SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TIỀN GIANG
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN
TỔ HÓA - SINH
KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY
ĐỀ TÀI
BIỆN PHÁP SỬ DỤNG HÌNH VẼ, SƠ
ĐỒ, BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀ THỰC
HÀNH THÍ NGHIỆM TRONG HOẠT
ĐỘNG CỦNG CỐ BÀI HỌC
Người thực hiện: LÊ THỊ TUYẾT MAI
Năm học: 2012-2013
1
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I MỞ ĐẦU
1.1.
Lý do chọn đề tài
Trong quá trình dạy học, hoạt động củng cố bài học trên lớp là phần không
thể thiếu trong hệ thống các hoạt động được giáo viên tổ chức cho học sinh thực
hiện, nhằm hoàn chỉnh tiến trình dạy học trên lớp, giúp học sinh hiểu được kiến
thức trọng tâm của bài, hệ thống hoá kiến thức cơ bản, rèn luyện kĩ năng tư duy,
thực hành bộ môn. Đồng thời, qua hoạt động củng cố giúp giáo viên đánh giá được
mức độ hiểu bài của học sinh và sửa chữa, bổ sung kiến thức kịp thời. Từ đó, giáo
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận liên quan đến các biện pháp củng cố bài giảng từ
đó đề xuất một số biện pháp củng cố bài.
1.3.
Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng các hình thức củng cố phù hợp trong giờ lên lớp thì sẽ giúp học
sinh khắc sâu kiến thức, tạo niềm tin trong học tập từ đó tạo sự yêu thích và hứng
thú trong học tập bộ môn.
1.4.
Đối tượng nghiên cứu
Những hình thức củng cố nội dung bài giảng trong bài 11: “ Vận chuyển các
chất qua màng sinh chất” trong chương trình sinh học 10.
1.5.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
- Phương pháp chuyên gia.
1.6. Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu
-
Phân tích nội dung chương trình sinh học lớp 10 để chọn nội dung trọng tâm
cần củng cố đồng thời đảm bảo tính hệ thống, tính logic giữa các phần trong bài
dạy.
- Nghiên cứu cấu trúc, nội dung bài 11 trong chương trình sinh học 10.
- Nghiên cứu các tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học.
Củng cố bài giảng là một khâu quan trọng của bài giảng, là một yếu tố dẫn
đến sự thành công của bài giảng. Củng cố bài giảng giúp học sinh nhớ lại và khắc
sâu kiến thức hơn. Ngoài việc xác định kiến thức trọng tâm, học sinh còn có thể tự
đánh giá kết quả học tập của mình. Từ đó các em có thể điều chỉnh lại phương
pháp học sao cho phù hợp.
Bằng các phương pháp củng cố bài giảng cụ thể, giáo viên sẽ giúp học sinh
phát huy tính tích cực, chủ động trong việc tiếp thu nội dung bài, đồng thời mở
rộng và phát triển tư duy cho học sinh.
Củng cố bài giảng còn tạo điều kiện tương tác giữa giáo viên và học sinh.
5
Điều đó tạo hứng thú học tập cho học sinh, nuôi dưỡng bầu không khí lớp học, tạo
điều kiện để học sinh phát biểu ý kiến.
Củng cố bài giảng bằng thiết kế và sử dụng các sơ đồ, bảng biểu.
Biện pháp củng cố này giúp học sinh hiểu được kiến thức thông qua khả
năng phân tích, so sánh và móc nối các kiến thức.
Thường áp dụng với những bài mang tính so sánh hay tổng quát, có thể sử
dụng các sơ đồ, bảng biểu để hệ thống lại kiến thức.
Củng cố bài giảng bằng việc sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập.
Biện pháp này đánh giá việc học của học sinh, rèn cho học sinh khả năng
diễn đạt. Nhưng sẽ tạo áp lực cho các học sinh tiếp thu chậm và không hiểu bài
ngay tại lớp. Phương pháp áp dụng đối với những bài học nhiều lý thuyết.
