BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
PHẠM THỊ ĐIỆP
HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN NĂNG Lực QUAN SÁT
ĐỂ BỔI DƯỠNG VỐN SỐNG, VốN HIỂU BIÊT
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học (Bậc Tiểu học)
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VÃN THẠC sĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đỗ HUY QUANG
HÀ NỘI, 2014
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô phòng Sau
Đại học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giảng dạy trong chương trình Cao
học Giáo Dục Học (Bậc Tiểu Học) K16.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đỗ Huy Quang đã hướng
dẫn tôi thực hiện nghiên cứu của mình.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã
luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài
nghiên cứu.
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm chưa nhiều nên không thể tránh khỏi
những thiếu xót nhất định, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô
giáo và các anh chị học viên.
Phương pháp
SGK
Sách giáo khoa
TV
Tiếng Việt
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1- Trường Tiểu học là nơi đầu tiên trẻ em được học tập tiếng Việt với
phương pháp nhà trường, phương pháp học tập tiếng mẹ đẻ một cách khoa học.
Học sinh Tiểu học chỉ có thể học tập tốt các môn khác khi có kiến thức tiếng
Việt, bởi với người Việt Nam, tiếng Việt là phương tiện giao tiếp, là công cụ để
trao đổi thông tin và chiếm lĩnh tri thức. Môn Tiếng Việt trong chương trình tiểu
học có nhiệm vụ hoàn thiện năng lực ngôn ngữ cho học sinh.
Quan sát có vai trò rất quan trọng để học tốt các phân môn của Tiếng Việt:
Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Tập làm văn, Luyện từ và câu. Quan sát là nhận
biết thế giới bằng các giác quan, là nhìn thấy, là nghe thấy, ngửi thấy, sờ mó
thấy, nội cảm thấy. Quan sát bổ sung cho 2 kỹ năng nghe, đọc, giúp học sinh
tăng thêm vốn sống, vốn hiểu biết, tăng vốn từ, rèn kỹ năng sống cho học sinh.
Quan sát là nhiệm vụ số một để có nội dung làm văn miêu tả. Theo Trần Hòa
Bình - Lê Hữu Tỉnh: “Quan sát và cảm nhận thể giới xung quanh là lẽ tự nhiên
của con người từ thuở ẩu thơ. Nhưng tái hiện những điều đã quan sát và cảm
nhận ẩy lại là chuyện không đơn giản, nhất là khỉ phương tiện để tái hiện chỉ là
Để hiểu sâu hơn, kỹ lưỡng hơn về kỹ năng quan sát người viết đã đọc, tìm
hiểu, nghiên cứu hai tài liệu quan trọng
a. Một số kinh nghiệm viết văn miêu tả (Tô Hoài) tái bản lần thứ tư
b. Văn miêu tả và kể chuyện (Vũ Tú Nam - Phạm Hổ - Bùi Hiên - Nguyễn
Quang Sáng) tái bản lần thứ năm.
Trong hai cuốn sách này, các tác giả đã kể, đã tâm sự rất chân thành những
kinh nghiệm về việc quan sát trong văn miêu tả. Có thể nói, trong đời viết văn
của mình, mỗi nhà văn đều có cách nhìn, cách nghĩ, cách nói riêng không ai
giống ai. Nhà văn nào cũng trải qua một quá trình miệt mài luyện tập “Muốn
miêu tả hay, phải tập quan sát, phải có công quan sát”.
