Đánh giá về nguồn thu và cơ chế quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay kinh tế thị trường đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng đối
với nền kinh tế mỗi quốc gia, đưa mỗi đất nước phát triển.Tuy nhiên bên cạnh đó,
sự bất bình đẳng, phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng. Dù là một nước xã hội
chủ nghĩa hay nước tư bản thì quyền con người vẫn luôn được đặt lên hàng đầu.
Do vậy các quốc gia đã thực hiện nhiều biện pháp để bảo vệ quyền con người,
trong đó có BHXH. Có thể nói BHXH là một chính sách xã hội không thể thiếu
được của một quốc gia. Là một nước xã hội chủ nghĩa, với bản chất là nhà nước
của dân, do dân, vì dân, BHXH đã và đang ngày càng trở thành một công cụ hữu
hiệu để đất nước ta chống lại những khiếm khuyết do nền kinh tế thị trường mang
lại, bảo vệ quyền con người và đã thể hiện được tính ưu việt của chế độ ta-chế độ
xã hội chủ nghĩa. Nhưng để hoạt động được đòi hỏi BHXH phải có một nguồn tài
chính nhất định, đó là Qũy BHXH.
Trước đây quỹ BHXH nước ta thuộc ngân sách Nhà nước, người lao động
không phải đóng BHXH nhưng vẫn được hưởng. Từ khi quỹ BHXH tách khỏi
ngân sách Nhà nước trở thành một nguồn quỹ độc lập thì quỹ thực hiện theo
nguyên tắc có đóng-có hưởng, Nhà nước chỉ hỗ trợ khi cần thiết. Nếu ngân sách
không cấp kinh phí để chi cho đối tượng thời gian tham gia công tác trước ngày
1/1/1995 không phải đóng BHXH thì quỹ BHXH sẽ nhanh bị thâm hụt. Việc xây
dựng quỹ BHXH ngày càng lớn , quản lý quỹ BHXH hiệu quả là điều mà Nhà
nước luôn hướng tới. Tuy nhiên trong thực tế, luôn tồn tại rất nhiều khó khăn cho
những người làm công tác quản lý.
Nhận thấy tầm quan trọng BHXH, nhóm chúng tôi lựa chọn đề tài:
“Đánh giá về nguồn thu và cơ chế quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam
hiện nay” làm đề tài thảo luận của mình.
Page 1
I. Những vấn đề chung về BHXH
1. Khái niệm
Theo quy định tại Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội: Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm
thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc
mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp,
hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.
Cũng có thể định nghĩa: Bảo hiểm là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong
quá trình hình thành, phân phối và sử dụng quỹ nảo hiểm nhằm xử lý các rửi ro.
Các biến cố bảo hiểm, đảm bảo cho quá trình tái sản xuấ và đời sống xã hội được
ổn định và phát triển bình thường.
2.Một số nội dung cơ bản về bảo hiểm xã hội.
2.1Đối tượng BHXH :
-Là thu nhập của người lao động chứ không phải bản thân họ. Còn đối tượng đảm
bảo của BHXH là người lao động và gia đình họ theo quy định của pháp luật. Đối
tượng tham gia BHXH là người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước
trong một số trường hợp.
2.2 Nguyên tắc hoạt động:
- Người lao động phải có nghĩa vụ đóng góp một phần thu nhập của mình vào quỹ
BHXH một cách thường xuyên và đều đăn trong suốt thời gian lao động.
- Mức BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia sẻ
giữa những người tham gia BHXH;
- Mức đóng BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền lương,
tiền công của người lao động. Mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở
mức thu nhập do người lao động lựa chọn nhưng mức thu nhập này không thấp
hơn mức lương tối thiểu chung;
- Người lao động vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc, vừa có thời gian đóng
BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và tử tuất trên cơ sở thời gian đã
đóng BHXH;
- Quỹ BHXH được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử
dụng đúng mục đích, được hoạch toán độc lập theo các qũy thành phần của BHXH
hiệu quả năng suất lao động của doanh nghiệp lên.
