ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
DƢƠNG VĂN MẠNH
Tên đề tài:
“TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở LỢN NÁI NUÔI TẠI
TRẠI LỢN CP, MỸ ĐỨC, HÀ NỘI VÀ DÙNG THUỐC ĐIỀU TRỊ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Sƣ phạm kỹ thuật nông nghiệp
Khoa: Chăn nuôi - Thú y
Khóa học : 2011 – 2015
Thái Nguyên, năm 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
DƢƠNG VĂN MẠNH
DƢƠNG VĂN MẠNH
Tên đề tài:
Tên đề tài:
“TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở LỢN NÁI NUÔI TẠI
“TÌNH
MẮC
phạm
kỹkỹ
thuật
nông
nghiệp
Chuyên
ngành:
phạm
thuật
nông
nghiệp
Khoa:
Chăn
nuôi
- Thú
y y
Khoa:
Chăn
nuôi
- Thú
Khóa
học
: 2011
– 2015
Khóa
học
: 2011
– 2015
Giảng
viên
năm2015
2015
i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập tại trường và thực hiện đề tài tại cơ sở,
ngoài sự nỗ lực của bản thân, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình
của nhà trường, của khoa, các thầy cô giáo và giáo viên hướng dẫn.
Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới.
Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ
nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa
đã tận tình quan tâm giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập tại trường.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn TS.
Phan Thị Hồng Phúc - Trưởng khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình dạy dỗ, chỉ bảo
em trong suốt thời gian thực tập để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Công ty Cổ phần chăn nuôi
Charoen Pokphand Việt Nam, chủ trang trại, cùng toàn thể anh chị em công
nhân trong trang trại của gia đình ông Nguyễn Sỹ Bình đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi để giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại trung tâm. Em xin
chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Nhân đây em xin bày tỏ lòng biết ơn đến những người thân trong gia đình và
bạn bè đã động viên, giúp đỡ em trong thời gian em theo học tại trường.
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2015
Sinh viên
Dƣơng Văn Mạnh
CP
: Charoen Pokphand
cs
: Cộng sự
FSH
: Follicle-stimulating hormone
GRH
: Gonando tropin Rellasing Hormone
HCG
: Human chorionic gonadotropin
LH
: Lutrino Stimulin Hormone
LMLM
: Lở mồm long móng
M.M.A
Phần 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ............................................................................... 22
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................ 22
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 22
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 22
3.3.1. Điều tra tình hình chăn nuôi tại trại lợn CP, Mỹ Đức - Hà Nội............ 22
vi
3.3.2. Xác định tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ........................... 22
3.3.3. Xác định sự thay đổi một số chỉ tiêu lâm sáng của lợn nái mắc bệnh viêm tử
cung (nhiệt độ, hô hấp, tuần hoàn, máu, màu sắc dịch viêm…) .......... 22
3.3.4. Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung ...................... 22
3.4. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi ................................... 22
3.4.1. Xác định một số chỉ tiêu lâm sang của nái khỏe và nái viêm tử cung .. 22
3.4.2. Phương pháp theo dõi thu thập số liệu .................................................. 23
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu..................................................................... 23
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 24
4.1. Công tác phục vụ sản xuất ....................................................................... 24
4.1.1. Công tác giống ...................................................................................... 24
4.1.2. Công tác chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn .................................................................. 24
4.1.3. Công tác thú y ....................................................................................... 27
4.1.4. Công tác khác…………………………………………………………32
4.2. Kết quả nghiên cứu .................................................................................. 37
4.2.1. Tình hình mắc bệnh viêm tử cung của đàn lơn nái nuôi tại trại lợn CP
Mỹ Đức, Hà Nội .............................................................................. 37
4.2.2. Một số chỉ tiêu lâm sàng của lợn nái mắc bệnh viêm tử cung .............. 38
4.2.3. Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung ....................................................... 39
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 40
đề nêu trên chỉ ra rằng việc nghiên cứu về bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái
ngoại và tìm ra phương pháp phòng trị bệnh là một việc làm cần thiết.
Xuất phát từ thực tế trên, nhằm nâng cao kiến thức cũng như góp phần
đẩy mạnh công tác chăn nuôi lợn ở Việt Nam, em tiến hành đề tài “Tình hình
mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái nuôi tại trại lợn CP, Mỹ Đức - Hà Nội và
dùng thuốc điều trị”.
2
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
Xác định được thực trạng tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn
nái ngoại nuôi tại trại lợn CP Mỹ Đức, Hà Nội.