2.2.về các tài liệu nói về quan sát và văn miêu tả trong nhà trường
a. Văn miêu tả trong nhà trường phổ thông (Đỗ Ngọc Thống - Phạm Minh
Diệu)
7
b. Bí quyết giỏi văn (Vũ Ngọc Khanh)
c. Tiếng Việt lý thủ (Trịnh Mạnh)
d. Trắc nghiệm năng lực quan sát (Quách Thu Nguyệt - Gia Tú cầu)
Tất cả đều khẳng định năng lực quan sát của con người: “Người có khả
năng quan sát tỉnh tể, nhạy bén, khỉ nhìn sự vật sẽ có ẩn tượng sâu sẳc về hình
dáng, màu sẳc, mùi vị, âm thanh, cảm giác, trạng thái và sự cẩu tạo hoàn chỉnh
của sự vật ẩy và trong đầu sẽ nảy sinh khả năng miêu tả một cách chính xác sự
vật ẩy ’’
Năng lực quan sát là năng lực cơ bản, quan trọng nhất trong các hoạt động
tinh thần và trí tuệ của con người. Nếu không có năng lực quan sát chính xác thì
không thể có cách suy nghĩ chính xác được.
Quan sát để phát hiện những bí mật của thế giới xung quanh, cũng giống
quan sát bề mặt mà còn quan sát cả “bên trong” tức ý nghĩa tinh thần cua sự vật,
không phải chỉ là cảm giác, tri giác đơn thuần mà còn gắn liền với suy nghĩ, cảm
xúc...
Đề tài của chúng tôi đi theo hướng xây dựng hệ thống bài tập rèn năng lực
quan sát để bồi dưỡng vốn sống, vốn hiểu biết cho học sinh, để các em có nội
dung, có ngôn từ biểu đạt và có hứng thú khi làm văn miêu tả. Điểm các công
trình nghiên cứu đi trước, chúng tôi thấy hướng đi của luận văn vẫn là một
khoảng trống còn để ngỏ.
3. Mục đích nghiên cứu
-
Góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học.
-
Trên cơ cở đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học và mục tiêu môn
Tiếng Việt, xây dựng hệ thống bài tập giúp các em rèn kỹ năng quan sát
nhằm nâng cao vốn sống, vốn hiểu biết đồng thời bồi dưỡng kỹ năng
sống thực tế cho trẻ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động dạy học rèn kỹ năng
9
quan sát cho học sinh ở Tiểu học.
-
dựng bài tập rèn kỹ năng quan sát cho học sinh
-
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra, thống kê, so sánh, đối chiếu dùng để đánh giá
phương pháp dạy học, cách tổ chức giờ dạy, kết quả học Tiếng Việt trong tiết
quan sát. Đánh giá khả năng, sự năng động, sáng tạo của học sinh. Trên cơ sở đó
tìm biện pháp nâng cao kỹ năng quan sát để làm văn miêu tả cho học sinh, vừa
đảm bảo tính khoa học, vừa đảm bảo giá trị thực tiễn.
-
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Nhằm khẳng định tính khả thi của quá trình vận dụng các bài tập rèn kỹ
năng quan sát để tăng cường vốn sống, vốn hiểu biết cho học sinh.
1
0
7. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống bài tập thì quan sát sẽ trở thành thói quen,
giúp các em biết xác định mục tiêu, nhiệm vụ, cách thức, trình tự quan sát; biết
quan sát là thể hiện tình yêu thiên nhiên, môi trường, tạo vật, quan sát là khám
phá, phát hiện cái đẹp, cái mới, cái lạ, cái đáng yêu, từ đối tượng; quan sát là thể
hiện tình yêu và trách nhiệm trước cuộc sống, trân trọng những gì tồn tại quanh
mình thì các em sẽ tự bồi dưỡng vốn sống, vốn hiểu biết của mình, nâng cao kỹ
năng sống, cảm nhận cuộc sống và nâng cao kết quả học môn Tiếng Việt.
8. Đóng góp của luận văn
1
1
CHƯƠNG 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TIỄN
1.1.
Cơ sở lý luận
1.1.1.
Hoạt động quan sát
1.1.1.1.
Định nghĩa
Quan sát là một hoạt động của trí tuệ và diễn ra theo một quá trình, kỹ
năng quan sát rất quan trọng đối với con người trong cuộc sống, dưới đây là
một số quan niệm về quan sát:
• Quan sát đòi hỏi sự chú ý và nhận thức của người quan sát. Quan sát luôn
có chủ ý, và bị ảnh hưởng bởi những giả định.