Đối với nhà nước, bảo hiểm xã hội là một trong những bộ phân quan trọng giúp
ngân sách nhà nước giảm chi tới mức tối thiểu nhưng vẫn giải quyết được khó
khăn về đời sống cho người lao động và gia đình họ được phát triển an toàn hơn.
Sử dụng nguồn tài chính nhàn rỗi để tham gia vào thị trường tài chính nhằm mục
đích bảo toàn và phát triển quỹ BHXH.
2. Quỹ bảo hiểm xã hội
2.1 Khái niệm
Quỹ bảo hiểm xã hội là một quỹ tiền tệ giữ vị trí khâu tài chính trung gian trong hệ
thống tài chính quốc gia, được hình thành từ đóng góp của người lao động, chủ sử
dụng lao động và nguồn hỗ trợ của Nhà nước.Quỹ BHXH được Nhà nước bảo hộ
để tồn tại và phát triển. Mục đích chính của các chế độ BHXH là trợ cấp vật chất
cho người bảo hiểm khi gặp rủi ro đã được quy định trong luật.
2.2 Nguồn hình thành quỹ BHXH
Mỗi thời kỳ Nhà nước lại thay đổi chính sách thu quỹ BHXH, nhưng nói chung
quỹ BHXH dc hình thành từ những nguồn chính sau:
- Thu từ người sử dụng lao động
- Thu từ người lao động
- Ngân sách Nhà nước có sự hỗ trợ để đảm bảo thực hiện các chế độ đối với người
lao động.
-Các nguồn thu khác:
+ Tiền lãi từ việc thực hiện các phương án bảo toàn và phát triển quỹ BHXH
+ Thu từ các nguồn tài trợ của các tổ chức và các cá nhân
Page 4
Đánh giá về nguồn thu và cơ chế quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay
2.3 Một số nguyên tắc cơ bản trong việc Quản lý quỹ BHXH
- Tài chính BHXH là một quỹ tồn tại và hoạt động độc lập, cơ chế thu luôn phải
hộ. Sau đó các cơ quan này sẽ nhận dc 1 khoản lệ phí thu là 0.25 đến 0.5% Tổng số
tiền thu được. Như vậy phương thức thư trên đạt hiệu quả thấp. Chính vì vậy năm
1993 Chính sách thu BHXH đã được thay đổi. Theo quy định, hàng tháng cắc cơ
quan, các đơn vị đóng 15% tổng quỹ tiền lương để thực hiện BHXH, trong đó phần
Nhà nước thu theo kế hoạch là 8% nhưng thực tế chỉ thu được 20% của 8% để chi
cho các chế độ hưu trí.., còn lại 2% để lại cơ sở để trợ cấp khó khăn, Tổng Liên
Page 5
Đánh giá về nguồn thu và cơ chế quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay
đoàn lao động Việt Nam thu 5% để chi cho 3 chế độ ốm đau, thai sản…nên mức
thu được quá thấp. Ngân sách Nhà nước bù năm sau cao hơn năm trước.
Như vậy trong suốt thời kỳ lịch sử của đất nước từ khi Nhà nước Cộng hoà dân chủ
Việt Nam ra đời đến hết năm 1994, tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng giai đoạn, chế
độ chính sách bảo hiểm xã hội nói chung, công tác tổ chức thực hiện chế độ chính
sách bảo hiểm xã hội nói riêng cũng luôn thay đổi, bổ sung, sửa đổi cho phù hợp,
song nhìn chung trong cơ chế quản lý tập trung, bao cấp, việc tham gia bảo hiểm
xã hội được xác định bằng thời gian công tác hay gọi là thời gian cống hiến thì việc
xây dựng các chính sách bảo hiểm xã hội luôn được lồng ghép cùng với các chính
sách xã hội, chính sách kinh tế. Về cơ bản, chính sách bảo hiểm xã hội trong thời
kỳ này đã hoàn thành cơ bản nhiệm vụ và sứ mệnh của mình trong một thời kỳ dài.
