Khoá luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính quan trọng trong hệ
thống tài chính của mỗi quốc gia. Nhờ có ngân hàng thương mại mà một
lượng vốn nhàn rỗi lớn đã được chuyển dịch từ những người có vốn sang
những người cần vốn. Trong hoạt động của mình, các ngân hàng thương mại
luôn tìm cách để thu được lợi nhuận cao nhất có thế. Vì thế đôi khi có nhiều
rủi ro xảy ra trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng đặc biệt là rủi ro
trong hoạt động cho vay – một hoạt động mang lại nguồn lợi nhuận lớn cho
các ngân hàng. Để hạn chế được rủi ro đó, trong quá trình thẩm định để đi đến
quyết định cho vay, các ngân hàng thường rất chú trọng đến công tác phân
tích tài chính khách hàng.
Một khách hàng có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn
cam kết là một trong những điều kiện tiên quyết để xem xét có cho vay hay
không. Điều kiện này vừa mang lại thuận lợi cho ngân hàng lẫn khách hàng.
Đối với khách hàng, có được khả năng tài chính tốt sẽ giúp cho khách hàng
an tâm hơn về khả năng trả nợ khi đến hạn, do đó giữ được uy tín, cam kết đối
với ngân hàng. Riêng đối với ngân hàng, việc xem xét khả năng tài chính của
khách hàng giúp ngân hàng có thể giảm thiểu được rủi ro, tránh đưa ra những
quyết định sai lầm: cho vay những khách hàng xấu và không cho vay những
khách hàng tốt.
Trong thời gian thực tập tại ngân hàng, cùng với sự giúp đỡ của các anh
chị cán bộ nhân viên ngân hàng và sự giúp đỡ của Th.S Hoàng Lan Hương
em đã có được những hiểu biết sâu hơn về công tác phân tích tài chính khách
hàng và tầm quan trọng của công tác này trong hoạt động cho vay của ngân
hàng vì thế em chọn đề tài:
Hoàng Thị Thu Thủy Lớp: Tài Chính Công
1
Khoá luận tốt nghiệp
“Hoàn thiện công tác phân tích tài chính khách hàng trong hoạt động cho
vay tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi Nhánh Hà Nội”.
- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói
cách khác người cho vay ngoài khoản vốn gốc ban đầu sẽ được nhận một
khoản lãi do người đi vay trả.
Phân loại cho vay:
Các ngân hàng cung cấp nhiều loại hình cho vay khác nhau tương ứng
với sự đa dạng trong mục đích vay vốn của khách hang - từ việc mua ô tô và
sửa sắm các phương tiện sinh hoạt, tài trợ cho quá trình học tập đến việc xây
dựng nhà ở, văn phòng… Chúng ta có thể sắp xếp danh mục các khoản vay
rất đa dạng của ngân hàng thành từng nhóm dựa vào một số tiêu thức nhất
định. Việc phân loại cho vay không những tạo tiền đề thiết lập một quy trình
cho vay thích hợp mà còn góp phần nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Phân loại cho vay có thể căn cứ vào một số tiêu thức sau:
Hoàng Thị Thu Thủy Lớp: Tài Chính Công
3
Khoá luận tốt nghiệp
Theo mục đích sử dụng vốn vay, có thể chia thành: cho vay phục vụ sản
xuất kinh doanh công thương nghiệp, cho vay tiêu dùng cá nhân, cho vay bất
động sản, cho vay nông nghiệp, cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu.
Theo thời hạn, có thể chia thành: cho vay ngắn hạn (loại cho vay có
thời hạn dưới 1 năm), cho vay trung hạn (loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5
năm), cho vay dài hạn (loại cho vay có thời hạn trên 5 năm).
Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng, cho vay được chia thành
2 loại: cho vay không có bảo đảm, cho vay có bảo đảm
Dựa vào phương thức cho vay, theo tiêu chí này sẽ chia thành: cho
vay theo món và cho vay theo hạn mức.
Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay, cho vay được chia thành: cho
vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáo
hạn, cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp, cho vay
trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tuỳ vào khả năng tài
chính của mình người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào.
chính sách của nhà nước và các ngành chưa đầy đủ, môi trường pháp lý chưa
đồng bộ cũng sẽ tác động tới người vay làm khả năng trả nợ của họ bị giảm
sút.
