TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ KINH DOANH
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI
TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN – CHI NHÁNH HÀ NỘI
Họ và tên sinh viên
: NGUYỄN THỊ THU PHƯƠNG
MSV
: 0741270065
Lớp
: ĐH TCNH1 - K7
Giáo viên hướng dẫn
: Th.S Bùi Thị Hạnh
HÀ NỘI – 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHOA QUẢN LÝ KINH DOANH
Trường đại học công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
DANH MỤC VIẾT TẮT
SCB
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn
TMCP
Thương mại cổ phần
NHNN
Ngân hàng nhà nước
NHTW
Ngân hàng trung ương
NHCP
Ngân hàng cổ phần
CCTG
Chứng chỉ tiền gửi
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
STT
Bảng 2.1
Bảng 2.2
Bảng 2.3
Bảng 2.4
Bảng 2.5
Bảng 2.6
Bảng 2.7
Bảng 2.8
Bảng 2.9
Bảng 2.10
Bảng 2.11
Hình 2.1
Hình 2.2
Hình 2.3
Hình 2.4
Hình 2.5
Hình 2.6
Hình 2.7
Hình 2.8
Hình 2.9
Hình 2.10
Hình 2.11
Hình 2.12
Diễn giải
Trang
Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng TMCP Sài Gòn năm 2013
Tốc độ tăng trưởng dư nợ và nợ xấu giai đoạn 2013 - 2015
39
Tốc độ tăng trưởng huy động vốn
41
Biểu đồ thể hiện tỷ trọng vốn huy động trên tổng nguồn vốn
43
Vốn VNĐ và vốn ngoại tệ trong giai đoạn 2013 – 2015
45
Cơ cấu huy động vốn theo kỳ hạn
49
Tốc độ tăng trưởng tiền gửi không kỳ hạn
50
Tốc độ tăng trưởng tiền gửi có kỳ hạn
51
Cơ cấu huy động vốn theo thành phần kinh tế
53
Tốc độ tăng trưởng tiền gửi tổ chức kinh tế
54
Tốc độ tăng trưởng tiền gửi tổ chức dân cư
55
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Để có thể tồn tại và phát triển, các ngân hàng thương mại phải lựa chọn cho mình
con đường đi phù hợp nhất, từng bước khẳng định uy tín và thương hiệu, nâng cao năng
SVTH: Nguyễn Thị Thu Phương
6
Luận văn tốt nghiệp
Luận văn tốt nghiệp
Trường đại học công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng: Hoạt động huy động vốn tiền gửi của ngân hàng thương mại
- Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng về công tác huy động vốn tiền gửi tại ngân hàng
TMCP Sài Gòn - Chi nhánh Hà Nội trong 3 năm 2013 – 2015
4. Phương pháp nghiên cứu
- Khảo sát thông tin từ thực tiễn SCB qua quan sát và trao đổi trực tiếp với các nhân
viên, lãnh đạo phụ trách hoạt động huy động vốn
- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Báo cáo tài chính, báo cáo tín dụng
- So sánh các số liệu qua các thời kỳ để đánh giá hiệu quả huy động vốn
- Dựa vào các chỉ tiêu tài chính để phân tích và đánh giá hiệu quả huy động vốn tiền
gửi
5. Ý nghĩa
Huy động vốn là nghiệp vụ quan trọng quyết định các hoạt động khác của ngân
hàng. Qua phân tích ngân hàng có thể nhận xét, đánh giá được tầm quan trọng của huy
động vốn và đưa ra các biện pháp, chính sách thu hút lượng vốn nhàn rỗi từ các tổ chức,
khách hàng doanh nghiệp và cá nhân cũng như quản lý tốt hơn tình hình huy động vốn để
có thể sử dụng vốn một cách hợp lý.
Từ kết quả nghiên cứu nhận thức được nghiệp vụ huy động vốn của SCB – Chi
nhánh Hà Nội có được củng cố theo chiều hướng tốt hơn hay không và các chính sách
đang thực hiện có phù hợp để có thể phát huy và duy trì những mặt mạnh cũng như khôi
phục kịp thời khi có chiều hướng xấu đi.
6. Kết cấu của đề tài luận văn tốt nghiệp
SVTH: Nguyễn Thị Thu Phương
9
Luận văn tốt nghiệp
Trường đại học công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG
VỐN TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Những vấn đề cơ bản về nguồn vốn ngân hàng thương mại
1.1.1. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính thực hiện chức năng kinh doanh
tiền tệ. Các NHTM có thể được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau, chẳng hạn ngân
hàng tư nhân, ngân hàng cổ phần, ngân hàng quốc doanh và các ngân hàng liên doanh. Dù
dưới bất kỳ hình thức nào, các NHTM luôn đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu. Để đạt
được điều đó, công cụ duy nhất mà các ngân hàng phải có là vốn.