Tuy nhiên, qua nhiều năm các văn bản pháp quy và văn bản hướng dẫn quá nhiều
nên không tránh khỏi sự chồng chéo, trùng lắp hoặc có những vấn đề không được
quy định, khó khăn cho việc thực hiện chế độ; có nhiều cơ sở cho việc vận dụng
gây nên mất công bằng xã hội; các văn bản tính pháp lý chưa thật cao, chủ yếu mới
ở dạng Nghị định, Điều lệ tạm thời, Quyết định, Thông tư. Về tổ chức bộ máy
thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội chưa tách chức năng quản lý Nhà nước ra khỏi
chức năng hoạt động sự nghiệp của bảo hiểm xã hội, còn phân tán, hoạt động kém
hiệu quả, sự phối hợp để giải quyết các vướng mắc cho đối tượng gặp nhiều khó
của Luật này đóng bằng 5% mức tiền lương, tiền công vào quỹ hưu trí và tử tuất;
từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là
8%.
2. Người lao động hưởng tiền lương, tiền công theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh
trong các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp thì mức
đóng bảo hiểm xã hội hằng tháng theo quy định tại khoản 1 Điều này; phương thức
đóng được thực hiện hằng tháng, hằng quý hoặc sáu tháng một lần.
3. Mức đóng và phương thức đóng của người lao động quy định tại điểm e khoản 1
Điều 2 của Luật này do Chính phủ quy định. 1. Hằng tháng, người sử dụng lao
động đóng trên quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của người lao động
quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 2 của Luật này như sau:
a) 3% vào quỹ ốm đau và thai sản; trong đó người sử dụng lao động giữ lại 2% để
trả kịp thời cho người lao động đủ điều kiện hưởng chế độ quy định tại Mục 1 và
Mục 2 Chương III của Luật này và thực hiện quyết toán hằng quý với tổ chức bảo
hiểm xã hội;
b) 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
c) 11% vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng
thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 14%.
2. Hằng tháng, người sử dụng lao động đóng trên mức lương tối thiểu chung đối
với mỗi người lao động quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2 của Luật này như sau:
a) 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
b) 16% vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng
thêm 2% cho đến khi đạt mức đóng là 22%.
Page 7
Đánh giá về nguồn thu và cơ chế quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay
3. Người sử dụng lao động thuộc các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư
nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh thì mức đóng hằng
3. Hằng tháng, Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công
tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất
nghiệp và mỗi năm chuyển một lần.
4. Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ.
5. Các nguồn thu hợp pháp khác.
Thu BHXH bắt buộc
Quỹ ÔĐ, TS,
TNLĐ, BNN
Ghi chú
(4% quỹ tiền
lương)
Năm
Trong đó
Tổng
Quỹ
BHXH thu Quỹ hưu
được (20% trí, tử tuất
(16% tiền
tiền lương)
lương)
(tỷ đồng)
(tỷ đồng)
Năm 2008
30.810
so
với 6.201
20,1%
= 4.730
19%
(tỷ đồng)
= 1.243
26,1%
=
7.402
= 1.471
24,8%
Ước thực
hiện
=
Như vậy, tổng quỹ thu BHXH bắt buộc năm sau đều cao hơn năm trước
nhưng thấp hơn tốc độ điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu và tổng số đối tượng
tăng thêm.
Số thu BHXH năm 2009 là 39.873,6 tỷ đồng (trong đó: 37.011,4 tỷ đồng thu
BHXH bắt buộc; 65,6 tỷ đồng thu BHXH tự nguyện; 2.796,6 tỷ đồng thu bảo hiểm
thất nghiệp), tăng 29,6% tương ứng 9.052 tỷ đồng so với năm 2008.
