LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự
hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác. Trong
suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập tại trường đến nay, em đã nhận được rất
nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy, Cô. Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em
xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy, Cô ở khoa Du lịch – Trường Đại
học Công Nghiệp Hà Nội đã mang tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt
vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường và
đặc biệt, trong học kỳ này. Nếu không có những lời hướng dẫn, dạy bảo của các
thầy cô thì khóa luận của em rất khó có thể hoàn thiện được.
Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với cán bộ
hướng dẫn trực tiếp em trong bài luận văn – Th.S Nguyễn Thị Tuyến đã nhiệt
tình hướng dẫn em hoàn thành tốt nhất khóa luận của mình. Cảm ơn cô vì những
lời động viên, lời khen, những lời chê cho tới những lời phê bình nghiêm khắc
nhất. Đó là những bài học đắt giá nhất tiếp sức cho em trong những hành trang
mới của cuộc đời!.
Trong quá trình nghiên cứu và xây dựng khóa luận tốt nghiệp em cũng xin
được cảm ơn ban lãnh đạo UBND thị xã Bỉm Sơn và ban quản lý khu di tích đền
Sòng đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành tốt khóa luận của mình. Trong quá
trình hoàn thiện khóa luận khó tránh khỏi sai sót, đồng thời do trình độ lý luận
cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên khóa luận không thể tránh khỏi
những thiếu sót, em rất mong các Thầy, Cô bỏ qua và nhận được ý kiến đóng
góp từ Thầy, Cô để em được học hỏi thêm kinh nghiệm cho những công trình
nghiên cứu về sau.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, ngày...tháng...năm 2016
Sinh viên
Ngô Văn Tiến
1
Tiểu kết chương 3................................................................................................................. 61
KẾT LUẬN............................................................................................................................. 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................................... 63
PHỤ LỤC 1........................................................................................................................... 63
PHỤ LỤC 2........................................................................................................................... 68
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ LỄ HỘI ĐỀN SÒNG.......................................................................71
2
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Cơ cấu kinh tế thị xã Bỉm Sơn năm 2015.
Bảng 2.2. Điều du khách không hài lòng khi đến đền Sòng.
Bảng 2.3. Mức độ tham gia hoạt động du lịch của người dân T.x Bỉm Sơn.
Bảng 2.4. Mục đích của khách Nội khi đến với đền Sòng.
Bảng 2.5. Doanh thu từ du lịch của đền Sòng trong giai đoạn 2013 – 2015.
Bảng 2.6. Số lượng khách đến với đền Sòng trong giai đoạn 2013 – 2015.
Bảng 2.7. Tour Đền Sòng – Đền Bà Triệu – Sầm Sơn – khu di tích Lam Kinh.
Bảng 2.8. Tour đền Chín Giếng – đền Sòng – động Từ Thức – Làng Chiếu Nga
Sơn.
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ
Hình
Hình
Hình
Hình
Hình
Hình
Hình
2.1. Cơ cấu kinh tế thị xã Bỉm Sơn năm 2015.
2
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của khóa luận tốt nghiệp.
Việt Nam là quốc gia được đánh giá có tiềm năng du lịch to lớn không chỉ
bởi trời phú cho hệ thống cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, sơn thủy hữu tình mà
còn bởi vốn văn hóa tinh thần vừa đa dạng, phong phú, vừa độc đáo và mang
nhiều bản sắc. Một trong những khía cạnh văn hóa Việt Nam là đời sống văn
hóa tâm linh của con người Việt Nam. Nó tạo nên những giá trị nhân văn ở tín
ngưỡng đa thần, ở phong tục trảy hội, lễ chùa khi xuân sang, tết đến, ở hệ thống
công trình kiến trúc đình, đền, chùa, lăng tẩm, miếu mạo khắp nơi trên cả nước
và có lịch sử ngàn đời. Đến các đình, đền, chùa trên đất nước Việt Nam, du
khách sẽ cảm nhận ngay được con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam ở góc độ
linh thiêng nhất, đậm đà bản sắc nhất. Bởi vậy, hệ thống các công trình kiến trúc
tâm linh được coi là tiềm năng du lịch văn hóa vật thể cần được quan tâm và
khai thác.
