Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II
GIỚI THIỆU PHƯƠNG PHÁP DẠY - HỌC DỰA TRÊN TÌNH
HUỐNG TRONG GIẢNG DẠY HỌC PHẦN SỨC KHỎE MÔI
TRƯỜNG CƠ BẢN VÀ PHÒNG CHỐNG THẢM HỌA TẠI BỘ
MÔN Y TẾ CÔNG CỘNG, TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
Ths. Ngô Thị Thu Hiền
Bộ môn Y tế công cộng, Trường Đại học Thăng Long
Tóm tắt: Học phần Sức khỏe môi trường cơ bản và phòng chống thảm họa là một
trong các môn học cơ sở ngành quan trọng thuộc chương trình đào tạo cử nhân ngành Y tế
công cộng. Các nội dung của học phần này vừa mang tính lý thuyết lại vừa gắn liền với các
vấn đề thực tiễn xã hội - những vấn đề sức khỏe cộng đồng. Bên cạnh đó, trong xu thế đổi mới
phương pháp dạy học ở đại học hiện nay đặc biệt là việc áp dụng đào tạo theo học chế tín chỉ
lấy người học làm trung tâm thì việc vận dụng phương pháp dạy - học dựa trên tình huống
nhằm phát huy năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh viên trong giảng dạy học phần này là
điều rất cần thiết góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
Từ khóa: sức khỏe môi trường, tình huống, phương pháp dạy - học dựa trên tình
huống.
1. Đặt vấn đề
Học phần Sức khỏe môi trường cơ bản và phòng chống thảm họa là môn học cơ sở
ngành thuộc chương trình đào tạo cử nhân ngành Y tế công cộng. Học phần gồm 3 tín chỉ (45
giờ), được giảng dạy trong học kỳ I năm thứ hai của kế hoạch đào tạo toàn khóa học. Học
phần trang bị những kiến thức cơ bản về môi trường và sức khỏe: khái niệm môi trường và
sức khỏe; các yếu tố nguy cơ từ môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe; ô nhiễm môi trường và
sức khỏe cộng đồng; tác động của các hoạt động phát triển đến sức khỏe cộng đồng và các
biện pháp giảm thiểu; thảm họa môi trường, tác động và các biện pháp phòng chống ô nhiễm
môi trường, dịch bệnh trước trong và sau thảm họa; quản lý môi trường và các định hướng
xây dựng môi trường bền vững. Sau khi kết thúc học phần, sinh viên được trang bị và rèn
luyện các kỹ năng: đánh giá được các yếu tố nguy cơ từ môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe;
vận dụng kiến thức đã học để truyền thông giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ
môi trường; phòng chống ô nhiễm, dịch bệnh và cách thức ứng phó trong và sau thảm họa.
2. Phương pháp dạy - học dựa trên tình huống
2.1. Khái niệm tình huống, tình huống dạy học
2.1.1. Khái niệm tình huống
Theo Từ điển Tiếng Việt, tình huống là toàn thể những sự việc xảy ra tại một địa điểm,
trong một thời gian cụ thể, buộc người ta phải suy nghĩ, hành động, đối phó, tìm cách giải
quyết. Tình huống cũng có thể được hiểu là sự mô tả hay trình bày một trường hợp có thật
trong thực tế hoặc mô phỏng nhằm đưa ra một vấn đề chưa được giải quyết và qua đó đòi hỏi
người đọc (người nghe) phải giải quyết vấn đề đó.
2.1.2. Khái niệm tình huống dạy học
Theo Boehrer (1995) thì: “Tình huống là một câu chuyện, có cốt chuyện và nhân vật,
liên hệ đến một hoàn cảnh cụ thể, từ góc độ cá nhân hay nhóm, và thường là hành động chưa
hoàn chỉnh. Đó là một câu chuyện cụ thể và chi tiết, chuyển nét sống động và phức tạp của
đời thực vào lớp học”.
Tình huống được đưa vào giảng dạy thường ở dưới dạng những bài tập nghiên cứu.