Xác định hiệu quả phòng và điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái
sinh sản.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài là những tư liệu góp phần nâng cao hiểu
biết và làm phong phú thêm những kiến thức về bệnh viêm tử cung và các
phương pháp phòng, trị bệnh
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
Người sản xuất có thể ứng dụng các biện pháp chăm sóc quản lý phù
hợp, các biện pháp phòng tránh, điều trị bệnh viêm tử cung hiệu quả trên đàn
lợn nuôi, tăng năng suất chăn nuôi.
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
nang bậc hai. Noãn nang bậc hai có hai hoặc nhiều lớp tế bào nang nhưng
không có xoang nang (là khoảng trống chứa dịch nang). Noãn nang có xoang
được xem như noãn nang bậc ba, chứa dịch nang và có thể trở nên trội hẳn để
chuẩn bị xuất noãn (nang Graaf).
Khi nang Graaf xuất noãn, những mạch máu nhỏ bị vỡ và gây xuất
huyết tại chỗ. Sau khi xuất noãn, phần còn lại của nang noãn cùng với vết
xuất huyết được gọi là thể xuất huyết với kích thước nhỏ hơn nang noãn nhiều
lần. Sau đó tế bào bao trong và tế bào hạt biệt hóa thành tế bào thể vàng để
tạo nên thể vàng (Trần Thị Dân, 2004) [3].
* Ống dẫn trứng
Ống dẫn trứng (vòi Fallop) gồm có phễu, phần rộng và phần eo. Phễu
mở ra để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để gia tăng diện tích tiếp
xúc với buồng trứng khi xuất noãn. Phễu tiếp nối với phần rộng. Phần rộng
chiếm khoảng 1/2 chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và
mặt trong có nhiều nếp gấp với tế bào biểu mô có lông nhỏ. Phần eo nối tiếp
sừng tử cung, nó có thành dày hơn phần rộng và ít nếp gấp hơn.
Vai trò cơ bản của ống dẫn trứng là vận chuyển noãn và tinh trùng đến
nơi thụ tinh trong ống dẫn trứng (1/3 phía trên ống dẫn trứng), tiết các chất để
nuôi dưỡng noãn, duy trì sự sống và gia tăng khả năng thụ tinh của tinh trùng,
tiết các chất nuôi dưỡng phôi trong vài ngày trước khi phôi đi vào tử cung.
* Tử cung
Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và
niệu đạo trong xoang chậu, 2 sừng tử cung ở phần trước xoang chậu. Tử cung
được giữ tại chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và được giữ bởi các
dây chằng.
5
Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm 2 sừng thông với một
nhiên, các tuyến chỉ đạt được khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụng của
Progesterone. Sự phân tiết của tuyến tử cung thay đổi tuỳ theo giai đoạn của
chu kỳ động dục.
* Âm đạo
Âm đạo nối sau tử cung, trước âm hộ, đầu trước giáp cổ tử cung, đầu
sau thông ra tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có nếp gấp niêm mạc gọi là
màng trinh.
Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, đồng
thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các
chất dịch từ tử cung.
* Tiền đình
Là giới hạn giữa âm đạo và âm hộ. Tiền đình bao gồm:
- Màng trinh là một nếp gấp gồm 2 lá, phía trước thông với âm đạo,
phía sau thông với âm hộ. Màng trinh gồm các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do 2
lá niêm mạc gấp lại thành một nếp.
- Lỗ niệu đạo ở sau và dưới màng trinh.
- Hành tiền đình là 2 tạng cương ở 2 bên lỗ niệu đạo. Cấu tạo giống thể
hổng ở bao dương vật của con đực.
* Âm vật: Âm vật có cấu tạo như dương vật nhưng thu nhỏ, được dính
vào phần trên khớp bán động ngồi, bị bao xung quanh bởi cơ ngồi hổng.
* Âm hộ: Âm hộ hay còn gọi là âm môn, nằm dưới hậu môn và ngăn
cách với nó bởi vùng hồi âm. Bên ngoài có 2 môi đính với nhau ở mép trên và
mép dưới. Môi âm hộ có sắc tố đen, tuyến mồ hôi, tuyến bã tiết ra chất nhờn
trong và hơi dính.
2.1.1.2. Một số đặc điểm sinh lý của lợn nái
Đặc điểm sinh lý, sinh dục của gia súc nói chung và loài lợn nói riêng
đặc trưng cho loài, có tính ổn định với từng giống vật nuôi. Nó được duy trì
7
8
giống khi đã đạt một khối lượng nhất định tuỳ theo giống. Ngược lại, cũng
không nên cho gia súc phối giống quá muộn vì ảnh hýởng tới nãng suất sinh
sản của một ðời nái ðồng thời ảnh hýởng tới thế hệ sau của chúng.