Tại Việt Nam, khái niệm du lịch tâm linh vẫn còn khá xa lạ. Các địa điểm
du lịch tâm linh nổi tiếng cả nước có thể kể tên như: Đền Hùng (Phú Thọ), Yên
Tử (Quảng Ninh), chùa Bái Đính (Ninh Bình), Phủ Giầy (Nam Định), chùa Từ
Đàm (Huế)… Cả nước hiện có hơn 44.000 địa danh, danh thắng và di tích lịch
sử, trong đó hơn một nửa là nơi có thể khai thác mô hình du lịch tâm linh.
Nếu như du lịch tâm linh ở các nước trên thế giới gắn liền với du lịch tôn
giáo thì ở Việt Nam, du lịch tâm linh hướng về cội nguồn, về lịch sử thờ cúng tổ
tiên. Tục thờ cúng tổ tiên vốn có từ lâu đời, đặc biệt trong những năm gần đây,
chùa chiền, đền, miếu là tâm điểm thu hút khách hành hương và du khách nước
ngoài. Mặc dù chưa có khái niệm du lịch tâm linh nhưng đối với nhiều người
Việt Nam, việc đi lễ chùa như một thói quen để thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng,
với mong muốn những điều tốt đẹp cho gia đình.
quân Thanh. Trong dân gian còn có câu:
“Đền Sòng thiêng nhất xứ Thanh”
hay:
“Nhất vui là hội Phủ Giày
Vui là vui vậy, không tày Sòng Sơn”
2
Tuy nhiên, việc khai thác tiềm năng của các khu di tích và việc thu hút
khách và nâng cao giá trị cho các khu di tích này hiện nay chưa đáp ứng được
thực tế phát triển và đang đặt ra nhiều vấn đề đáng phân tích, đánh giá để đưa ra
những giải pháp cho những vấn đề cấp bách cho tương lai lâu dài trong sự phát
triển du lịch của thị xã nói riêng và toàn thể tỉnh Thanh Hóa nói riêng.
Xuất phát từ lòng yêu mến quê hương, muốn vận dụng những kiến thức đã
học để phục vụ cho chính mảnh đất quê mình, người viết quyết định lựa chọn
đề tài “Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch tâm linh tại đền Sòng, thị xã
Bỉm Sơn, Thanh Hóa” làm đề tài nghiên cứu của mình, từ đó qua bài nghiên cứu
sẽ mang hình ảnh của đền Sòng đến gần hơn khách du lịch trong và ngoài nước.
2. Mục đích nghiên cứu.
- Tìm hiểu tài nguyên du lịch tâm linh và thực trạng khai thác du lịch tâm
linh của đền Sòng, thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa.
- Đề xuất giải pháp và kiến nghị để nâng cao hiệu quả của hoạt động du
lịch, khai thác có hiệu quả các tiềm năng du lịch tại đền Sòng, T.X Bỉm Sơn,
Thanh Hóa, đặc biệt chú trọng vào khai thác các giá trị tâm linh, tín ngưỡng của
khu di tích và của toàn thể địa phương.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động du lịch tâm linh.
- Khách thể nghiên cứu: Thị xã Bỉm Sơn và một số huyện lân cận.
6. Phương pháp nghiên cứu.
Trong khóa luận tác giả đã sử dụng những phương pháp sau đây để xây
dựng và hoàn thiện công trình nghiên cứu của mình.
Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu.
Phương pháp xử lí số liệu một cách nhanh và chính xác nhất trên cơ sở của
các đề tài nghiên cứu khác. Phương pháp giúp tránh việc nghiên cứu lại và tiết
kiệm được thời gian nghiên cứu.
Phương pháp phân tích tổng hợp.
Phương pháp giúp cho tác giả tổng hợp lại kết quả nghiên cứu từ các dữ
liệu và tìm liệu đã được phân tích, từ đó đánh giá được vấn đề nghiên cứu một
cách sâu sắc và toàn diện nhất.
Phương pháp điều tra xã hội học.