• Người quan sát tiến hành quan sát có mục đích và đôi khi đối tượng được
quan sát cũng có mục đích.
• Khi ai đó quan sát một sự kiện hay quan sát các cá nhân trong sự kiện đó,
người này cũng tham gia ở một mức độ nhất định vào sự kiện đó: vào
trước, trong và sau sự kiện đó.
• Quan sát bổ sung cho lắng nghe trong việc tiếp nhận thông tin từ bên
ngoài. Quan sát là một hình thức khác của lắng nghe.
tiếng Việt. Cuộc sống là kho nghĩa của ngôn từ tiếng Việt.
1.1.13. Quan sát trong văn miêu tả ở tiếu học
a. Ở tiểu học, quan sát gắn liền với văn miêu tả
Trong chương trình Tiếng Việt tiểu học, học sinh được rèn kỹ năng quan sát
tranh trong Luyện từ và câu để HS có ý thức về từ và nghĩa của từ, quan sát
tranh trong kể chuyện để nhớ lại từng đoạn của câu chuyện và thực hiện nhiệm
vụ kể chuyện theo tranh. Quan sát trong văn bản và quan sát thực tế gắn liền
với văn miêu tả, để dạy HS lý thuyết văn miêu tả và thực hành viết văn miêu tả.
Như vậy là hoạt động quan sát còn ít được rèn ở tiểu học và chưa được khai
thác những giá trị to lớn của quan sát
Nhiệm vụ dạy học Tiếng Việt là rèn 4 kỹ năng: Nghe, đọc, nói, viết, trong đó,
nghe và đọc là kỹ năng để tiệp nhận thông tin, giúp cho con người có thêm hiểu
biết. Nhưng kênh tiếp nhận này chỉ giới hạn trong phạm vi ngôn ngữ: lời nói
(nghe), chữ viết (đọc). Quan sát cũng giúp con người tiếp nhận thông tin, tăng
cường hiểu biết, nhưng phạm vi và đối tượng của quan sát rông lớn, phong phú
hơn nhiều so với đọc và nghe. Tất cả những gì đang tồn tại quanh ta, tất cả
những gì ta đang nhìn thấy, nghe thấy trong cuộc sống, trong văn bản thơ
truyện, trong tranh, trong các phương tiện truyền thông... đều là đối tượng của
quan sát. Quan sát là công việc diễn ra hàng ngày hàng giờ đối với mỗi con
người. Từ quan sát, chúng ta biết thêm được biết bao nhiêu điều mới mẻ, bổ
ích. Nhưng không phải cứ nhìn, nghe là biết, là tích lũy được vốn hiểu biết.
Kinh nghiệm của các nhà văn là khi quan sát, nếu chỉ thấy những gì trược mắt
là chưa đủ, phải biết khám phá, tìm tòi, suy ngẫm thì mới hiểu và mới học hỏi
được một điều gì đó bổ ích. Quan sát khu ruộng bậc thang ở miền núi, thấy đẹp,
nên thơ là chưa đủ, phải nghĩ đến công lao của con người, nghĩ đến giá trị của
mỗi hạt lúa được làm ra từ những ruộng bậc thang đó. Bởi vậy, quan sát theo
đúng nghĩa của nó là phải được rèn, phải học. Trẻ em tuổi tiểu học có khả năng
và thói quen quan sát tốt, vì các em rất tò mò, hiếu động, ham hiểu biết, nhưng
phân hoá để tìm tòi, khám phá. Quá trình tri giác này mang tính chất của sự
quan sát có tổ chức. Đây sẽ là cơ sở cho việc rèn luyện kĩ năng quan sát nhằm
góp phần tăng vốn sống vốn hiểu biết và nâng cao chất lượng bài làm văn MT
của các em.