NHTM lấy tiền tệ làm đối tượng kinh doanh. Do đó, vốn của NHTM chủ yếu phải
là vốn bằng tiền. Để có thể hoạt động, ngân hàng phải có một số vốn nhất định (vốn pháp
định), tuy nhiên ngân hàng kinh doanh phần lớn dựa trên số vốn huy động. Đó là một bộ
phận thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu
dùng, mà người chủ sở hữu của chúng gửi vào ngân hàng để thực hiện các mục đích khác
nhau. Hay nói cách khác, họ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn tiền tệ cho ngân hàng, để
rồi ngân hàng phải trả lại cho họ một khoản thu nhập. Với số vốn huy động được, các
NHTM tiến hành kế hoạch kinh doanh để trang trải chi phí huy động và tích lũy, phục vụ
sự phát triển lâu dài. Có nhiều hình thức sử dụng vốn với các mức độ sinh lời và rủi ro
khác nhau, tùy thuộc vào định hướng cũng như cách thức thực hiện của từng đơn vị.
văn phòng, kho tàng, trang thiết bị,…) phục vụ cho bản thân ngân hàng, cho vay và đặc
biệt tham gia đầu tư, góp vốn liên doanh.
* Cơ cấu vốn chủ sở hữu
- Nguồn vốn hình thành ban đầu
Một NHTM muốn bắt đầu hoạt động thì ngân hàng đó phải đáp ứng được yêu cầu
của NHNN về mức vốn pháp định. Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có để thành
lập ngân hàng do pháp luật quy định. Khác với vốn pháp định, vốn điều lệ lại là vốn do
các cổ đông đóng góp và được ghi vào điều lệ hoạt động của ngân hàng và theo quy định
tối thiểu phải bằng vốn pháp định. Khi ngân hàng bước vào hoạt động thì nguồn vốn này
được thể hiện dưới dạng văn phòng, trụ sở, trang thiết bị dự trữ,… và ngân hàng không
được phép sử dụng vốn này chia lợi tức hay trích lập quỹ phúc lợi khen thưởng.
- Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động
Trong suốt quá trình hoạt động của ngân hàng, vốn điều lệ không phải luôn giữ cố
định mà vẫn được bổ sung và tăng dần theo các hình thức: ngân sách nhà nước cấp thêm
huy động thêm từ các cổ đông, lợi nhuận tích lũy,… tùy thuộc vào điều kiện cụ thể.
+ Cổ phần phát hành thêm, ngân sách nhà nước cấp thêm
SVTH: Nguyễn Thị Thu Phương
11
Luận văn tốt nghiệp
Trường đại học công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
Để mở rộng quy mô hoạt động, tăng cường khả năng chống đỡ rủi ro các NHTM cổ
phần có thể huy động thêm vốn bằng con đường phát hành thêm cổ phiếu (có thể là cổ
phiếu thường hoặc cổ phiếu ưu đãi), các NHTM thuộc sở hữu nhà nước có thể xin cấp
Khoa Quản lý kinh doanh
đồng quản trị của NHTM quyết định hình thức và biện pháp đầu tư theo nguyên tắc có
hiệu quả, an toàn phát triển vốn.
+ Quỹ dự phòng tài chính
Quỹ dự phòng tài chính được hình thành từ lợi nhuận hàng năm và được dùng để bù
đắp phần còn lại của những tổn thất, thiệt hại về tài sản xảy ra trong quá trình kinh doanh
sau khi đã được bù đắp bằng tiền bồi thường của các cá nhân, tổ chức gây ra tổn thất, của
các tổ chức bảo hiểm và sử dụng dự phòng trích lập từ chi phí. Theo quy định của pháp
luật Việt Nam, quỹ này được trích bằng 10% lợi nhuân sau thuế thu nhập doanh nghiệp và
đã trừ đi các khoản phải trừ như trích quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều
lệ. Số dư tối đa của quỹ này bằng 25% vốn điều lệ của NHTM.
- Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần
Các khoản vay trung và dài hạn của NHTM có khả năng chuyển đổi thành vốn cổ
phần như trái phiếu có khả năng chuyển đổi có thể được coi là một bộ phận của VCSH
ngân hàng do một số đặc điểm như sử dụng lâu dài, có thể đầu tư vào nhà cửa đất đai và
có thể không phải hoàn trả khi đến hạn. Nguồn vốn này thực sự là một công cụ hữu hiệu
đối với ngân hàng trong việc gia tăng VCSH mà lại không làm mất đi quyền kiểm soát
của các cổ đông hiện hữu.