Phương pháp điều tra xã hội học giúp cho tác giả tổng hợp lại ý kiến, nhận
định, mong muốn của dân cư địa phương và khách du lịch khi đến tham quan
khu di tích đền Sòng.
Phương pháp khảo sát thực địa.
2
Phương pháp khảo sát thực địa giúp cho tác giả so sánh số liệu trên các bài
nghiên cứu với thực tế, từ đó rút ra được những đánh giá và kết quả nghiên cứu
chính xác nhất cho bài nghiên cứu.
7. Ý nghĩa của khóa luận tốt nghiệp.
Ý nghĩa khoa học:
Bài nghiên cứu sẽ tổng hợp, hệ thống hóa các lý luận về du lịch tâm linh và
hoạt động du lịch tâm linh. Đây là tài liệu, là cơ sở tham khảo, vận dụng đối với
các đề tài khoa học nghiên cứu có liên quan.
Ý nghĩa thực tiễn:
Đóng góp làm tài liệu tham khảo thiết thực và hữu ích để giúp các nhà quản
Sòng được tác giả trình bày rất chi tiết.
- “Đền Sòng với huyền thoại Liễu Hạnh công chúa” của Đặng Anh, nhà
xuất bản Thanh Hóa năm 2004. Qua cuốn sách, nhà nghiên cứu Đặng Anh đã
miêu tả rất chân thực hình tượng của công chúa Liễu Hạnh từ khi bà giáng trần
cho tới khi bà hóa tại phủ Tây Hồ. Những giai thoại gắn liền với bà đã được
lồng ghép tinh thế vài trong bài nghiên cứu và làm nổi bật lên Đạo thờ Mẫu ở
đền Sòng.
- Nghiên cứu văn hóa dân gian: “Bước đầu tìm hiểu về những vị Thần
được tôn thờ ở Thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa” – công trình nghiên cứu của Hội
Người cao tuổi thị xã Bỉm Sơn. Công trình này đã nghiên cứu và đứa ra rất chi
tiết những dẫn chứng, chứng cứ xác thực nhất về sự hiện hữu của những vị Thần
đã từng ngự trị tại Vùng thị xã và đặc biệt là đền ở Sòng.
- “Dự thảo nhiệm vụ quy hoạch chi tiết khu lễ hội đền Sòng – đền chín
Giếng” và “ Quy hoạch chi tiết xây dựng điểm du lịch văn hóa tâm linh tại đền
đền Sòng – đền chín Giếng” của UBND thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Qua
hai công trình dự thảo và quy hoạch khu di tích đền Sòng – đền Chín Giếng, ban
quản lý di tích, UBND thị xã đã đề ra những định hướng, những giải pháp mới
2
để nâng cao chất lượng du lịch và thu hút khách du lịch đến với Đền trong giai
đoạn 2016 – 2020.
Các công trình nghiên cứu tiêu biểu trên là những tài liệu chính thống mà
tác giả đã tham khảo để xây dựng và viết bài luận của mình. Để làm sáng tỏ
những vấn đề về tâm linh và văn hóa tâm linh, tác giả đã sử dụng một số khái
niệm công cụ để phân tích các vấn đề liên quan tới văn hóa tâm linh tại đền
Sòng, lấy đó làm nền tảng nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng văn hóa
tâm linh tại đền Sòng.
1.2. Những vấn đề về văn hóa tâm linh.
hoá theo nghĩa rộng, Người đã xem văn hoá là thế giới giá trị, tức là tất cả
những gì của con người, do con người và vì con người.
Như vậy, việc xem văn hoá là giá trị vật chất và tinh thần kết tinh năng lực
bản chất của con người khắc phục được quan niệm đối lập tuyệt đối giữa xã hội
với tự nhiên và quan niệm đồng nhất giữa văn hoá với xã hội. Đồng thời, nó bao
hàm ý nghĩa rằng, văn hoá không phải là cái tồn tại một cách cô lập với con
người mà luôn trong mối quan hệ hữu cơ với con người, do con người sáng tạo
ra và đến lượt nó lại có tác dụng hoàn thiện, hoàn mỹ con người – xã hội.
Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng: tức tất cả những gì phi tự nhiên là văn hóa,
thì nó vừa giá trị, vừa lại phản giá trị.
Văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp: chỉ là giá trị mà thôi.
Từ những giá trị đó mà sau này khi nghiên cứu về duy tâm các nhà nghiên
cứu đã đưa ra một thuật ngữ mới đó là: “văn hóa tâm linh” – giá trị về tâm linh
trong nét đẹp văn hóa.
Thuật ngữ “văn hóa tâm linh” được dùng là theo nghĩa hẹp.
1.2.2. Tâm linh.
1.2.2.1. Khái niệm.
Trước đây, nói đến tâm linh là người ta nghĩ ngay đến tín ngưỡng và tôn
giáo, và đồng nhất nó với tín ngưỡng và tôn giáo. Thực ra, khái niệm tâm linh
vừa hẹp hơn nhưng lại vừa rộng hơn khái niệm tín ngưỡng tôn giáo.
Hẹp hơn vì:
Ở tín ngưỡng tôn giáo ngoài phần tâm linh ra còn có phần mê tín dị đoan và
sự cuồng tín tôn giáo. Bởi đó vừa là một lĩnh vực của đời sống tinh thần vừa là
một thiết chế xã hội, mà đã là thiết chế xã hội thì không tránh khỏi sự thế tục
hóa, sự tha hóa do việc lợi dụng của giai cấp thống trị.
2
Rộng hơn vì:
Tâm linh gắn liền với những khái niệm cái thiêng liêng, cái cao cả, cái siêu
Và cụ thể hơn chính là sự ngưỡng vọng của họ về những biểu tượng, hình ảnh
thiêng liêng”.
1.2.2.2. Đặc điểm của tâm linh.
Gắn với những nét đẹp văn hóa nên tâm linh mang nhiều nét độc đáo, nhiều
hình thức và nhiều đặc điểm. Dưới đây là các đặc điểm nổi bật của tâm linh:
Thứ nhất
Tâm linh là một hình thái ý thức, tâm linh gắn liền với ý thức của con
người. Do vậy điều kiện để tồn tại tâm linh là sự có mặt của ý thức con người.
Điều đó đồng nghĩa với việc một người mất trí không còn khả năng suy nghĩ thì
trong đầu người đó sẽ trống rỗng và không có tâm linh.
Thứ hai
Tâm linh là phần thiêng liêng trong ý thức của mỗi con người. Ý thức của
con người thì rất đa dạng như ý thức về toán học, ý thức về văn học, ý thức về
cộng đồng... Trong đó, ý thức tâm linh là ý thức hướng về cái thiêng liêng cao
cả.
Thứ ba
Tâm linh có sức truyền cảm truyền lệnh, tập hợp ghê gớm. Do con người
có tâm lý tự nhiên là khi đời sống được yên bình mạnh khỏe, ăn nên làm gia,
hoặc được cứu thoát khỏi cơn hoạn nạn, nguy hiểm, thì nảy sinh ý thức hướng,
nhớ về cội nguồn, biết ơn những cái cao cả đã cho mình, cứu mình. Ý thức biết
ơn này có sức hút tự nguyện rất lớn, không gì có thể ngăn cản.
Như vậy, tâm linh do các tác giả quan niệm đều thể hiện nó gắn với con
người, ở trong con người. Vì vậy, trong mọi mặt đời sống của con người đều tồn
tại tâm linh và có thể nhóm thành hai loại là tâm linh trong cuộc sống đời
thường và tâm linh trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo.
1.2.2.3. Hình thức của tâm linh.
- Tâm linh trong đời sống cá nhân:
Trong đời sống cá nhân của những người theo tôn giáo thì suốt đời họ chỉ
mang niềm tin thiêng liêng vào Chúa và Phật. Trong họ lúc nào cũng thường
thị khía cạnh thiêng liêng nhất trong bản sắc văn hóa xóm làng, cũng là văn hóa
dân tộc. Những biểu tượng, những mối quan hệ cộng đồng thiêng liêng ấy, là cơ
sở, là động lực, là niềm tin để dân ta trụ vững, phát triển cho đến ngày nay.