* Chu kỳ tính và thời điểm phối giống thích hợp
- Chu kỳ tính
Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của lợn được diễn
ra liên tục và có tính chu kỳ. Các noãn bào trên buồng trứng phát triển, lớn
dần, chín và nổi cộm trên bề mặt buồng trứng gọi là nang Graaf. Khi nang
Graaf vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng. Mỗi lần trứng rụng con cái có
những biểu hiện ra bên ngoài gọi là động dục. Do trứng rụng có tính chu kỳ
nên động dục cũng theo chu kỳ (Khuất Văn Dũng, 2005) [4].
Chu kỳ tính ở những loài khác nhau là khác nhau và ở giai đoạn đầu
mới thành thục về tính thì chu kỳ chưa ổn định mà phải 2 - 3 chu kỳ tiếp theo
mới ổn định. Một chu kỳ tính của lợn cái dao động trong khoảng từ 18 - 22
ngày, trung bình là 21 ngày và được chia thành 4 giai đoạn: giai đoạn trước
động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục, giai đoạn nghỉ ngơi.
+ Giai đoạn trước động dục: Đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ tính,
kéo dài 1 - 2 ngày. Trong giai đoạn này có sự thay đổi cả về trạng thái cơ thể
cũng như trạng thái thần kinh. Ở giai đoạn này các noãn bao phát triển mạnh,
thành thục và nổi rõ trên bề mặt buồng trứng. Đường sinh dục bắt đầu xung
huyết nhanh, âm đạo tăng tiết dịch nhày, niêm dịch ở cổ tử cung tiết ra làm cổ
tử cung hé mở. Các noãn bao chín, tế bào trứng tách khỏi noãn bao. Tử cung
co bóp mạnh, cổ tử cung mở ra, niêm dịch chảy nhiều. Con vật bắt đầu xuất
hiện tính dục, âm hộ sưng lên, hơi mở có màu hồng tươi, cuối giai đoạn có
dịch nhờn chảy ra. Con vật giảm ăn, hay kêu rống, thích nhảy lên lưng con
khác nhưng không cho con khác nhảy lên lưng mình.
+ Giai đoạn động dục: Đây là giai đoạn tiếp theo và thường kéo dài từ 2
10
giống thích hợp nhất là vào giữa giai đoạn chịu đực.
Đối với lợn nái ngoại, lợn lai, thời điểm phối giống tốt nhất là sau khi
có hiện tượng chịu đực 6 - 8 giờ, hoặc cho phối vào cuối ngày thứ 3 và sang
ngày thứ 4 kể từ lúc bắt đầu động dục (thường theo kinh nghiệm lợn nái ngoại
và lợn nái lai thời điểm phối giống thích hợp: nếu lợn nái chịu đực trước 5
ngày sau cai sữa thì buổi sáng chịu đực thì buổi chiều phối, buổi chiều chịu
đực thì sáng hôm sau phối, còn lợn nái sau khi cai sữa 5 ngày trở lên chịu đực
lúc nào thì phối lúc đó).
Khi thực hiện thụ tinh nhân tạo, thấy lợn nái chịu đực buổi sớm thì cho
phối vào buổi chiều, nếu có triệu chứng chịu đực buổi chiều thì sáng hôm sau
cho phối, thường phối 2 lần (phối lặp) ở giai đoạn chịu đực “chặn đầu khoá
đuôi” của thời kỳ rụng trứng.
* Khoảng cách giữa các lứa đẻ
Khoảng cách giữa các lứa đẻ là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng
sinh sản của gia súc cái. Đây là tính trạng tổng hợp bao gồm thời gian có
chửa, thời gian bú sữa, thời gian từ cai sữa đến thụ thai lứa sau, do vậy
khoảng cách giữa lứa đẻ ảnh hưởng đến số con cai sữa/nái/năm, số lứa đẻ của
nái/năm. Thời gian mang thai của các giống lợn dao động không đáng kể
trong khoảng 113 - 115 ngày.
Để rút ngắn khoảng cách lứa đẻ ta chỉ có thể tác động bằng cách rút
ngắn thời gian bú sữa và cai sữa sớm ở lợn con. Hiện nay, tại các trang trại,
thời gian cai sữa ở lợn con là 21 ngày, sau cai sữa 5 - 6 ngày nái được phối.