Đặc điểm nổi bật của loại hình bài tập này là “xoay quanh những sự kiện có thật hay gần gũi
với thực tế trong đó chứa đựng những vấn đề và mâu thuẫn cần phải được giải quyết”(Center
for Teaching and Learning of Stanford University, 1994). Cũng cần phải nói thêm là trong
giảng dạy, tình huống không phải là những trường hợp bất kỳ trong thực tế mà là những tình
huống đã được điều chỉnh, nghiên cứu kỹ lưỡng để mang tính điển hình, phục vụ tốt cho mục
đích và mục tiêu giáo dục tức là giúp cho người học có thể hiểu và vận dụng tri thức cũng như
rèn luyện được các kỹ năng và kỹ xảo. Tình huống được sử dụng để khiêu khích người học
phân tích, bình luận, đánh giá, suy xét và trình bày ý tưởng của mình để qua đó từng bước
chiếm lĩnh tri thức hay vận dụng những kiến thức đã học vào những trường hợp thực tế. Tình
huống yêu cầu người đọc phải từng bước nhập vai người ra quyết định cụ thể. Hay như cách
nhận định gọn gàng mà sâu sắc của Herreid (1997) thì: “Tình huống là những câu chuyện ẩn
chứa trong mình những thông điệp. Chúng không phải là những câu chuyện chỉ để giải trí
đơn thuần. Tình huống là những câu chuyện để giáo dục”.
Trường Đại học Thăng Long
môn học. Nội dung những tình huống này thường dựa trên những tình huống, sự kiện/dữ kiện
đã và đang diễn ra trong thực tiễn nhưng được sắp xếp, “hư cấu” lại để vấn đề nêu ra được
xúc tích, giàu thông tin và đáp ứng tốt hơn mục đích mà người dạy hướng đến.
Một số ví dụ về các tình huống tự xây dựng:
- Một bài truyền thông về nước sạch và vệ sinh môi trường.
- Một phiếu điều tra về vệ sinh môi trường làng nghề
- Một bảng số liệu đo thông số môi trường: tiếng ồn, vi khí hậu, ánh sáng,…
2.4. Mục đích của phương pháp dạy - học dựa trên tình huống
Với việc xây dựng môi trường học tập lấy sinh viên làm trung tâm, phương pháp dạy học dựa trên tình huống được áp dụng nhằm hướng đến một số mục tiêu cụ thể dưới đây:
1. Góp phần nâng cao tính tích cực, chủ động, khả năng tư duy, sáng tạo và hứng thú
học tập của người học. Trong dạy học theo tình huống, các nhóm sinh viên phải chủ động tìm
kiếm và phân tích các thông tin để đi tìm các giải pháp có thể có cho tình huống. Để đáp ứng
được yêu cầu này, sinh viên phải chủ động tư duy, thảo luận/tranh luận trong nhóm để tìm
hiểu sâu thêm về lý thuyết cũng như thực tiễn và tìm ra các giải pháp cho các tình huống.
Chính trong quá trình suy nghĩ, tranh luận, bảo vệ các giải pháp sinh viên đã tham gia vào quá
Trường Đại học Thăng Long
170
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II
trình nhận thức. Sự tham gia tích cực đó đã góp phần tạo ra sự hứng thú và say mê học tập,
sáng tạo của sinh viên.
2. Giúpngười học rèn luyện và nâng cao kỹ năng mềm như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ
năng đọc và phân tích, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng trình bày, kỹ năng bảo vệ và tranh
luận, phản biện ý kiến trước tập thể, kỹ năng tổ chức công việc, kỹ năng ra quyết định,... Để
giải quyết tình huống, sinh viên thường phải làm việc theo nhóm, các thành viên trong nhóm
cùng phân tích và thảo luận để đi đến giải pháp, sau đó trình bày giải pháp của mình cho cả
chính về tình huống đề cập đến, hướng dẫn sinh viên tham gia vào tình huống và ngay cả khi
sinh viên không có một sự chuẩn bị nào cũng có thể tham gia thảo luận được.
Bước 5. Phân công các nhóm để giải quyết tình huống: khoảng 3 - 5 sinh viên/nhóm.