Năm 2008, số lãi đầu tư đã thu được gần 9 nghìn tỷ đồng với tỷ lệ lãi bình
và người lao động thuộc diện phải tham
gia BHXH nhưng chưa tham gia
BHXH. Đồng thời đôn đốc, kiểm tra,
đối chiếu thường xuyên để thu đúng, thu
đủ kịp thời số tiền BHXH phát sinh theo
quỹ lương hàng tháng, hàng năm. Bên
cạnh đó, là công tác
truy thu nợ
đọng để ngăn chặn không để có công nợ
phát sinh.
Nhược điểm
- Các cơ quan thực thi pháp luật chưa
xác định và quản lý chính xác được số
lượng đối tượng đóng BHXH bắt
buộcchiếm khoảng 67% số người phải
tham gia BHXH bắt buộc
- Tình trạng nợ đọng, chậm đóng bảo
hiểm xã hội vẫn tồn tại ở không ít các
đơn vị sử dụng lao động:
-Tình trạng trốn, nợ, chiếm dụng
- Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp
luật lao động và pháp luật BHXH còn
nhiều hạn chế.
- Mặt khác trong việc quản lý thu còn có
một số công việc chưa thực hiện kịp thời
đầy đủ theo quy định như việc kiểm tra,
đối chiếu, đôn đốc tiến độ nộp BHXH.
- Tỉ lệ đóng góp và cơ cấu đóng góp vào
quỹ hiện nay chưa hợp lý. Thực ra để
+ Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là các BHXH tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương (gọi tắt là BHXH tỉnh).
+ Ở các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là các BHXH quận, huyện, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi tắt là BHXH huyện).
2. Quản lý đối tượng tham gia BHXH
Kể từ sau khi luật BHXH có hiệu lực đi vào thực hiện đến nay, nhìn chung
BHXH các tỉnh đã nỗ lực trong việc tổ chức, triển khai thực hiện Luật, số lượng
đối tượng tham gia ngày một tăng, công tác quản lý đối tượng thu BHXH bước đầu
đã đi vào nề nếp ...
Một số thành quả :
+ Số lượng người tham gia BHXH ngày càng tăng lên. Nếu như năm 1997, cả
nước mới chỉ có trên 3,5 triệu người tham gia BHXH bắt buộc thì đến hết năm
2010 con số này là 9,4 triệu người (tăng 2,7 lần), trong đó: khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh tăng 29,2 lần; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 9,8
lần; khu vực hành chính sự nghiệp tăng 1,7 lần. Riêng khu vực doanh nghiệp Nhà
nước giảm 0,3 triệu người tương ứng với 17,2% do thực hiện cổ phần hóa. Việc
triển khai các chính sách mới theo quy định của Luật BHXH như BHXH tự
nguyện, BH thất nghiệp cũng được quan tâm chỉ đạo. Tính đến hết năm 2010, cả
nước đã có 67,319 người tham gia BHXH tự nguyện và trên 07 triệu người tham
gia BH thất nghiệp.Tính đến ngày 31/10/2011, số người tham gia bảo hiểm xã hội
(BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) là 55.581.887 người, trong đó số người tham gia
BHXH, BHYT bắt buộc là 9.885.397 người (trong đó: có 7.724.590 người tham gia
bảo hiểm thất nghiệp (BHTN)); tham gia BHXH tự nguyện: 90.694 người; chỉ
tham gia BHYT: 45.605.796 người.