Muốn HS làm tốt bài văn MT không có cách nào hiệu quả hơn là việc cho
HS trực tiếp tiếp xúc, quan sát trực tiếp các đối tượng cần MT để nắm bắt được
các tính chất cơ bản của chúng sau đó viết lại thành một bài văn sinh động,
mang đậm cách nghĩ, cách cảm của mỗi cá nhân HS. Chính vì điều này mà khi
làm văn, một HS đã tả “một đêm trăng đẹp” như sau: em bước ra sân để thắp
hương giao thừa, ánh trăng tròn vằng vặc soi rõ khu tập thể làm những chiếc lá
sáng lên loang loáng,.... Mới đọc qua, câu văn có vẻ suôn sẻ, nhưng nó hoàn
toàn không chính xác so với thực tế. Đêm giao thừa làm gì có trăng? Ta dễ nhận
ra rằng em HS này hình như chưa một lần ngắm (quan sát) trăng thực sự mà chỉ
tưởng tượng ra rồi viết. Thế là sai. Vai trò quan trọng của kĩ năng quan sát là
như vậy!
Học tập làm văn MT , học sinh phải được rèn kĩ năng quan sát có tổ chức.
Khi được hình thành và rèn luyện kĩ năng quan sát có tổ chức sẽ giúp HS phát
triển vốn sống, vốn hiểu biết, tăng cường khả năng MT , hỗ trọ trong học tập
cũng như trong cuộc sống.
Đe có kĩ năng quan sát nhằm vận dụng vào làm bài văn MT các em phải
có những hiểu biết phong phú, rộng rãi và cụ thể, sâu sắc về thế giới hiện thực.
Trong khi đó, đặc điểm nhận thức của HS tiểu học về các đối tượng khách quan
còn khá nhiều hạn chế. Vì vậy, GV phải giúp cho HS trau dồi vốn sống, hướng
dẫn các em cách thu thập vốn sống, đồng thời phải giúp các em biết thể hiện
chân thực những quan sát và những suy nghĩ, tình cảm riêng của mình khi MT.
Quan sát là phải dùng các giác quan để thu nhận thông tin từ đối tượng quan
sát, hiểu biết kỹ về đối tượng quan sát. Đối tượng quan sát mà HS tiểu học phải
nhận thức được cụ thể để phục vụ cho làm văn miêu tả gồm: đồ vật, cây cối,
Phải thấy giá trị của đối tượng quan sát trong mối quan hệ với con người,
với xã hội, với cuộc sống
Muốn làm văn miêu tả, việc đầu tiên là phải tập quan sát. Phải biết
nhìn nhận những sự việc diễn ra xung quanh mình để mô tả cho thật
đúng và thật sinh động. Các nhà văn hiện thực cho ta những kinh
nghiệm tốt về cách mô tả trên cơ sở khả năng quan sát này. Gọi là
văn miêu tả chính là ở chỗ nhìn nhận
được các đối tượng miêu tả nhìn từ những đường nét, màu sắc cho đến những
cử chỉ, động tác và cả sự diễn biến, phát triển của những động tác ấy.
Nói quan sát không phải chỉ có quan sát cảnh vật, hiện tượng mà còn miêu
tả tâm lý nữa. Quan sát không chỉ quan tâm đến màu sắc hình ảnh, bóng dáng
của sự vật ngoài đời là chưa đủ mà phải chú ý đến diễn biến tâm lý bên trong.
Theo Vũ Tú Nam: “Quan sát, tất nhiên là hết sức quan trọng và cần thiết.