Các nhóm sẽ bốc thăm đề tài và thứ tự trình bày trước lớp.Thông báo quy định một bài thuyết
Trường Đại học Thăng Long
171
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II
trình tình huống gồm có: hình thức trình bày, nội dung, thời gian trình bày, tiêu chí đánh giá,
phân công thành viên trong nhóm và cách giải quyết tình huống.
Bước 6. Báo cáo tình huống: các nhóm theo thứ tự lên trình bày đề tài đã được phân
công, tất cả các thành viên trong nhóm đều có cơ hội được trình bày, thời gian trình bày tối đa
là 30 phút; giảng viên yêu cầu các nhóm còn lại phản biện; giảng viên có thể bổ sung thêm
các câu hỏi cho nhóm trình bày, sinh viên thảo luận các câu hỏi có liên quan. Mỗi sinh viên sẽ
đóng góp ý kiến của mình về tình huống đưa ra.Các sinh viên trong các nhóm còn lại có thể
trao đổi, thảo luận để phân tích làm rõ thêm những vấn đề đã được nêu ra trong tình huống ,
giải quyết các câu hỏi khác mà giảng viên đặt ra thêm trong tình huống.
Bước 7. Giảng viên tổng kết, nhận xét và đánh giá các nhóm: giảng viên tổng kết,
đánh giá tình huống, rút ra kết luận các giải pháp có liên quan đến nội dung lý thuyết môn
học. Có thể có những vấn đề không mang lại kết quả như mong muốn, có những vấn đề có kết
quả đúng sai rõ ràng, nhưng giảng viên sẽ là người chịu trách nhiệm đưa ra kết luận cuối cùng
về tình huống đó để giúp sinh viên có thể hiểu rõ hơn cách thức giải quyết của mình.
3.2. Kỹ thuật dạy - học
Phương pháp dạy - học dựa trên tình huống nếu kết hợp vận dụng một số kỹ thuật
giảng dạy tích cực thì hiệu quả đạt được càng cao, càng dễ dàng thực hiện các mục tiêu của
phương pháp giảng dạy tích cực. Những kỹ thuật thường được sử dụng đó là: làm việc nhóm,
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II
Tóm lại, chúng ta có thể sử dụng nhiều kỹ thuật hỗ trợ để phát huy tối đa hiệu quả của
phương pháp giảng dạy tích cực. Những kỹ thuật này làm cho làm cho buổi giảng sinh động
hơn, tạo bầu không khí hứng thú trong lớp học. Mặt khác, về phía người học, những kỹ thuật
này có tác dụng kích thích tư duy độc lập và sáng tạo; rèn luyện hàng hoạt kỹ năng như kỹ
năng làm việc nhóm, kỹ năng truyền thông, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, khả
năng ứng xử trước (những thay đổi xảy ra bất ngờ), sự năng động và tự tin, v.v…
3.3. Minh họa một bài tập tình huống sử dụng trong học phần Sức khỏe môi trường
cơ bản và phòng chống thảm học
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC DỰA TRÊN TÌNH HUỐNG (SBL)
SBL 1. Đánh giá nguy cơ sức khỏe môi trường
1. Tên bài tập tình huống:Đánh giá nguy cơ sức khỏe môi trường do phơi nhiễm asen
trong nước ngầm tại tỉnh Hà Nam và một số giải pháp quản lý
Hình 1. Asen trong nước ngầm và bệnh sừng hóa da do phơi nhiễm asen
2. Mục tiêu
Sau khi hoàn thành bài tập tình huống này, sinh viên cần phải:
1) Mô tả được các nguyên nhân và thực trạng ô nhiễm asen trong nước ngầm ở Hà
Nam.
2) Áp dụng được các bước của khung đánh giá nguy cơ sức khỏe môi trường để đánh
giá sơ bộ các nguy cơ sức khỏe môi trường mà người dân ở Hà Nam phải đối mặt do phơi
nhiễm với asen trong nước ngầm.
3) Đề xuất được một số giải pháp giảm thiểu nguy cơ phơi nhiễm với asen trong nước
ngầm ở Hà Nam.