1
- Tâm linh với Tổ quốc giang sơn đất nước:
Ngày nay mỗi cuộc lễ nghi, cuộc hội nghị ta kiến lập bàn thờ Tổ quốc. Gần
mới đây trong đánh Mỹ ta thường nói bằng cả sức mạnh bốn nghìn năm lịch sử,
sức mạnh truyền thống. Đó chẳng phải là vô hình trừu tượng mà là hình ảnh
thiêng liêng từ Hữu Nghị quan đến mũi Cà Mau. Là núi cao biển rộng sông dài.
Là cây đa bến nước, mái đình, những hình ảnh thiêng liêng về làng xóm. Là
những mảnh đất thiêng liêng Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, oai hùng còn đó.
Là hình ảnh Bác Hồ gần gũi thân thương vĩ đại. Là những tượng đài, nấm mộ
trong nghĩa trang lịch sử nhắc nhở. Là hình ảnh lá cờ thiêng liêng vẫy gọi...Từ
những hình ảnh biểu tượng thiêng liêng đó mà ngày xưa, ngày nay "chẳng kẻ thù
nào ngăn nổi bước ta đi". Làm sao đừng để kinh tế thị trường có đạo tặc bô hình
gặm nhấm dần làm mất đi những hình ảnh, biểu tượng thiêng liêng đó trong ý
thức con người hôm nay và các thế hệ tiếp theo.
- Tâm linh trong văn học nghệ thuật:
Tâm linh trong sáng tác văn học nghệ thuật là những hình ảnh, biểu tượng
thiêng liêng nào đó mà tác giả thể hiện được ra trong tác phẩm làm rung động
những trái tim, ngấn lệ những tâm hồn. Mà muốn được như vậy, nhà sáng tạo
nghệ thuật thực sự phải có đời sống tâm linh, cảm thụ đối tượng muốn sáng tạo
ra trong tác phẩm đến độ thiêng liêng nhất.
Sự thăng hoa trong niềm tin thiêng liêng về chúa về thần Phật đã để lại biết
bao giá trị kiến trúc nghệ thuật. Những ngôi nhà thờ Thiên chúa giáo ở Hy Lạp,
La Mã, nhà thờ Phát Diệm Ninh Bình, gác chuông chùa Keo khéo léo tuyệt vời
ở Thái Bình, các pho tượng Phật ở chùa Tây Phương Hà Tây.
1.3. Những vấn đề về du lịch tâm linh.
1.3.1. Quan niệm về du lịch.
Hiện nay cùng với sự phát triển của du lịch, khái niệm du lịch cũng được
hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy theo góc độ xem xét. Các khái niệm được
đưa ra theo hai góc độ chính là cầu – người đi du lịch và cung – kinh tế du lịch.
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, du lịch được hiểu theo hai khía
cạnh:
Thứ nhất, du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con
người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng
1
cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật. Theo nghĩa này, du lịch
được xem xét ở gốc độ cầu, góc độ người đi du lịch.
Thứ hai, du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về
nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa
dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước
ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh
doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và
dịch vụ tại chỗ. Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ một ngành kinh
tế.
Như vậy, du lịch hiểu theo khía cạnh nào thì nó đều hướng tới giá trị về
mặt tinh thần của người đi du lịch trên cơ sở đó mới nảy sinh hoạt động về kinh
tế.
1.3.2. Du lịch tâm linh.
1.3.2.1. Khái niệm.
Du lịch văn hóa tâm linh vốn là một thực thể đã có mặt hàng trăm năm nay
trên khắp thế giới. Xưa nay, mọi người vẫn quen dùng danh từ hành hương để
nói về chuyến đi của mình. Tuy nhiên khái niệm về du lịch tâm linh được định
hiểu đúng như sau:
1.3.2.2. Mục đích của du lịch tâm linh.
Các mục đích cụ thể của loại hình du lịch tâm linh là:
- Tham quan
Tham quan là hành vi giúp du khách quan sát, chiêm nghiệm, tìm hiểu về
đối tượng. Tham quan cũng là hoạt động quan trọng để du khách nâng cao hiểu
biết về thế giới xung quanh hay các điểm đến cụ thể. Trong loại hình du lịch văn
hóa tâm linh, du khách có thể trực tiếp chiêm nghiệm, tham quan, nghiên cứu
kiến trúc, mỹ thuật, cảnh quan, hệ thống tượng thờ, phù điêu, các di vật tại các
chùa chiền, đền miếu, nhà thờ, thánh thát, thánh địa,... Từ đó, họ có thể hiểu hơn
về những giá trị văn hóa đặc sắc liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, lịch sử,
nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, phong tục tập quán,...