Thứ hai, là những nguyên nhân từ phía khách hàng. Nhiều khách hàng
sẵn sàng mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợi nhuận lớn. Họ không tính toán
kỹ các bất trắc có thể xảy ra hoặc hoạch định không chính xác, không dự tính
hết được rủi ro trong kinh doanh, những khoản chi phí phát sinh mới làm ảnh
hưởng đến kế hoạch kinh doanh của mình dẫn đến không có đủ nguồn để trả
nợ cho ngân hàng. Cũng có trường hợp khách hàng cố tình lừa dối để chiếm
đoạt vốn của ngân hàng. Số lượng khách hàng như vậy không nhiều nhưng có
thể gây tổn thất lớn cho ngân hàng vì để đạt được mục đích họ sẵn sàng tìm
Hoàng Thị Thu Thủy Lớp: Tài Chính Công
5
Khoá luận tốt nghiệp
mọi thủ đoạn để đối phó với ngân hàng như cung cấp sai thông tin, hay mua
chuộc cán bộ tín dụng.
Thứ ba, là nguyên nhân thuộc về phía ngân hàng như:
- Chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh vào lợi nhuận nên khi
cho vay đã quá chú trọng về lợi tức, đặt mong ước về lợi tức cao hơn các
khoản cho vay lành mạnh. Ngoài ra, trong thể lệ cho vay có những sơ hở để
khách hàng lợi dụng chiếm đoạt vốn của ngân hàng.
- Cán bộ ngân hàng không tuân thủ chính sách, không chấp hành đúng quy
định cho vay, như không thẩm định đầy đủ chính xác về khách hàng trước khi
cho vay, cho vay không có dự án khả thi, cho vay khống, thiếu tài sản đảm
bảo, cho vay vượt tỷ lệ an toàn…Cán bộ tín dụng vi phạm đạo đức kinh
doanh như thông đồng với khách hàng lập hồ sơ giả dối để vay vốn rồi vay
ké. Có thể nói, chất lượng cán bộ nhân viên là một trong những nguyên nhân
dẫn tới rủi ro trong hoạt động cho vay hiện nay tại các ngân hàng.
Những rủi ro trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại
phải đối mặt ngày càng phức tạp, đa dạng. Nhưng các ngân hàng không phải
cho khả năng thu hồi lãi và vốn vay của các ngân hàng.
- Nhằm xác định rõ triển vọng quan hệ của ngân hàng với khách hàng
trong tương lai.
- Làm cơ sở cho việc đánh giá xếp loại tín dụng và có biện pháp trích,
phòng ngừa hợp lý.
1.2.2. Thông tin được sử dụng trong phân tích tài chính khách hàng.
Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính chủ yếu phản ánh tổng
quát tình hình tài sản của doanh nghiệp theo giá trị tài sản và nguồn hình
thành tài sản tại một thời điểm nhất định (cuối quý, cuối năm). Việc so sánh
giữa số liệu của hai thời điểm khác nhau trên bảng cân đối kế toán cũng có thể
Hoàng Thị Thu Thủy Lớp: Tài Chính Công
7
Khoá luận tốt nghiệp
cho thấy sự biến động khái quát của tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp
trong kỳ. Căn cứ vào số liệu về tổng tài sản và kết cấu tài sản hiện có của
doanh nghiệp, ngân hàng đánh giá được một cách tổng quát quy mô tài sản,
năng lực và trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp. Tỷ lệ, kết cấu của từng
nguồn vốn trong tổng nguồn vốn hiện có phản ánh tính chất hoạt động, thực
trạng tài chính của doanh nghiệp.
Bảng cân đối kế toán được kết cấu dưới dạng bảng cân đối số dư các tài
khoản kế toán và sắp xếp trật tự các chỉ tiêu theo yêu cầu quản lý. Bảng cân
đối kế toán được chia làm hai phần là phần tài sản và phần nguồn vốn.
Phần tài sản phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp
đến cuối kỳ kế toán đang tồn tại dưới các hình thái và trong tất cả các giai
đoạn, các khâu của quá trình kinh doanh. Các khoản mục của bên tài sản được
sắp xếp theo khả năng chuyển hoá thành tiền giảm dần từ trên xuống.