4) Trình bày được kết quả đánh giá sơ bộ và các biện pháp quản lý trong buổi tham
vấn các bên liên quan tại địa phương.
3. Bối cảnh tình huống
Nước là một yếu tố thiết yếu cho sự sống của con người, nhưng hiện có nhiều quốc
gia trên thế giới trong đó có Việt Nam đang đứng trước nguy cơ thiếu nước sinh hoạt trầm
UNICEF đã hỗ trợ những hộ khó khăn xây bể lọc nước với vật liệu lọc đơn giản
nhưng được đánh giá là hiệu quả là cát hoặc than hoạt tính. Trung tâm chuyển giao công nghệ
cũng lắp đặt thử nghiệm 30 bình khử asen tại 1 xã trong huyện. Kết quả ban đầu cho thấy,
bình lọc này nếu sử dụng đúng có thể khử được 90 - 98% lượng asen trong nước ngầm, hiệu
quả hơn so với bể lọc cát chỉ đạt 80 - 90%. Mặc dù, người dân nhiệt tình ủng hộ và đón nhận
khuyến cáo, hướng dẫn của UNICEF và cơ quan chuyên môn nhưng vẫn có nhiều hộ gia đình
chưa quan tâm đến vấn đề này. Họ vẫn sử dụng trực tiếp các nguồn nước này mà không qua
xử lý cho các mục đích khác nhau đặc biệt là cho sinh hoạt.
Nghiên cứu của Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường với sự tài trợ của
UNICEF từ năm 2003 - 2005 tại Hà Nam đã phát hiện 8 ca bị nhiễm độc asen ở giai đoạn sớm
(có các tổn thương như: dày sừng, rối loạn sắc tố da) sau 5- 10 năm sử dụng nước nhiễm độc
ở 3 xã trong huyện. Qua hội chẩn, các chuyên gia Trung Quốc và Việt Nam đều thống nhất
kết luận đó là các tồn thương do tác hại của việc sử dụng nguồn nước ngầm bị nhiễm asen để
ăn uống và sinh hoạt. Năm 2003, khi tiến hành kiểm tra sức khỏe cho 400 người dân sống
trong khu vực bị ô nhiễm asen nặng, Viện đã phát hiện có ít nhất 7 trường hợp mắc các chứng
bệnh do ăn uống với nguồn nước nhiễm asen và 50 trường hợp có hàm lượng asen niệu cao
hơn bình thường. Sau khi những thông tin này được công bố trên các phương tiện thông tin
đại chúng, các ban ngành liên quan ở địa phương và cộng đồng rất lo lắng về những ảnh
hưởng mà họ sẽ gặp phải do ăn uống nước ngầm bị nhiễm asen.
Hệ thống các câu hỏi chính:
1) Asen là gì? Các đặc điểm cơ bản của asen?
2) Các nguồn phát thải asen trong nước ngầm?
Trường Đại học Thăng Long
174
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II
3) Các nguy cơ sức khỏe do phơi nhiễm với asen trong nước ngầm ở tỉnh Hà Nam là
and human health. />4. Vai trò giả định
Là một nhóm chuyên gia về đánh giá nguy cơ sức khỏe môi trường đến từ Bộ môn Y
tế công cộng, Trường Đại học Thăng Long, nhóm anh/chị hãy đánh giá sơ bộ những ảnh
hưởng sức khỏe mà người dân có thể gặp phải do phơi nhiễm với asen trong môi trường đặc
biệt là asen trong nước ngầm và đề xuất một số giải pháp quản lý sức khỏe môi trường để
kiểm soát vấn đề này. Nhóm anh chị hãy chuẩn bị một bài trình bày bằng ppt để trình bày với
các bên liên quan ở địa phương (được đóng vai bởi các nhóm còn lại) về kết quả đánh giá của
nhóm cũng như các giải pháp kiểm soát mà nhóm đề xuất.