Các đối tượng tham quan của du lịch văn hóa tâm linh không phụ thuộc vào
thời gian mà có thể tổ chức quanh năm ở khắp các tỉnh thành trong cả nước. Du
khách có tham gia vào chuyến hành trình vào bất cứ thời điểm nào họ mong
muốn.
1
- Nghỉ dưỡng
Với hoạt động nghỉ dưỡng, du khách có thể phục hồi sức khỏe sau những
ngày lao động vất vả cũng như nâng cao khả năng lao động của mình. Ngày nay,
nhu cầu đi nghỉ của con người ngày càng tăng do sức ép của công việc căng
thẳng, của môi trường ô nhiễm, của các quan hệ xã hội,... Đặc biệt, nhu cầu tăng
lên rõ rệt vào các ngày cuối tuần, các dịp nghỉ lễ. Điểm đến cho các chuyến nghỉ
dưỡng thường là những nơi có không khí trong lành, khí hậu dễ chịu, phong
cảnh ngoạn mục,...Ngoài ra, một số điểm đến có sự kết hợp giữa phong cảnh với
các di tích hay công trình kiến trúc tạo ra một không gian thanh tịnh, hữu tình
như Chùa Hương, Yên Tử, Tây Thiên, Sóc Sơn cũng có thể là nơi nghỉ dưỡng lý
tưởng. Trong thời gian nghỉ ngơi, du khách có thể kết hợp tham quan, tìm hiểu
các đối tượng gắn với di tích tôn giáo làm cho chuyến du lịch của mình thêm
*Di tích tôn giáo:
- Văn Miếu
Đây là công trình kiến trúc công cộng để thờ Khổng Tử và các bậc tiên
nho, tiên triết; ngoài ra còn bao gồm hệ thống các trường học, trường thi mà ở
đó diễn ra quá trình đào tạo và tuyển chọn nhân tài dưới các triều đại phong kiến
Việt Nam.
- Chùa
Chùa là nơi tập trung của các sư, tăng, sinh hoạt, tu hành và thuyết giảng
đạo Phật. Ở nơi này mọi người kể cả tín đồ hay người không theo đạo đều có thể
đến thăm viếng, nghe giảng kinh hay thực hành các nghi lễ tôn giáo. Hiện nay,
chùa trở thành điểm du lịch thu hút du khách.
Chùa từ lâu đã trở thành sản phẩm du lịch văn hóa của ngành du lịch. Tiềm
ẩn nhiều gá trị, ngôi chùa mang trong mình tính đa dạng về cảnh quan, kiến trúc,
trang trí, nội thất. Sự đa diện trong sinh hoạt văn hóa thông qua các lễ hội, sinh
hoạt của tăng chúng – phật tử, văn hóa ẩm thực,... phản ánh những ảnh hưởng
của giáo lý nhà Phật. Vì vậy, di sản văn hóa Phật giáo là một giá trị có khả năng
tạo nên những lực hút thúc đẩy du lịch phát triển, nhất là du lịch văn hóa tâm
linh.
Du khách đi du lịch đến các di tích Phật giáo như chùa tháp để thực hiện
những ý niệm thiêng liêng cũng như nâng cao hiểu biết về tôn giáo này thông
qua các đối tượng cụ thể như kiến trúc, điêu khắc, tượng thờ, di vật...
1
- Nhà thờ Kitô giáo
Nhà thờ Kitô giáo thường được gọi là thánh đường. Tùy theo tính chất,
điều kiện và đặc thù của các địa phương mà nhà thờ có nhiều cấp độ khác nhau.