* Vai trò của VCSH
Do tính chất đặc thù trong kinh doanh nên VCSH chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong
tổng nguồn vốn hoạt động của NHTM (khoản
không được phép sử dụng hết số vốn đó vào kinh doanh mà phải dự trữ một tỷ lệ hợp lý
để đảm bảo khả năng thanh toán.
* Cơ cấu vốn huy động
SVTH: Nguyễn Thị Thu Phương
14
Luận văn tốt nghiệp
Trường đại học công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
Vốn huy động của NHTM được hình thành từ 2 bộ phận: Vốn huy động từ tiền gửi
và vốn huy động thông qua phát hành giấy tờ có giá.
SVTH: Nguyễn Thị Thu Phương
15
Luận văn tốt nghiệp
Trường đại học công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
- Vốn huy động từ tiền gửi
Trường đại học công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
+ Tiền gửi tiết kiệm:
Đây là hình thức huy động vốn truyền thống của NHTM. Tiền gửi tiết kiệm thường
là khoản thu nhập của dân cư tạm thời chưa có nhu cầu sử dụng ngay gửi vào ngân hàng.
NHTM thường trả lãi cho tiền gửi tiết kiệm cao hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn.
Người gửi được giao cho một sổ tiết kiệm phục vụ cho việc ghi chép gửi và rút tiền. Sổ
tiết kiệm này không dùng để thanh toán tiền hàng và dịch vụ, song có thể dùng làm vật
cầm cố hoặc được chiết khấu để vay vốn ngân hàng. Tiền gửi tiết kiệm bao gồm tiền gửi
tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn với các kỳ hạn khác nhau.
+ Tiền gửi khác
Ngoài các loại tiền gửi trên, tại các NHTM còn có một số khoản tiền gửi khác như:
⋅
⋅
Tiền gửi của các TCTD khác
Tiền gửi của kho bạc nhà nước
⋅ Tiền gửi của các tổ chức đoàn thể xã hội
- Vốn huy động thông qua phát hành các giấy tờ có giá
Đây là phần vốn mà NHTM có được qua việc phát hành các GTCG như kỳ phiếu
ngân hàng, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi.
+ Phát hành trái phiếu:
Trái phiếu ngân hàng thực chất là một giấy nhận nợ của ngân hàng với khách hàng,
trong đó cam kết thanh toán một số tiền xác định bằng mệnh giá trái phiếu vào ngày đáo
hạn, với mức lãi suất cố định trong thời hạn định trước.
Trái phiếu là một công cụ nhằm huy động vốn trung và dài hạn để tài trợ cho các dự
Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ vốn kinh
doanh (khoảng 80%) của NHTM. Đây là nguồn vốn có ảnh hưởng rất lớn đến chi phí và
khả năng mở rộng kinh doanh của ngân hàng. Nguồn vốn này có xu hướng ngày càng gia
tăng phù hợp với xu hướng tăng trưởng nhưng ổn định của nền kinh tế, với việc gia tăng
nhu cầu thanh toán của dân cư và với việc cải tiến nâng cao chất lượng dịch vụ của
NHTM.
1.1.2.3. Vốn vay
Trong quá trình kinh doanh của các NHTM có tình trạng tạm thời thừa vốn hoặc
thiếu vốn. Các ngân hàng sử dụng quan hệ vãng lai, vay và cho vay vốn để tận dụng cơ
hội kinh doanh hoặc bảo đảm khả năng thanh toán. NHTM có thể vay vốn ở NHTM khác
hoặc vay vốn ở NHTW.
* Cơ cấu vốn vay
- Vay của TCTD khác:
SVTH: Nguyễn Thị Thu Phương
18
Luận văn tốt nghiệp
Trường đại học công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
Trong hoạt động kinh doanh của mình, việc thiếu hoặc thừa vốn là tình trạng thường
xuyên xảy ra. Để khắc phục hiện tượng này, thông qua NHNN, các NHTM có thể vay vốn
của nhau để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình. Việc vay vốn hoặc cho vay vốn
chỉ thông qua NHNN với chức năng trung gian, tạo thành một thị trường liên ngân hàng,
đảm bảo hoạt động đi vay và cho vay của các NHTM luôn đạt hiệu quả cao nhất.