A. Phần nguồn vốn phản ánh nguồn hình thành tài sản của
doanh nghiệp đến cuối kỳ hạch toán. Các chỉ tiêu ở phần nguồn vốn được sắp
xếp theo từng nguồn hình thành tài sản của đơn vị (nguồn vốn của bản thân
nghiệp. Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ sẽ cho thấy tiền tệ của doanh
nghiệp sinh ra từ đâu và sử dụng vào những mục đích gì. Từ đó, dự đoán
được lượng tiền trong tương lai của doanh nghiệp, nắm được năng lực thanh
toán hiện tại. Đồng thời thấy được quan hệ giữa lỗ, lãi ròng với luồng tiền tệ
cũng như hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính ảnh
hưởng tới mức độ nào, làm tăng hay giảm tiền tệ.
Nội dung của báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm 3 phần sau:
Phần I. Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh: Phản ánh toàn bộ
dòng tiền vào và chi ra chủ yếu của doanh nghiệp, có liên quan trực tiếp đến
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các khoản thu bằng tiền như: tiền
Hoàng Thị Thu Thủy Lớp: Tài Chính Công
9
Khoá luận tốt nghiệp
thu bán hàng, thu từ các khoản thu thương mại; chi phí bằng tiền như: tiền trả
cho nhà cung cấp, tiền thanh toán cho công nhân viên, chi phí khác bằng tiền.
Phần II. Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư: Phản ánh toàn bộ dòng
tiền vào và chi ra chủ yếu của doanh nghiệp, có liên quan trực tiếp đến hoạt
động đầu tư của doanh nghiệp. Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp gồm 2
phần: đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho bản thân doanh nghiệp, đầu tư vào
các đơn vị khác.
Phần III. Lưu chuyển từ hoạt động tài chính: Phản ánh toàn bộ dòng
tiền vào và chi ra chủ yếu của doanh nghiệp, có liên quan trực tiếp đến hoạt
động tài chính của doanh nghiệp. Hoạt động tài chính bao gồm các nghiệp vụ
làm thay đổi quy mô và kết cấu nguồn vốn của doanh nghiệp như chủ doanh
nghiệp góp vốn, vay vốn, phát hành cổ phiếu trái phiếu…
Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính là một báo cáo kế toán tài chính tổng
quát nhằm mục đích giải trình và bổ sung, thuyết minh những thông tin về
tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp
trong kỳ báo cáo, mà chưa được trình bày chi tiết, đầy đủ trong báo cáo tài
doanh nghiệp.
Phân tích rủi ro kinh doanh
của doanh nghiệp
Quyết định nhu cầu
nguồn vốn của doanh
nghiệp
Thươn
g
lượng
với nhà
cung
cấp
11
Khoá luận tốt nghiệp
Hình 1.2 : Khuôn khổ phân tích tài chính dựa vào loại phân tích.
Trong khuôn khổ phân tích tài chính dựa vào loại phân tích, các cán bộ
tín dụng thường sử dụng phương pháp tỷ số, phương pháp so sánh…
Phương pháp tỷ số
Phương pháp tỷ số là phương pháp truyền thống được áp dụng phổ biến
trong phân tích tài chính doanh nghiệp. Nó có tính hiện thực cao, giúp nhà
phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích một cách có hệ
thống hàng loạt tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo giai đoạn.
Các tỷ số tài chính chủ yếu được phân thành các nhóm chỉ tiêu về khả
năng thanh toán – phản ánh khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của
doanh nghiệp, nhóm chỉ tiêu về khả năng cân đối vốn – phản ánh mức độ ổn
định và tự chủ tài chính cũng như khả năng sử dụng nợ vay của doanh nghiệp,
nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động – phản ánh việc sử dụng tài nguyên, lao
động.., nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lãi – phản ánh hiệu quả sản xuất kinh
doanh tổng hợp nhất của doanh nghiệp.
Hoàng Thị Thu Thủy Lớp: Tài Chính Công
so sánh, đối chiếu tình hình biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối trên
từng chỉ tiêu của từng báo cáo tài chính; còn so sánh dọc là việc sử dụng các
tỷ suất, các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo
cáo tài chính và giữa các báo cáo để rút ra kết luận. Để áp dụng phương pháp
so sánh cần chú ý những điều kiện sau:
- Điều kiện so sánh được của chỉ tiêu: phải thống nhất về nội dung phản
ánh, về phương pháp tính toán, về thời gian và đơn vị đo lường.
- Gốc so sánh: việc xác định gốc so sánh tùy thuộc vào mục đích phân
tích. Gốc so sánh thường được xác định về mặt thời gian, không gian. Về mặt
thời gian có thể lựa chọn kỳ kế hoạch, kỳ trước, cùng kỳ này năm trước hay
lựa chọn các điểm thời gian (năm, tháng, ngày cụ thể)…Về mặt không gian
có thể lựa chọn các bộ phận của tổng thể, lựa chọn các đơn vị khác có cùng
điều kiện tương đương.