Nhưng bản thân người quan sát phải là cây ăng - ten nhạy cảm theo định
hướng yêu cái đẹp, trọng sự thật và quỷ điều thiện thì quan sát mới có hiệu
quả, mới bẳt được những làn sóng tốt lành ’’
Khi quan sát các đối tượng khác nhau (đồ vật, loài cây, cây cối, thiên
nhiên, con người, cảnh sinh hoạt) cần tìm ra những điểm riêng biệt của từng đối
tượng miêu tả nó, nhận ra những nét độc đáo, đặc biệt của đối tượng chứ không
phải nhằm thống kê tỉ mỉ trung thực mọi chi tiết về sự vật. Quan sát để miêu tả
phải luôn gắn với cảm xúc, với kỷ niệm, với cuộc sống cá nhân của người quan
sát và gắn liền với việc tìm từ ngữ để diễn tả đúng và sinh động điều đã quan
sát được. Muốn miêu tả tốt cần phải quan sát, chọn ý rồi lập dàn ý để khi viết
phải cô đọng, đầy đủ các chi tiết, diễn đạt với ngôn từ phải chính xác, chân
thực, ít lời, nhiều ý, phải có tính biểu cảm và giàu hình tượng cũng như nhà văn
Phạm Hổ đã nói: “Tiêu chuẩn nghệ thuật đời nào cũng giống nhau nói ít mà
Dù quan sát theo trình tự nào cũng cần biết dừng lại ở bộ phận chủ yếu, trọng
tâm để quan sát kỹ lưỡng
1.1.1.5. Khái quát quy trình hưởng dẫn học sinh thực hiện nhiệm vụ quan sát
• Trước sự kiện:
Người quan sát xác định mục tiêu quan sát và lí do tiến hành quan sát, và có
thể đặt ra các tiêu chí quan sát.
■ Trong sự kiện diễn ra:
Người quan sát chăm chú theo dõi các hoạt động diễn ra và cách thức diễn ra
(diễn ra như thế nào) và lưu các thông tin trong đầu hay bằng cách ghi chép.
■ Sau sự kiện diễn ra:
Người quan sát sử dụng các thông tin lưu lại để hoàn tất quá trình quan sát đã
chủ định. Người quan sát dùng thông tin thu được để phân tích những gì rút
ra từ sự quan sát.
Khi quan sát, HS nên tiếp xúc trực tiếp với đối tượng được miêu tả, vận dụng
nhiều giác quan để quan sát.
- HS phải quan sát nhiều lần, quan sát tỷ mỉ ở nhiều góc độ, nhiều khía cạnh.
- Khi quan sát HS phải tìm ra những nét chính (nét trọng tâm) của đối tượng,
sẵn sàng bỏ đi những nét thừa làm cho bài văn lạc xa ý chính.
- HS cần phải tìm ra những nét tiêu biểu, đặc sắc của đối tượng. Phải bộc lộ
được cảm xúc yêu quý của mình trước đối tượng quan sát.
HS phải tìm cho được những từ ngữ chính xác, những câu văn gãy ngọn để
ghi lại những điều quan sát được (quan sát thấy gì ghi đúng thế ấy, quan sát đến
đâu ghi luôn đến đó) trình bày theo trình tự miêu tả. )
1.1.2 Vắn sắng, vắn hiểu biết của học sinh tiểu học
Khái niệm vốn sống, vốn hiểu biết
vốn sống là kho kinh nghiệm quý báu về cuộc sống của mỗi con người. Nó
được tích luỹ, trải nghiệm và chiêm nghiệm sâu sắc; biến thành lẽ sống, thành
máu thịt trong tâm hồn, thành quan niệm đối nhân xử thế trong cuộc sống.
cho trẻ biết liên hệ theo sự gần gũi không gian, sự đồng dạng, theo môi trường
tồn tại, hoặc theo quan hệ nhân quả
Mỗi văn bản TLV mà HS sản sinh được (ở hình thức nói hay viết) đều
thể hiện rất rõ vốn thực tế của HS. Do đó GV phải tổ chức tốt các tiết hoạt động
ngoại khoá, các tiết học dành cho địa phương ở các môn Đạo đức,TN&XH ...
sinh hoạt Đội thiếu niên, sao nhi đồng, các hoạt động văn hoá, TDTT, các
phương tiện thông tin chương trình phát thanh học đường, đọc sách báo ở thư
viện, truyền thanh, truyền hình, các tiết chào cờ hàng tuần .... cho tất cả HS được
tham gia để các em có cơ hội tích luỹ kinh nghiệm sống và vận dụng khi làm
văn.