+ Tháng 10/2011, toàn Ngành giải quyết 67.612 lượt người hưởng chế độ
BHXH tăng 4,87% so với tháng 9/2011, bao gồm: 10.861 người hưởng BHXH
Page 11
Đánh giá về nguồn thu và cơ chế quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay
BHXH, BHYT với tổng số tiền là 192 tỷ đồng. Trong số này, một số doanh nghiệp
thực sự gặp khó khăn trong thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm cho người lao động
do thua lỗ trong sản xuất - kinh doanh. Nhưng còn phần lớn các doanh nghiệp
khác, chủ sử dụng lao động thường cố tình trốn tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã
hội để hưởng lợi. Đây là thực trạng tồn tại phổ biến và kéo dài nhiều năm ở các địa
phương trên cả nước, gây ảnh hưởng xấu đến các chính sách an sinh xã hội của
Chính phủ, sự phát triển bền vững của quỹ BHXH. Nghiêm trọng hơn, việc chủ sử
Page 12
Đánh giá về nguồn thu và cơ chế quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay
dụng lao động cố tình chiếm dụng tiền đóng BHXH, sẽ khiến người lao động
không được thụ hưởng các loại hình trợ cấp thai sản, ốm đau, tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp… Bởi, theo quy định của ngành BHXH, đơn vị chậm đóng
BHXH sẽ bị khoanh sổ, dừng chi trả chế độ cho người thuộc đơn vị mình.
Hành vi chiếm dụng số tiền đóng BHXH của người lao động lên đến hàng
trăm triệu đồng, việc đã thu 5% tiền lương đóng BHXH của người lao động để sử
dụng vào mục đích khác, ngoài ra còn có hành vi lạm dụng sử dụng quỹ BHYT,
BHTN một cách tràn lan…
Nguyên nhân của những tồn tại trên:
Mặc dù từ ngày 1-10-2010, mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực BHXH đã được tăng lên theo quy định mới tại Nghị định số 86/2010/NĐ-CP.
Cụ thể, mức phạt tiền tối đa đối với hành vi không đóng BHXH bắt buộc, tăng từ
20 triệu lên 30 triệu đồng.. Song thực tế, mức xử phạt này vẫn còn quá “nhẹ”; cộng
thêm việc lãi suất nợ BHXH thấp hơn lãi suất ngân hàng nên thay vì phải đóng
khoản tiền tham gia BHXH lên đến hàng trăm triệu đồng/năm, nhiều doanh nghiệp
chấp nhận vi phạm, chịu xử phạt hành chính ở mức cao nhất (theo quy định cũ là
20 triệu đồng) và trả lãi suất nợ BHXH.
- “Kẽ hở” trong luật lao động đã tạo cớ cho các doanh nghiệp trốn đóng bảo hiểm
đòi hỏi sự hoàn thiện hệ thống pháp luật về lao động hiện hành. Chẳng hạn, hành
vi chiếm dụng số tiền đóng BHXH của người lao động lên đến hàng trăm triệu
đồng trở lên cần được xem là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng và phải xử
lý hình sự…Biểu hiện cụ thể là trong sáu tháng đầu năm 2011, BHXH TPHCM đã
kiện gần 60 doanh nghiệp nợ tiền BHXH và đã thu hồi được 6,3 tỷ đồng trong tổng
số 15,3 tỷ đồng. Theo thống kê, từ cuối năm 2008 đến nay, BHXH TPHCM đã
khởi kiện hơn 270 doanh nghiệp, thu hồi 65 tỷ đồng/121 tỷ đồng. Các doanh
nghiệp chây ỳ, không chịu trả nợ sẽ tiếp tục bị khởi kiện.
-Đối với số doanh nghiệp nợ trên ba tháng, sau khi kiểm tra đôn đốc mà không
chuyển biến, cơ quan BHXH sẽ chuyển hồ sơ đề nghị Thanh tra lao động xử phạt,
nếu tiếp tục chây ỳ thì sẽ kiện ra tòa án.