Như vậy khoảng cách giữa các lứa đẻ tại các trang trại hiện nay trung bình là
140 ngày, một năm nái mẹ sản xuất được 2,5 lứa.
* Sinh lý đẻ
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], gia súc cái mang thai trong một
ACTH… STH kích thích quá trình trao đổi Lactoza, Cazein, MgSO4 ,
kháng thể…. Cazein trong sữa được tổng hợp được từ Glucoza, Fructoza
12
ở huyết tương. Mỡ sữa được tổng hợp từ Glycerin và axit béo.
- Quá trình thải sữa:
Quá trình thải sữa cũng nhờ cơ chế thần kinh thể dịch. Khi lợn con
bú tạo cảm giác truyền về thần kinh trung ương đến vùng dưới đồi kích
thích tuyến yên tiết Oxytocine. Oxytocine kích thích hệ cơ trơn đầu vú
co bóp đẩy sữa ra ngoài.
Sự tiết sữa của lợn nái là không đồng đều:
Lượng sữa được tiết ra trong một ngày đầu gọi là sữa đầu, sữa đầu
có thành phần khác với sữa thường. Trong sữa đầu có 13,7%
Prealbumin; 11,48% Albumin; 12,7% α-glubulin; 11,29% β-glubulin và
45,29% γ-glubulin. Đây chính là các kháng thể có chức năng miễn dịch
cho lợn con nếu lợn con được bú ngay lượng sữa đầu.
- Sự tiết sữa không đều theo lứa đẻ: sản lượng sữa tăng dần từ lứa
1 đến lứa 5 sau đó giảm dần.
2.1.2. Những hiểu biết về bệnh viêm tử cung ở lợn nái
2.1.2.1. Nguyên nhân của bệnh viêm tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], viêm tử cung là một quá trình
bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ. Quá trình viêm phá huỷ
các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia
súc làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái.
Đào Trọng Đạt và cs (2000) [6] cho biết: bệnh viêm tử cung ở lợn nái
thường do các nguyên nhân sau:
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng
phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn
Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], Trần Thị Dân (2004) [3] cho biết: khi
lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sẩy thai.
Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt. Khi mang thai, sự co
14
thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có
thể bám chặt vào tử cung.
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử
cung tiết nhiều Prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở
buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây
co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi
đến thể vàng. Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm
lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử
cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sẩy thai.
- Lợn mẹ bị viêm tử cung, bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu.
Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để
giúp phôi thai phát triển. Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng
Progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung
giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ
mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu.
- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong
giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy.
Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có
mặt của vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân
tiết kích thích tố tạo sữa Prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn
sữa. Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị
tiêu chảy, còi cọc.
Puerperalis): Lợn bị bệnh này thân nhiệt hơi cao, ăn kém, lượng sữa giảm.
Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, có khi con vật cong lưng rặn. Từ âm hộ
chảy ra hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ
chức chết… Khi con vật nằm xuống, dịch viêm thải ra ngày càng nhiều hơn.
Xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm. Kiểm tra qua
âm đạo, niêm dịch và dịch rỉ viêm thải ra nhiều. Niêm mạc âm đạo bình thường.
16
- Viêm nội mạc tử cung thể màng giả: Ở thể viêm này, niêm mạc tử
cung thường bị hoại tử. Những vết thương đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung
và chuyển thành hoại tử. Lợn nái mắc bệnh này thường xuất hiện triệu chứng
toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao, lượng sữa giảm, kế phát viêm vú, ăn uống
giảm. Con vật đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên. Từ cơ quan sinh dục
luôn thải ra ngoài hỗn dịch: dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức
hoại tử, niêm dịch…
* Viêm cơ tử cung
Theo Nguyễn Hữu Ninh và cs (2000) [11], viêm cơ tử cung thường kế
phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả. Niêm mạc tử cung bị thấm dịch
thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị
phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm
lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử. Nếu bệnh nặng, can
thiệp chậm có thể dẫn tới nhiễm trùng toàn thân.
Lợn nái bị bệnh này thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân
nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hoặc mất hẳn.
Mép âm đạo tím thẫm, niêm mạc âm đạo khô, nóng màu đỏ thẫm. Gia súc
biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục. Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra
ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên
có mùi tanh, thối. Con vật thường kế phát viêm vú, có khi viêm phúc mạc.
Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung.
Tuy nhiên cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có
những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết
tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra. Các chất đọng ở âm hộ lợn
nái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra.
Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ
chảy ra thì có thể là do viêm bàng quang. Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì
có thể bị nhầm lẫn.