- Vay của các ngân hàng khác:
* Vốn ủy thác đầu tư, tài trợ của Chính phủ hoặc của các tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nước cho các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội
Đây là nguồn vốn mà ngân hàng có được do làm đại lý nhận ủy thác của các tổ chức
trong và ngoài nhà nước để thực hiện đầu tư cho những chương trình, dự án. Ngân hàng
chỉ đóng vai trò là trung gian hưởng phí. Trong thời gian vốn được ngân hàng tiếp nhận
nhưng chưa giải ngân hết theo kế hoạch, hoặc vốn cho vay đã thu hồi về nhưng chưa đến
hạn chuyển lại cho chủ đầu tư, ngân hàng có được nguồn vốn để kinh doanh. Khi thực
hiện các dịch vụ này, mạng lưới các NHTM được sử dụng như là kênh dẫn vốn tới các
mục tiêu. Do vậy, vốn hình thành tư nguồn ủy thác thường không mấy chi phí.
* Vốn trong thanh toán:
Vốn trong thanh toán là số vốn có được do ngân hàng làm trung gian thanh toán
trong nền kinh tế. Cụ thể:
- Số vốn trong thời gian đã trích khỏi tài khoản của người trả nhưng chưa chuyển
vào tài khoản của người hưởng do phải luân chuyển, xử lý chứng từ thanh toán
- Số vốn trong thời gian khách hàng lưu ký tại ngân hàng nhưng chưa thanh toán
trong một số hình thức thanh toán
* Tiền khác: Bao gồm các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán như lương chưa trả,
thuế chưa nộp…
1.2. Những vấn đề cơ bản về hoạt động huy động vốn tiền gửi tại ngân
hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm hoạt động huy động vốn tiền gửi
Nghiệp vụ huy động vốn tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng
nhưng nó là nghiệp vụ rất quan trọng. Không có nghiệp vụ huy động vốn coi như không
có hoạt động của NHTM. Khi thành lập, ngân hàng phải có một số vốn điều lệ nhưng số
vốn này chỉ dùng để đầu tư cho các tài sản cố định như trụ sở, văn phòng, máy móc thiết
bị chứ chưa đủ vốn để ngân hàng có thể tiến hành các hoạt động kinh doanh như cấp tín
SVTH: Nguyễn Thị Thu Phương
1.2.2.1. Huy động vốn bằng tiền gửi không kỳ hạn
Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền mà chủ sở hữu của khoản tiền này có thể rút tiền
hoặc trả cho đối tác kinh doanh của họ bằng hình thức phát hành séc. Ở những nước có hệ
thống ngân hàng phát triển hoạt động dựa trên công nghệ cao, thì việc rút tiền từ tài khoản
này phần lớn được thực hiện bằng điện thoại hoặc thực hiện qua các máy rút tiền tự động
ATM được lắp đặt rộng rãi.
SVTH: Nguyễn Thị Thu Phương
21
Luận văn tốt nghiệp
Trường đại học công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
Đối với khách hàng, việc gửi tiền vào tài khoản này với mục đích chủ yếu là thanh
toán và chi trả cho các hoạt động kinh doanh, các hoạt động dịch vụ phát sinh một cách
thường xuyên. Nên việc dễ dàng chuyển nhượng, dễ dàng thanh toán được xem là yếu tố
rất quan trọng, còn việc hưởng lãi đối với khoản tiền gửi này chỉ là thứ yếu. Do đó, loại
tiền gửi này còn được gọi là tiền gửi theo yêu cầu, nó không đem lại lợi tức cao cho người
gửi. Ngược lại, đối với NHTM thì đây lại là một khoản vốn huy động với mức chi phí
thấp nhất trong tất cả các khoản vốn huy động được khác. Ngân hàng chỉ phải bỏ ra
những khoản chi phí rất nhỏ về quản lý tài khoản hoặc trả lãi (nếu có thì nó cũng rất nhỏ)
bù lại là được sử dụng một phần lớn làm vốn kinh doanh.
Tuy nhiên, vốn tiền gửi không kỳ hạn lại là khoản vốn có sự biến động nhiều nhất,
số dư của khoản vốn này tăng giảm phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của
người gửi tiền. Do vậy, NHTM chỉ có thể sử dụng hiệu quả nguồn vốn này khi và chỉ khi
đưa ra được các dự đoán về sự biến động số dư trên tài khoản tiền gửi này một cách chính
thuận với thời gian gửi tiền sẽ khuyến khích khách hàng gửi tiền với thời hạn dài hơn.
Ngân hàng thường dùng nguồn vốn có tính ổn định cao này để đầu tư các dự án dài hạn
nhưng phụ thuộc rất lớn vào đặc tính về dân số - xã hội, tình hình kinh tế xã hội, đặc biệt
là thu nhập của dân cư, do đó các ngân hàng áp dụng mọi biện pháp để nâng cao uy tín và
danh tiếng của ngân hàng mình nhằm lôi kéo nhiều khách hàng gửi tiền tiết kiệm nhất.