-Ngày 26/10/2011 Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành công văn
3624/LĐTBXH-TTr về tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện Luật Bảo
hiểm xã hội
-Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 92/2011/NĐ-CP ngày 17/10/2011 về việc
quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm y tế. Theo nghị
định, những doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động trốn đóng bảo hiểm y tế cho
người lao động sẽ bị phạt tiền từ 0,5-30 triệu đồng. Các hành vi vi phạm tùy theo
mức độ sẽ bị cảnh cáo hoặc phạt tiền, mức phạt tiền tối đa xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực bảo hiểm y tế là 40 triệu đồng.(Nghị định này sẽ chính thức có
hiệu lực từ ngày 1/12/2011./)
-Nâng mức phạt, nâng mức ràng buộc
Trước thực trạng doanh nghiệp "trốn" đóng bảo hiểm thất nghiệp hiện nay, ông
Mai Đức Chính, Phó chủ tịch Tổng liên đoàn Lao độngViệt Nam cho biết, Công
đoàn lao động và Thanh tra Bộ LĐ- TB&XH tăng cường giám sát các doanh
nghiệp trong việc thực hiện chế độ thôi việc, mất việc và bảo hiểm thất nghiệp.
Theo đó sẽ tăng nặng mức xử phạt đối với hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội, thất
nghiệp. Tổng Liên đoàn cũng đang chỉ đạo các cấp công đoàn và cơ quan bảo hiểm
Page 14
người nghỉ hưu, nghỉ mất sức và tử tuất trước tháng 1/1995, theo báo cáo của
Chính phủ, thu –chi quỹ BHXH năm 2008 và 2009 như sau:
Thu BHXH bắt buộc
TT
Chi
tiết
Năm
Tổng quỹ
BHXH thu
được (20%
tiền lương)
(tỷ đồng)
Trong đó
Quỹ hưu trí,
tử tuất
(16% tiền
lương)
(tỷ đồng)
Page 15
Quỹ ÔĐ,
TS, TNLĐ,
BNN (4%
quỹ tiền
lương)
Ghi chú
6.201 =
20,1%
4.730 =
19%
1.471 =
24,8%
Ước thực
hiện
Chi BHXH do Quỹ BHXH bảo đảm
TT
Chi tiết
Năm
1
2
Năm 2008
Tăng so với năm
2007
Năm 2009
Tăng so với 2008
Tổng chi
quỹ BHXH
40,7%
4.951
1.827 =
58,5%
Từ hai bảng trên đã cho thấy:
-Tổng quỹ thu BHXH bắt buộc các năm sau đều cao hơn năm trước nhưng thấp
hơn tốc độ điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu và tổng số đối tượng tăng them.
-Tốc độ tăng thu quỹ BHXH tăng nhanh nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với tốc độ
tăng chi quỹ BHXH (không kể phần kinh phí Ngân sách nhà nước chuyển để chi
cho người nghỉ hưu, nghỉ mất sức trước năm 1995): năm 2008 thu tăng 29,7% so
với năm 2007 (30.810 tỉ đồng/23.755 tỉ đồng), trong khi chi tăng 47,7% (21.360 tỉ
đồng/14.465 tỉ đồng); năm 2009 : thu tăng 20.1% so với năm 2008 (37.011 tỉ
đồng/30.810 tỉ đồng) trong khi đó chi lại tăng 45,9%so với năm 2008 (31.155 tỉ
đồng/21.360 tỉ đồng)
-So sánh thu-chi quỹ hăng năm cho thấy, tốc độ chi quỹ tăng rất nhanh và xu
hướng tất yếu sẽ dẫn đến phải lấy vào quỹ kết dư để đảm bảo cân đối thu-chi hằng
Page 16
Đánh giá về nguồn thu và cơ chế quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay
năm, về lâu dài sẽ dẫn đến mất an toàn quỹ BHXH. Cụ thể, năm 2007 chi chiếm
61% so với quỹ thu được trong năm (14.465 tỉ đồng/23.755 tỉ đồng), năm 2008 là