2.3. Khái niệm bản đồ tư duy: là một kỹ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ
ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp tương thích với cấu trúc, hoạt động và
chức năng của bộ não giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não. Nó là
một công cụ tư duy nền tảng, là một trong những phương pháp dễ để chuyển tải
thông tin vào não rồi đưa ra ngoài. Bản đồ tư duy giúp giáo viên và học sinh trình
bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo, hệ thống kiến thức, ghi nhớ
và đưa ra ý tưởng mới.
7
1
2
3
Hãy cho biết 1, 2, 3 là những phương thức vận chuyển gì? Chất được vận chuyển
qua từng trường hợp?
Đáp án:
1. Vận chuyển chủ động. Chất được vận chuyển là những chất phân cực, kích
thước nhỏ như: K+, Na+, Cl-.
2. Khuếch tán qua kênh prôtêin. Chất được vận chyển là các chất phân cực,
ion, các chất có kích thước lớn ( nước, K+, Na+, Cl-, glucôzơ).
3. Khuếch tán trực tiếp qua lớp photpholipit kép. Chất được vận chuyển là chất
không phân cực và có kích thước nhỏ ( CO2, O2, lipit, rượu…)
Ví dụ 2: Cho hình sau hãy dự đoán hiện tượng sẽ xảy ra và giải thích:
Đáp án:
Đây là hiện tượng thẩm thấu: do nước trong cốc thủy tinh và ống nghiệm
8
được ngăn cách với nhau bởi màng bán thấm; nên nước từ cốc thủy tinh (nơi có
nồng độ thấp) di chuyển vào ống nghiệm (nơi có nồng độ cao hơn) làm nước trong
ống nghiệm dâng lên còn nước trong cốc thủy tinh sẽ hạ xuống.
Ví dụ 3: Cho hình sau đây, hãy chú thích những hiện tượng 1, 2 và 3. Giải thích
(3)
(3)
(3)
(2)
(a)
(3)
A
B
C
(b)
ATP
D
E
a) Gọi tên các thành phần tương ứng được kí hiệu (1), (2), (3) và (4) ở các hình
trên.
b) Từ mỗi hình trên, hãy nêu chức năng của prơtêin trong màng sinh chất.
Đáp án:
a) Chú thích hình: 1 = phơpholipit, 2 = cacbohidrat (hoặc glicơprơtêin), 3 =
prơtêin xun màng, 4 = các chất tan (hoặc các phân tử tín hiệu)
- Hiển thị đầy đủ các hình thức vận chuyển các chất qua màng sinh chất.
- Phân biệt được hình thức nào cần năng lượng hay không.
11
Khuyết điểm:
- Chưa thấy được các chất vận chuyển theo từng hình thức theo nguyên tắc
khuếch tán nào.
- Không thấy được khái niệm của từng hình thức.
- Không phân biệt được hình thức ẩm bào và thực bào đối với đối tượng chất
nào.
Bản đồ 2:
Ưu điểm:
- Liệt kê được các hình thức vận chuyển các chất qua màng sinh chất.
- Phân biệt được hình thức vận chuyển thụ động và vận chuyển chủ động về
mặt năng lượng và con đường vận chuyển.
- Phân biệt được đối tượng của hình thức ẩm bào và thực bào.
Khuyết điểm:
- Không nêu được khái niệm của từng hình thức vận chuyển.
- Chưa nêu được cách thức vận chuyển của xuất bào và nhập bào.
12
Bản đồ 3:
Ưu điểm:
- Bản đồ tư duy tương đối hoàn thiện so với bản đồ 1 và 2, màu sắc rõ ràng và
dễ hiểu.
- Liệt kê được các hình thức vận chuyển các chất qua màng sinh chất.
- Nêu được khái niệm của từng hình thức vận chuyển.