Lưu ý: Trong buổi trình bày sẽ có một trong hai nhóm phụ trách chủ đề này bốc thăm
trình bày còn các nhóm khác đóng vai là các ban ngành liên quan ở địa phương để đặt các câu
hỏi cho nhóm trình bày. Các nhóm đóng vai các ban ngành liên quan cần tìm hiểu trước một
số chức năng, nhiệm vụ và hoạt động liên quan đến vấn đề cấp nước sạch và sức khỏe cộng
đồng của các ban ngành mà nhóm đóng vai để đặt ra các câu hỏi thực tế. Trong quá trình thảo
luận, giảng viên đóng vai trò là người hướng dẫn, điều hành chung và có thể đưa ra các gợi ý
để kích thích sinh viên tham gia trao đổi sôi nổi và đi đúng trọng tâm của bài giảng.
5. Triển khai các hoạt động
Trường Đại học Thăng Long
175
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II
5.1. Hoạt động 1: Đánh giá sơ bộ những ảnh hưởng sức khỏe của phơi nhiễm
asen trong nước ngầm
5.1.1. Các hoạt động cụ thể
Sinh viên làm việc trong nhóm khoảng 3 - 5 người, cùng thảo luận dựa trên những tài
liệu liên quan do giảng viên cung cấp và sinh viên tự tìm kiếm trong quá trình làm việc để
hoàn thành hoạt động này. Các câu hỏi dưới đây giúp định hướng sinh viên trong quá trình
thào luận/làm việc nhóm.
truyền thông nào? Nội dung truyền thông là gì?
5.1.2. Kế hoạch thời gian
Giảng viên đưa ra tình huống, gợi ý hướng giải quyết và hướng dẫn tài liệu tham khảo
cho sinh viên trước 02 tuần (02 buổi học) để các em làm việc theo nhóm thảo luận trước và
chuẩn bị bài trình bày ở nhà, nhằm tiết kiệm thời gian thảo luận trên lớp, dành nhiều thời gian
cho tranh luận và phản biện.
Trường Đại học Thăng Long
176
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II
5.1.3. Sản phẩm
Mỗi nhóm sinh viên cần chuẩn bị 25 - 30 slides để trình bày trong khoảng 25 - 30 phút
trước các ban ngành đoàn thể liên quan tại Hà Nam về vấn đề ô nhiễm asen trong nước ngầm
và những vấn đề sức khỏe do phơi nhiễm asen.Sau buổi trình bày, 2 nhóm phụ trách chủ đề
này cần nộp bản in và file báo cáo.
5.2. Hoạt động 2.Đề xuất một số giải pháp giảm thiểu nguy cơ phơi nhiễm asen
trong nước ngầm
5.2.1. Các hoạt động cụ thể
Sinh viên làm việc trong nhóm khoảng 3 - 5 người, cùng thảo luận dựa trên những tài
liệu liên quan do giảng viên cung cấp và sinh viên tự tìm kiếm trong quá trình làm việc để
hoàn thành hoạt động này. Các câu hỏi dưới đây giúp định hướng sinh viên trong quá trình
thào luận/làm việc nhóm.
- Những giải pháp đã và đang áp dụng trên Thế giới và ở Việt nam để giảm thiểu nguy
cơ phơi nhiễm asen trong nước ngầm cho người dân? Ưu nhược điểm của các giải pháp này?
- Tìm hiểu những giải pháp giảm thiểu nhiễm độc asen đã và đang áp dụng tại địa
phương?
- Dựa trên điều kiện thực tế ở Việt Nam nói chung và tại Hà Nam nói riêng, theo
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II
4. Thuận lợi và khó khăn trong việc triển khai áp dụng phương pháp dạy - học
dựa trên tình huống
4.1. Thuận lợi
Các nội dung nghiên cứu của học phần Sức khỏe môi trường cơ bản và phòng chống
thảm họa vừa mang tính lý thuyết lại vừa gắn liền với các vấn đề thực tế xã hội, cộng đồng
đang phải đối mặt cho nên việc áp dụng phương pháp dạy học bằng tình huống trong môn học
này mang ý nghĩa tích cựcvà rất khả thi.
Các tình huống liên quan đến các nội dung học tập cũng dễ dàng tiếp cận và có thể xây
dựng tốt dựa trên những bối cảnh thực tiễn y tế công cộng.