Nhà thờ Kitô giáo được chia thành 4 hạng: nhà thờ chính tòa, nhà thờ chính xứ,
nhà thờ chính họ, nhà nguyện (chuyên đọc kinh trong đó, bao gồm nhà nguyện
công, nhà nguyện tư, nhà nguyện dòng).
và đại bái (thượng điện) nhưng với quy mô nhỏ. Hai bên tả hữu thường hẹp, có
đặt nhiều bàn thờ để người đến lễ bầy lễ vật dâng hương.
- Miếu
Miếu thường có ba loại. Miếu thờ thần tự nhiên: thần cây, thần đá, thần núi,
thần sông, thần giếng. Miếu thờ tổ ngành nghề, văn chỉ, văn miếu, thờ Khổng
Tử người lập ra Nho giáo, thờ các thầy dạy nho học. Võ miếu thờ quan võ. Y
miếu thờ ông tổ về y học. Tôn miếu, miếu thờ tổ tiên nhà vua thái miếu, thế
miếu. Thời phong kiến miếu còn là biểu tượng của về Tổ quốc, gọi tôn miếu.
- Phủ
Phủ là nơi thờ mẫu. Mẫu được tôn là các bà chúa, chúa sơn lâm, chúa Liễu
Hạnh. Chúa thì ở phủ, phủ chúa Trịnh, phủ chúa Nguyễn, còn đế vương thì ở
cung điện. Phủ xuất hiện muộn hơn, trước kia thờ mẫu cũng ở đền.
1.2.3.4. Khách du lịch của du lịch tâm linh.
Theo Luật du lịch: "Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du
lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi
đến." Quan niệm này nhận định khách du lịch ở góc độ mục đích về chuyến đi
của họ ở nơi đến nhưng chưa chỉ rõ thời gian và nơi đến của họ. .
Khách du lịch đề cập trong luận văn này được tiếp cận theo góc độ là khách
đến trong quan hệ với những cơ sở đón tiếp là các điểm du lịch văn hóa tâm
linh. Họ thường thực hiện chuyến đi trong ngày và không lưu lại qua đêm tại cơ
sở lưu trú của ngành du lịch.
Vì vậy, “Khách du lịch được khảo sát trong luận văn bao gồm khách Nội
địa và Quốc tế đến tham quan tại đền Sòng”.
1
Tiểu kết chương 1
Du lịch văn hóa tâm linh là loại hình du lịch dựa vào các loại tài nguyên
nhân văn: các di tích, lễ hội, các sự kiện...Dựa trên các nhu cầu của khách du
T.X BỈM SƠN – THANH HÓA.
2.1. Khái quát chung về du lịch ở T.X Bỉm Sơn – Thanh Hóa.
2.1.1. Điều kiện tự nhiên.
2.1.1.1. Vị trí địa lý, dân cư.
Thị xã Bỉm Sơn được thành lập ngày 18/12/1981 bao gồm Thị trấn Nông
trường Hà Trung và 2 xã Quang Trung và Hà Lan thuộc huyện Trung Sơn (nay
là Huyện Hà Trung – Thanh Hoá). Là đơn vị nằm ở vùng địa đầu tỉnh Thanh
Hoá và của cả miền Trung, Thị xã Bỉm Sơn cách thành phố Thanh Hoá 34 km
về phía Bắc, cách thủ đô Hà Nội 120 km về phía Nam. Có phía Bắc giáp tỉnh
Ninh Bình, phía Nam giáp huyện Hà Trung, phía Đông giáp huyện Nga Sơn,
phía Tây giáp huyện Thạch Thành (Tỉnh Thanh Hoá).
- Diện tích tự nhiên: 6.701 ha.
Đơn vị hành chính:
- Phường Ba Đình
- Phường Phú Sơn
- Phường Ngọc Trạo
- Xã Quang Trung
- Phường Bắc Sơn
- Xã Hà Lan
- Phường Lam Sơn
- Phường Đông Sơn
*Dân cư.
Theo số liệu điều tra của thị xã Bỉm Sơn, dân số trung bình là: 54.971
(người). Trình độ kinh tế, dân trí và trình độ văn hóa xã hội của cư dân phát triển