1.3. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động huy động vốn tiền gửi
1.3.1. Quy mô tăng trưởng nguồn vốn tiền gửi
Quy mô là chỉ tiêu phản ánh khả năng huy động vốn của ngân hàng. Quy mô nguồn
vốn tiền gửi ngày càng tăng của nền kinh tế, tạo điều kiện để ngân hàng mở rộng hoạt
động, nâng cao tính thanh khoản và tính ổn định của nguồn vốn. Một khi nguồn vốn tiền
gửi tăng trưởng không ổn định sẽ gây khó khăn cho NHTM trong việc hoạch định chính
sách sử dụng vốn, cản trở hoạt động cho vay và đầu tư của NHTM với các thành phần
kinh tế. Từ đó, làm giảm hiệu quả hoạt động của NHTM, giảm lợi nhuận và uy tín của
ngân hàng. Vì vậy, các NHTM đều đa dạng hóa các hình thức huy động vốn tiền gửi để
tăng quy mô đồng thời chú trọng hơn vào nguồn vốn có tính ổn định cao để đảm bảo quy
mô nguồn vốn tăng trưởng ổn định. Tiền gửi của dân cư là nguồn vốn ổn định nhất. Do
đó, khi nguồn vốn huy động từ dân cư chiếm tỷ trọng lớn thì nguồn vốn của ngân hàng đó
được xem là ổn định. Bên cạnh tiền gửi dân cư thì tiền gửi giao dịch của các tổ chức kinh
tế tuy có tính ổn định không cao nhưng nó đem lại cho ngân hàng một nguồn vốn với chi
phí rẻ và lợi nhuận lớn hơn. Nếu biết tính toán hợp lý chu kỳ kinh doanh của các doanh
nghiệp thì ngân hàng sẽ chủ động hơn trong việc sử dụng hợp lý và linh hoạt nguồn vốn
này.
SVTH: Nguyễn Thị Thu Phương
23
Luận văn tốt nghiệp
- Kỳ hạn danh nghĩa tạo cơ sở để ngân hàng đưa ra kỳ hạn huy động phù hợp với thị
trường. Tuy nhiên, ngân hàng quan tâm hơn tới kỳ hạn thực tế của nguồn tiền bởi vì nó
SVTH: Nguyễn Thị Thu Phương
24
Luận văn tốt nghiệp
Trường đại học công nghiệp Hà Nội
Khoa Quản lý kinh doanh
liên quan chặt chẽ đến kỳ hạn của các khoản cho vay và đầu tư. Kỳ hạn thực tế của nguồn
tiền là thời gian mà khoản tiền tồn tại liên tục tại một ngân hàng. Sự thay đổi lãi suất sẽ
gây ra sự dịch chuyển giữa các loại tiền gửi trong một ngân hàng, tiền gửi từ ngân hàng
này sang ngân hàng khác, từ loại tiền này sang loại tiền khác, từ kỳ hạn này sang kỳ hạn
khác. Điều đó làm thay đổi kỳ hạn thực tế của các khoản tiền gửi.
Một nguồn tiền nào đó trong ngân hàng được tạo ra bởi sự tiếp nối liên tục của các
khoản huy động và đi vay. Chẳng hạn, khoản tiền gửi tiết kiệm với kỳ hạn danh nghĩa
trong 9 tháng nhưng người gửi tiền không rút ra mà duy trì nhiều lần 9 tháng thì sẽ trở
thành khoản tiền gửi trung và dài hạn. Như vậy, một nguồn vốn với kỳ hạn danh nghĩa là
ngắn hạn, có thế tồn tại liên tục trong nhiều năm, tức là thành nguồn có kỳ hạn thực tế
trung và dài hạn. Việc phân tích, đo lường kỳ hạn thực tế của nguồn tiền là cơ sở để ngân
hàng quản lý thanh khoản, chuyển hoán kỳ hạn của nguồn, sử dụng các nguồn có kỳ hạn
ngắn để cho vay với kỳ hạn dài hơn.
1.3.2.2. Cơ cấu nguồn vốn theo loại tiền
Cơ cấu vốn theo loại tiền của ngân hàng bao gồm vốn nội tệ và ngoại tệ. Vốn nội tệ
phục vụ cho nhu cầu tín dụng trong nội địa, còn vốn ngoại tệ thì chỉ những doanh nghiệp
hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mới được ngân hàng cho vay, thanh toán hộ.