Sinh viên y tế công cộng năm thứ hai đã được trang bị các kiến thức và kỹ năng như:
kỹ năng thuyết trình, kỹ năng làm việc nhóm,… nên việc tiếp cận với phương pháp học tập
này sẽ trở nên thuận lợi hơn và khả năng đạt hiệu quả cao hơn.
Bên cạnh đó, cơ sở vật chất tiện nghi, các trang thiết bị, phương tiện học tập phong
phú và hiện đại là điều kiện thuận lợi để triển khai thực hiện phương pháp giảng dạy này.
4.2. Khó khăn
Phương pháp dạy - học dựa trên tình huống khó có thể giúp giảng viêntruyền tải đầy
đủ những kiến thức cơ bản, thiết yếu về bài học. Vì vậy nó cần được phối hợp với các phương
pháp khác, ví dụ phương pháp thuyết giảng, phương pháp dạy học dựa trên vấn đề,…
Với các lớp đông, sẽ rất khó để mọi sinh viên đều có cơ hội phát biểu hoặc tham gia
đầy đủ các hoạt động học tập đồng thời giảng viên sẽ gặp khó khăn trong việc tổ chức lớp học
theo phương pháp này. Việc phân chia theo khu vực và sinh viên ngồi theo nhóm với nhau là
một biện pháp hữu hiệu, ngoài ra giảng viên phải làm việc tích cực hơn, di chuyển nhiều hơn
trong lớp học.
Giảng dạy theo phương pháp này đòi hỏi có nhiều thời gian, trong khi thời lượng dành
cho các học phần nhìn chung lại có xu hướng giảm bớt. Điều này đòi hỏi sinh viên phải dành
thêm thời gian tự học để chuẩn bị trước những yêu cầu do giảng viên đặt ra. Việc tư vấn cho
sinh viên cách tự đọc tài liệu, tự tìm tài liệu tham khảo và cách thức làm việc nhóm sẽ giúp
vào thực tế. Tạo tính chủ động nghiên cứu và phát huy được hết những lợi ích của làm việc
nhóm, định hướng học tập cho sinh viên cụ thể hơn. Việc phát triển các phương pháp dạy học
tích cực, học tập hợp tác không chỉ còn có ý nghĩa ngay trong quá trình học tập ở nhà trường
mà còn chuẩn bị cho sinh viên những kỹ năng cần thiết phục vụ cho quá trình công tác, làm
việc sau khi ra trường.
Để đạt được hiệu quả tốt hơn nữa của phương pháp dạy - học dựa trên tình huống,
người dạy nên kết hợp với các phương pháp giảng dạy tích cực khác phù hợp với nội dung và
mục tiêu truyền tải kiến thức của môn học.
6. Tài liệu tham khảo
[1]. Lê Văn Hảo, 2006, Sổ tay phương pháp giảng dạy và đánh giá. Trường Đại học
Nha Trang.
[2]. Trường Đại học Y tế công cộng, 2011, Sức khỏe môi trường (Tài liệu gảng dạy
cho đối tượng cao học). NXB. Lao động Xã hội.
[3]. Nguyễn Thị Phương Hoa, 2011, Sử dụng phương pháp tình huống trong giảng
dạy môn giáo dục học tại Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN. Đề tài nghiên cứu khoa học
cấp Đại học Quốc gia.
INTRODUCING SCENARIO BASED LEARNING (SBL) IN TEACHING BASIC
ENVIRONMENTAL HEALTH AND DISASTER PREVENTION MODULE AT
PUBLIC HEALTH DIVISION, THANG LONG UNIVERSITY
Ngo Thi Thu Hien
Dept. of Public Health, Thang Long University
Abstract: Module of basic environmental health and disaster prevention is one of the
important subjects belongs to training programs of Bachelor of Public Health. The content of
this module has both theoretical and the practical social problems associated with the public
health. Besides, the trend of innovative teaching methods in universities today specially the
application of credit training system is learner-centered, then applying the method of scenario
based learning (SBL) in this section is essential topromote self-learning ability, self-study of
students and contribute to improving the quality of education and training.
Keywords: environmental health, scenario, scenario based learning.