Phương pháp Dupont
Hoàng Thị Thu Thủy Lớp: Tài Chính Công
13
Khoỏ lun tt nghip
Ngoi hai phng phỏp trờn, phõn tớch ti chớnh khỏch hng, cỏn b
tớn dng cú th s dng phng phỏp Dupont. õy l phng phỏp phõn tớch
cỏc ch s ti chớnh da trờn t l so vi doanh thu. Phng phỏp ny c s
dng hiu qu ti cụng ty Dopont do ú c gi l phng phỏp Dupont.
Thc cht phng phỏp ny l tỏch mt t s cú mi quan h nhõn qu vi
nhau. iu ú cho phộp phõn tớch nh hng ca cỏc t s i s tng hp, t
ú cú th nhn bit c nguyờn nhõn dn n cỏc hin tng tt xu trong
hot ng ca doanh nghip.Vớ d: Phõn tớch T sut li nhun trờn tng ti
sn (ROA)
Hỡnh 1.3: Phõn tớch phng trỡnh Dupont
Hong Th Thu Thy Lp: Ti Chớnh Cụng
14
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu
Tài sản cố
định
Cáckhoản
ĐTTCDH
khác
Tài sản dài
hạn khác
Vòng quay toàn bộ vốn
Tài sản ngắn
hạn khác
Chia
(:)
(: )
+
Trừ
(-)
ROA
Khoá luận tốt nghiệp
Mô hình điểm số:
Ở một số ngân hàng, người ta còn sử dụng phương pháp điểm số hay
còn gọi là xếp hạng doanh nghiệp để phân tích tài chính doanh nghiệp. Mô
hình này được thiết lập dựa vào các chỉ tiêu tài chính qua trọng phản ánh từ số
liệu thống kê trong lịch sử. Tầm quan trọng của các chỉ tiêu sẽ xác định trọng
số của chúng trong mô hình ứng dụng của từng doanh nghiệp, mô hình điểm
số sẽ cho một kết quả nhất định. Nếu điểm số này của doanh nghiệp lớn hơn
điểm chuẩn thì tình hình tài chính của doanh nghiệp có thể chấp nhận được,
còn nếu nhỏ hơn điểm số chuẩn thì tình hình tài chính của doanh nghiệp
không thể chấp nhận được.
Mô hình điểm số được áp dụng nhiều nhất là mô hình Zeta, cụ thể như
sau:
Thứ hai, Phân tích tình hình tài chính khách hàng.
Phân tích trước khi vay:
Khái quát tình hình tài chính của khách hàng vay vốn. Chủ yếu tập
trung phân tích dựa vào báo cáo tài chính mà khách hàng cung cấp (phân tích
các khoản mục trên bảng cân đối, phân tích luồng tiền); phân tích tình hình
thực hiện các chỉ tiêu tài chính của khách hàng.
Kết quả phân tích trước khi cho vay cho thấy được một phần tình hình
tài chính của khách hàng trong quá khứ và hiện tại. Đây là giai đoạn quan
trọng để ngân hàng ra quyết định có cho vay hay không và cho vay ở mức
như thế nào. Tuy nhiên, việc tiến hành phân tích trước khi vay không thể là
một bảo đảm cho khả năng có thể trả nợ của khách hàng vì trong quá trình
kinh doanh trong tương lai có rất nhiều những dự đoán có thể không chính
xác. Do đó, nếu chỉ dừng lại ở việc phân tích trước khi vay là không đủ, đòi
hỏi các ngân hàng phải tiến hành phân tích ở các giai đoạn tiếp theo để có
Hoàng Thị Thu Thủy Lớp: Tài Chính Công
16
Khoá luận tốt nghiệp
những biện pháp giảm thiểu rủi ro, đảm bảo khoản vay được sử dụng đúng
mục đích và mang lại hiệu quả.
