt Nam đã tạo lập hệ thống ngân hàng một
cấp, phù hợp với cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung.
Quá trình chuyển đổi của hệ thống các ngân hàng Việt Nam theo định
hƣớng kinh tế thị trƣờng đƣợc chính thức ghi nhận kể từ thời điểm Chính phủ
ban hành hai Pháp lệnh về ngân hàng vào tháng 5/1990. Trong đó, lần đầu
tiên quy định hệ thống các ngân hàng Việt Nam đƣợc tổ chức làm hai cấp có
chức năng, nhiệm vụ phân biệt rõ ràng: Ngân hàng Trung ƣơng là cơ quan
phát hành tiền tệ và thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc về tiền tệ - tín
dụng và các NHTM thực hiện chức năng kinh doanh, trung gian tài chính.
Hệ thống ngân hàng hai cấp tiếp tục đƣợc quy định trong Luật Ngân
hàng Nhà nƣớc và Luật các Tổ chức tín dụng 1997, tạo ra khung pháp lý cho
quá trình phát triển lâu dài của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong tiến trình
đổi mới. Hệ thống ngân hàng Việt Nam đƣợc phân loại dựa trên tiêu chí cấu
trúc vốn, bao gồm hai loại hình ngân hàng là ngân hàng trong nƣớc và ngân
hàng có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Ngân hàng trong nƣớc bao gồm các NHTM
nhà nƣớc, NHTM cổ phần. Ngân hàng có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài bao gồm
ngân hàng liên doanh, ngân hàng nƣớc ngoài, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài
và các văn phòng đại diện của ngân hàng nƣớc ngoài tại Việt Nam. Theo thống
kê về Hệ thống tổ chức tín dụng của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam trên
website sbv.gov.vn [45], tính đến ngày 30/6/2015, ngoài hệ thống NHNN

14


gồm Hội Sở chính và 63 chi nhánh ở 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ƣơng, còn có hệ thống TCTD gồm: 03 NHTM nhà nƣớc; 34 NHTM cổ phần;
02 ngân hàng chính sách; 01 ngân hàng hợp tác xã (trƣớc là Quỹ Tín dụng
nhân dân Trung ƣơng); 17 công ty tài chính; 11 công ty cho thuê tài chính; 03

tiêu dùng… cho xã hội.
Đa số các nhà kinh tế học đều cho rằng, NHTM là một loại hình doanh
nghiệp đặc biệt hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. NHTM có
những đặc điểm sau:
- NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt vì đối tƣợng kinh
doanh là tiền tệ, hoạt động tín dụng là đặc trƣng cơ bản đƣợc thực hiện chủ
yếu bằng cách thu hút vốn tiền tệ trong xã hội để cho vay. Sản phẩm NHTM
kinh doanh và làm dịch vụ là tiền và các chứng từ có giá nhƣ cổ phiếu,
thƣơng phiếu, hối phiếu, trái phiếu và tín phiếu. Đây là những sản phẩm cao
cấp của nền kinh tế thị trƣờng, đƣợc điều hành bởi nguồn nhân lực có trình độ
chuyên môn nhất định và đƣợc vận hành theo một quy trình chặt chẽ do pháp
luật quy định.
- Nguồn vốn phục vụ hoạt động kinh doanh: Nguồn vốn phần lớn là
tiền gửi của các cá nhân, tổ chức kinh tế trong nền kinh tế. Đặc điểm nổi bật
của NHTM là không sử dụng nguồn vốn sở hữu vào trong các hoạt động kinh
doanh của mình, nguồn vốn phần lớn là tiền gửi của các cá nhân, tổ chức kinh
tế trong nền kinh tế. Trong khi các loại hình kinh tế khác lại sử dụng chủ yếu
nguồn vốn sở hữu vào các hoạt động kinh doanh. Điều này dẫn đến tính tự
chủ trong hoạt động kinh doanh của NHTM kém hơn và mức độ rủi ro cao
hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác.
Sự khác biệt của NHTM với các định chế tài chính khác là NHTM có
quyền huy động tiền gửi trong nền kinh tế mỗi khi cần vốn để tiến hành các
hoạt động kinh doanh của mình. Không có một định chế tài chính nào ngoài
NHTM có thể nhận tiền gửi từ các cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế.

16


- Khách hàng là những ngƣời đóng vai trò hai mặt đối với NHTM. Thứ
nhất, họ là những ngƣời cung cấp các điều kiện để NHTM hoạt động, họ là

công cụ đƣợc Nhà nƣớc sử dụng để quản lý vĩ mô nền kinh tế. Do đó, hoạt
động kinh doanh tiền tệ của NHTM sẽ đƣợc Nhà nƣớc kiểm soát chặt chẽ hơn
so với các hoạt động kinh tế khác.
c. Thực hiện các dịch vụ trung gian: Ngoài hai hoạt động cơ bản là hoạt
động huy động vốn và hoạt động sử dụng vốn, NHTM cũng thực hiện các
dịch vụ trung gian cho khách hàng của mình. Hoạt động trung gian gồm nhiều
loại dịch vụ khác nhau nhƣ: dịch vụ thu hộ chi hộ cho khách hàng có tài
khoản tiền gửi tại ngân hàng; dịch vụ chuyển khoản từ tài khoản này đến tài
khoản khác trong cùng một ngân hàng hay ở hai ngân hàng khác nhau; dịch
vụ tƣ vấn cho khách hàng các vấn đề tài chính; dịch vụ giữ hộ các chứng từ,
vật quý giá; dịch vụ chi lƣơng cho các doanh nghiệp có nhu cầu; dịch vụ khấu
trừ tự động… Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ ngân hàng theo đó
cũng phát triển theo để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của công chúng.
Thực hiện nghiệp vụ trung gian mang tính dịch vụ sẽ đem lại cho NHTM
những khoản thu nhập khá quan trọng.
Ba lĩnh vực hoạt động trên là các hoạt động cơ bản của NHTM. Ba hoạt
động đó có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau phát triển, tạo uy
tín cho NHTM. Sự kết hợp đồng bộ đó tạo thành quy luật trong hoạt động của
NHTM và tạo thành xu hƣớng kinh doanh tổng hợp đa năng của các NHTM.
1.2.2. Khái niệm, bản chất và đặc trƣng cơ bản hành vi cạnh tranh
không lành mạnh của ngân hàng thƣơng mại
1.2.2.1. Khái niệm, bản chất hành vi cạnh tranh không lành mạnh
của ngân hàng thương mại
Luật Cạnh tranh 2004 không có quy định nào định nghĩa cụ thể về hành
vi CTKLM của NHTM, tuy nhiên, Điều 39 Luật Cạnh tranh 2004 đã quy định
chi tiết các hành vi đƣợc coi là CTKLM nói chung, bao gồm: (i) Chỉ dẫn gây

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status