Hình 1: Quả ớt bình thường (A) và sau khi bị chẻ và ngâm vào nước (B)
A
B
Hình 2: Sợi rau muống bình thường (A) và sau khi bị chẻ và ngâm vào nước (B)
- Khi ngâm vào nước, sợi rau muống chẻ hoặc ớt bị cong lên do tế bào thực
vật hút nước làm tăng thể tích tế bào; do thành tế bào không đều, các tế bào
phía ngoài có thành dày hơn tế bào phía trong và thấm cutin nên nước hút
vào không đều nhau, vách tế bào phía trong mỏng hơn căng lên làm sợi rau
muống hoặc ớt cong ra phía ngoài.
Thí nghiệm 2: Tại sao muốn giữ rau tươi, ta phải vẩy nước thường xuyên?
Nhưng khi rửa rau, ngâm vào nước có pha muối quá nhiều thì rau lại bị héo?
15
A
B
Hình 3: Rau xà lách được vẩy nước (A) và sau khi bị ngâm vào nước pha muối (B)
- Muốn rau tươi phải vẩy nước vì nước thẩm thấu vào tế bào làm cho tế bào
trương lên nên rau không bị héo.
- Ngâm rau vào nước có pha nhiều muối làm nước từ bên trong tế bào thẩm
thấu ra bên ngoài tế bào do nồng độ chất tan ngoài tế bào ( nước pha muối)
lớn hơn bên trong tế bào (rau).
Thí nghiệm 3: Nho hoặc dâu ướp đường trong chậu một thời gian sau có hiện
tượng trái nho và dâu héo lại, nước lại xuất hiện trong chậu ngâm. Hãy giải
+ Giáo viên củng cố lại những kiến thức học sinh chưa hiểu rõ.
- Các hình thức hướng dẫn rèn luyện học sinh củng cố bài như sau:
+ Sử dụng hình vẽ và sơ đồ rèn luyện kĩ năng quan sát và xử lý thông tin.
+ Sử dụng bản đồ tư duy HS sẽ học được phương pháp học, tăng tính độc
lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy. Đồng thời giúp HS nắm được kiến
thức thông qua một “bản đồ” thể hiện các liên kết chặt chẽ của tri thức.
+ Sử dụng các thí nghiệm thực hành đơn giản giúp học sinh rèn luyện kĩ
năng thực hành và khả năng giải quyết vấn đề.
- Có thể lựa chọn nhiều hình thức củng cố bài phù hợp với mục tiêu bài, đối
tượng học sinh và thời gian thực hiện
2. Kiến nghị - đề xuất
- Tiếp tục nghiên cứu các hình thức củng cố bài dạy, chú trọng các hình thức
dạy lấy học sinh làm trung tâm, bổ sung thêm các phim ảnh phục vụ cho việc củng
cố bài học.
18
- Giáo viên trong tổ học hỏi kinh nghiệm tổ chức các hoạt động củng cố bài
dạy lẫn nhau để có thêm nhiều hình thức phong phú lôi cuốn học sinh tham gia.
- Trong biện pháp sử dụng bản đồ tư duy HS sẽ học được phương pháp học,
tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy. Đồng thời giúp HS nắm
được kiến thức thông qua một “bản đồ” thể hiện các liên kết chặt chẽ của tri thức
thì giáo viên không cần phải cho học sinh ghi bài như phương pháp truyền thống.
- Sử dụng thêm những dụng cụ và hóa chất trong phòng thực hành Sinh để các
hoạt động củng cố bài dạy thêm sinh động hứng thú với học sinh. Trong biện pháp
sử dụng các thí nghiệm thực hành đơn giản để giúp học sinh rèn luyện kĩ năng thực
hành thì cần phải có thêm thời gian phân phối cho nội dung bài học đó
- Ngoài ra có thể sử dụng các biện pháp củng cố khác:
Củng cố bài giảng bằng việc tổ chức các trò chơi.
Biện pháp này tạo sự vui vẻ, hứng khởi cho học sinh đối với môn học.
9. Huỳnh Văn Hoài - Vỏ Hữu Tình (2006), Câu hỏi và bài tập trắc nghiệm Sinh
học 10, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM.
10. Ngô Văn Hưng (2006), Giới thiệu giáo án Sinh học 10, NXB Hà Nội.
11.
12.
13. www.education.vnu.edu.vn
14.
20