Ví dụ: HS được đi tham quan: Danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử , được
nghe GV giới thiệu về phong tục của địa phương, qua ti vi... giúp các em có kỹ
năng quan sát, hiểu biết sâu sắc về cuộc sống đó là các kiến thức để học tốt các
tiết TLV trao đổi ý kiến, giới thiệu hoạt động...
1.1.3. Kỹ năng và hệ thắng bài tập rèn kỹ năng
1.1.3.1.
Khái niệm kỹ năng
Kỹ năng là khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi
hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả
mong đợi.
1.1.3.2.
Moi quan hệ kỹ năng với hoạt động, kỹ năng với năng
lực + Mối quan hệ kỹ năng với hoạt động:
Theo tâm lí học hoạt động là quá trình tác động tích của con người vào
thế giới khách quan, kết quả tạo ra sản phẩm về phía thế giới và tạo ra sản phẩm
về phía con người. Vậy hoạt động và kỹ năng giống nhau ở chỗ cùng có mục
. ở tiểu học, PPDH tích cực đặt ra yêu cầu, các bài học, dù dạy nội dung lý thuyết
hay thực hành, đều thông qua bài tập. Học sinh phải tự tìm ra kiến thức cho
mình, thông qua bài tập, tức là thông qua sự hướng dẫn của GV. Trong các bài
học thực hành rèn luyện kĩ năng, bài tập được coi là phưong tiện không thể thiếu,
có vai trò hết sức quan trọng.
Bài tập rèn kỹ năng được coi như là một trong những đon vị nội dung định
hướng cho việc dạy học tiếng Việt. Thông qua việc thiết kế bài tập và hướng dẫn
học sinh làm bài tập của GV, quá trình làm bài tập của HS, GV có thể kiểm tra
kết quả hoạt động dạy của mình, HS củng cố được những tri thức kỹ năng cần
tiếp nhận và nắm vững các kĩ năng đó.
1.1.3.4 Hệ thống bài tập rèn kỹ năng
Trong cuốn “Từ điển Từ và Ngữ Hán Việt”, khái niệm hệ thống được hiểu
là: tập họp những bộ phận có liên hệ chặt chẽ với nhau, theo thứ tự, sắp xếp có
quy củ và liên tục. Bản chất cốt lõi của khái niệm hệ thống được thể hiện ở hai
khía cạnh, thứ nhất là mối quan hệ nội tại có tính logich rất rõ của từng thành tố
riêng biệt với những thành tố khác trong một dãy các thành tố, thứ hai là tính
chất tổng thể, hợp thành của một đối tượng từ những thành tố cùng loại hay có
cùng chức năng.
Như vậy, hệ thống có thể được hiểu là tập hợp những thành tố có liên hệ,
quan hệ với nhau, tác động lẫn nhau, tạo nên một chỉnh thể mới. Hệ thống bài tập
là một tập hợp với nhiều bài tập khác nhau, được xếp thành các nhóm (trong mỗi
nhóm có thể có những nhóm nhỏ hon) theo một trình tự, nhằm thực hiện những
chủ đích chung. Thông thường, để đảm bảo tính khoa học về quá trình nhận thức
của người học, hệ thống bài tập được sắp xếp theo trình tự từ dễ đến khó, từ đơn
giản đến phức tạp, từ kiến thức đơn lẻ đến những kiến thức tổng họp, nhằm rèn
luyện, phát triển những kỹ năng cụ thể cho người học. Trong dạy học, muốn phát
triển một kỹ năng cho HS, người dạy phải xây dựng được hệ thống hành động,
cách thức thực hiện hành động, và các tình huống trong thực tế để HS thực hành,