Phân tích trong khi cho vay:
Sau khi quyết định cho khách hàng vay và tiến hành giải ngân cho
khách hàng, ngân hàng vẫn tiến hành phân tích tài chính khách hàng theo định
kỳ. Việc phân tích này giúp ngân hàng thấy được vốn vay được sử dụng có
đúng mục đích hay không, hiệu quả của việc đầu tư thế nào, có những dấu
hiệu gì ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng không. Có thể nói đây
là giai đoạn thu thập thêm thông tin về khách hàng vay vốn. Nếu thông tin
theo chiều hướng tốt thì chất lượng tín dụng sẽ được đảm bảo nhưng nếu
thông tin theo chiều hướng xấu thì tùy tình hình, ngân hàng sẽ có những biện
pháp thích hợp như: có thể thu hồi nợ trước hạn, ngừng giải ngân, yêu cầu
cung cấp thêm tài sản đảm bảo…
Các báo cáo tài chính mà doanh nghiệp gửi cho ngân hàng là những
thông tin cung cấp ra bên ngoài, với mục đích vay vốn, vì thế nên mục tiêu
soạn thảo báo cáo tài chính có thể khác biệt so với mục tiêu soạn thảo báo cáo
tài chính cho nội bộ doanh nghiệp. Vì vậy mức độ tin cậy về số liệu của các
báo cáo tài chính của khách hàng cung cấp chưa đảm bảo. Do đó, việc thẩm
định mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính là cần thiết đối với một cán bộ
tín dụng. Tuy nhiên vấn đề là thẩm định như thế nào để có thể đánh giá chính
xác độ tin cậy của báo cáo tài chính lại là một vấn đề không dễ dàng đối với
các ngân hàng.
Đối với những khoản vay có giá trị lớn của những khách hàng lớn, vì
tính chất quan trọng của các khoản vay, ngân hàng có thể yêu cầu doanh
nghiệp cung cấp báo cáo tài chính đã được kiểm toán. Khi đó, công ty kiểm
toán sẽ giúp ngân hàng đánh giá và chịu trách nhiệm về mức độ tin cậy của số
liệu trong các báo cáo tài chính.
Hoàng Thị Thu Thủy Lớp: Tài Chính Công
18
Khoá luận tốt nghiệp
Tuy nhiên, thực tế thấy rằng, việc yêu cầu khách hàng cung cấp báo cáo
đã được kiểm toán là khó khăn vì hiện nay ở nước ta chưa có một quy định
bắt buộc các doanh nghiệp phải tiến hành kiểm toán. Do đó, thẩm định độ tin
cậy của các báo cáo tài chính của doanh nghiệp là việc làm cần thiết và
thường xuyên của các cán bộ tín dụng trước khi tiến hành công tác phân tích
báo cáo tài chính của khách hàng. Thực hiện việc đánh giá mức độ tin cậy của
báo cáo tài chính, nhân viên tín dụng có thể thực hiện các bước sau:
- Nghiên cứu số liệu của báo cáo tài chính.
- Sử dụng kiến thức kế toán tài chính và kỹ năng phân tích để phát hiện
những điểm đáng nghi ngờ hay những bất hợp lý trong các báo cáo tài chính.
- Xem xét bảng thuyết minh để hiểu rõ hơn về những điểm đáng nghi
ngờ trong báo cáo tài chính.
- Có thể gặp trực tiếp khách hàng để trao đổi, thảo luận về những điểm
quay các khoản phải thu. Đây là chỉ tiêu quan trọng cần được phân tích cẩn
thận vì chúng có thể là nguồn trả nợ chủ yếu chi trả các khoản vay ngắn hạn
của khách hàng.
+ Trên cơ sở bảng kê chi tiết các hàng tồn kho: phân tích tình trạng
hàng tồn kho, hàng tồn kho kém phẩm chất, dự phòng giảm giá hàng tồn kho,
vòng quay hàng tồn kho. Giá trị của hàng tồn kho phụ thuộc lớn vào phương
pháp định giá. Có nhiều phương pháp định giá hàng tồn kho. Nhưng loại tài
sản này nên được định giá ở mức thấp nhất giữa giá trị nguyên giá và giá trị
thị trường.
+ Đối với tài sản cố định, thông thường ngân hàng không quan tâm đến
việc bán tài sản cố định để tài trợ cho các khoản vay nhưng nếu tài sản cố
Hoàng Thị Thu Thủy Lớp: Tài Chính Công
20
Khoá luận tốt nghiệp
định được dùng làm tài sản đảm bảo cho những khoản vay thì giá trị của tài
sản cố định lại là một chỉ tiêu đáng quan tâm. Giá trị này thường phụ thuộc
vào phương pháp khấu hao và cán bộ tín dụng cần đi kiểm tra trực tiếp để có
sự tham khảo giá trị thị trường.
Thứ hai, với danh mục nguồn vốn, cán bộ tín dụng chú ý đến các vấn
đề sau:
- Về tình trạng nguồn vốn của doanh nghiệp: Khi xem xét nợ phải trả của
khách hàng, vấn đề ngân hàng đặt ra là kiểm tra số tiền và kỳ hạn trả nợ. Nợ
phải trả được chia làm hai loại: nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.
Nợ ngắn hạn là các khoản nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán trong
thời gian ngắn sắp tới thường là 1 năm hay một chu kỳ kinh doanh. Nợ ngắn
hạn bao gồm các khoản vay và nợ ngắn hạn, khoản phải trả,chi phí chưa thanh
toán, thuế và các khoản phải nộp nhà nước, nợ dài hạn đến hạn trả.
Các khoản vay ngắn hạn phản ánh tổng số tiền mà doanh nghiệp vay
ngắn hạn của ngân hàng, của các tổ chức tín dụng khác. Cán bộ tín dụng cần
có một danh sách về các giấy nợ ghi rõ số tiền vay và tài sản đảm bảo cho
- Tăng các khoản nợ phải trả, tăng vốn chủ sở hữu, cũng như sự giảm tài
sản của doanh nghiệp chỉ ra sự diễn biến của nguồn vốn và được xếp vào cột
diễn biến nguồn.
- Tăng tài sản của doanh nghiệp, giảm các khoản nợ và vốn chủ sở hữu
được xếp vào cột sử dụng vốn.
Hoàng Thị Thu Thủy Lớp: Tài Chính Công
22
Khoá luận tốt nghiệp
Bảng 1.4: Bảng kê nguồn vốn và sử dụng vốn
Đơn vị tính:……….
STT CHỈ TIÊU
ĐẦU
NĂM
CUỐI
KỲ
SỬ
DỤNG
VỐN
NGUỒN
VỐN
I Tài sản
1 Tiền và tương đương tiền
2 Các khoản phải thu
3 Dự trữ
4 Tài sản lưu động khác
5 Tài sản cố định
6 Các khoản đầu tư tài chính dài hạn
7 Chi phí xây dựng cơ bản dở dang
8
Các khoản ký quỹ, ký cược dài
điều kiện cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí sử dụng vốn, khả năng sinh
lời cao nhưng khả năng thanh toán sẽ giảm.
Nếu VLĐR = 0, doanh nghiệp đang áp dụng chính sách tài trợ trung
hòa, nghĩa là dùng toàn bộ nguồn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản lưu động và
toàn bộ nguồn dài hạn để tài trợ cho tài sản cố định. Với chính sách này thì
doanh nghiệp vừa đảm bảo được khả năng thanh toán nợ ngắn hạn vừa đảm
bảo khả năng sinh lời. Tuy nhiên rất ít doanh nghiệp áp dụng chính sách này.
Nhìn chung thì các ngân hàng thường đồng ý cho vay đối với các
doanh nghiệp có vốn lưu động ròng (VLĐR) bằng 0 hoặc lớn hơn 0 để đảm
bảo an toàn cho các khoản vay.
b, Báo cáo kết quả kinh doanh:
Để kiểm soát các hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp, cán bộ tín dụng cần xem xét tình hình biến động trong các
khoản mục của báo cáo kết quả kinh doanh. Khi phân tích cần tính ra và so
sánh mức và tỷ lệ biến động giữa các kỳ phân tích so với kỳ gốc trên từng chỉ
Hoàng Thị Thu Thủy Lớp: Tài Chính Công
24
Khoá luận tốt nghiệp
tiêu. Bên cạnh đó cần phải so sánh tình hình biến động của từng chỉ tiêu với
doanh thu thuần. Cụ thể là:
- So sánh các khoản chi phí với doanh thu thuần để biết được để có 1 đơn
vị doanh thu thuần thì phải hao phí bao nhiêu đơn vị chi phí tương ứng. Mức
hao phí tính ra càng lớn so với kỳ gốc thì hiệu quả kinh doanh càng giảm và
ngược lại.
- So sánh các khoản lợi nhuận với doanh thu thuần. Cách so sánh này
cho biết một đơn vị doanh thu thuần thì đem lại cho doanh nghiệp bao nhiêu
đơn vị lợi nhuận. Giá trị lợi nhuận đem lại càng lớn so với kỳ gốc, chứng tỏ
hiểu quả kinh doanh càng cao và ngược lại.
c, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ sẽ cung cấp cho cán bộ tín dụng biết