69% (21.360 tỉ đồng/30.810 tỉ đồng) và năm 2009 là 84% (31.155 tỉ đồng/37.009 tỉ
đồng). Nếu chỉ so sánh chi-thu quỹ hưu trí, tử tuất tì chỉ số này còn cao hơn nữa và
việc mất cân đối quỹ dài hạn ngày càng rõ hơn: Năm 2007 chi chiếm 64% so với
quỹ thu được 912.244 tỉ đồng/19.004 tỉ đồng) thì năm 2008 là 73% (18.236 tỉ
đồng/24.879 tỉ đồng) và năm 2009 đã lên mức 88.5% (26.204 tỉ đồng/29.609 tỉ
đồng)
Đánh giá về nguồn thu và cơ chế quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay
và người sử dụng lao động với quy định trích nộp theo % lương của ngươi lao
động và quyc lương của doanh nghiệp. Hoạt động thu chi được thực hiện tương đối
thuận lợi với chi phí thấp mà hiệu quả công việc cao. Việc thu chi phân theo 3 cấp,
thu theo chuyển khoản, thực hiện chi trả thông qua đại lý là rất phù hợp với điều
kiện của Việt Nam hiện nay. Quỹ BHXH hiện nay luôn tăng trưởng qua các năm,
quỹ đang thay thế dần các khoản chi với tỉ trọng chi từ quỹ BHXH tăng, giảm tỉ
trọng chi từ NSNN. Việc ra đời và phát triển quỹ BHXH Việt Nam là bước ngoặt
lớn trong sự phát triển của ngành BHXh, đánh dấu sự chuyển biến về cơ chế quản
lý.
-Công tác thu được phân cấp, tổ chức thu hợp lý an toàn qua hệ thống tài khoản
thu BHXH Việt Nam.
Có 3 phân cấp quản lý của hệ thống BHXH Việt Nam là: cấp trung ương, cấp
khu vực, cấp cơ sở. Trên cơ sở phân cấp này hoạt động thu chi của BHXH được
triển khai rộng khắp cả nước. Việc thực hiên chủ yếu là thông qua chuyển khoản từ
tài khoản của doanh nghiệp vào tài khoản thuBHXh lập tại kho bạc Nhà nước, hay
ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam. Hình thức thu nộp trên
vừa đảm bảo tính an toàn, chính xác lại giúp cho các doanh nghiệp và cơ quan
BHXH thực hiện dễ dàng. Kết quả là số thu của BHXH Việt Nam năm sau luôn
tăng hơn năm trước, giảm tình trạng nợ đọng, trrons đóng, chậm đóng. Từ đó, quỹ
BHXH được ổn định, thực hiện theo đúng kế hoạch quản lý, bảo tồn và tăng
trưởng quỹ, đảm bảo được khả năng chi trả của quỹ BHXH.
-Quỹ có thu từ hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ, giảm được nhược điểm của cơ
chế quản lý PAYGO
Từ sau năm 1997 BHXH Việt Nam thực sự có thu từ hoạt động đầu tư tăng
trưởng quỹ, Dây là một hoạt động đóng vai trò thực sự quan trọng không những
làm tăng thu mà còn góp phần bảo đảm khả năng chi trả của quỹ BHXH.Tuy thu từ
BHXH trong tương lai. Bên cạnh đó, thị trường tài chính Việt Nam chưa thực sự
ổn định, tỷ lệ lạm phát tương đối cao, ảnh hưởng rất lớn tới việc thu quỹ BHXH.
-
Trên thực tế còn các hạn chế như sau:
+ Mặc dù bộ luật ở nước ta có quy định 2 loại hình BHXH nhưng mới chỉ có điều
lệ về loại hình BHXH bắt buộc còn BHXH tự nguyện vẫn mang tính chất áp dụng
thử nghiệm.
+ Hiện vẫn còn tồn tại sự lạm dụng quỹ bảo hiểm thông qua chi trả cho tai nạn
giao thông; giá thuốc trong quản lý và cung ứng qua BHXH còn gây nhiều áp lực,
đúng sai chưa rõ; đối tượng tham gia BHXH mới còn hạn chế…
+ Đối tượng chưa tham gia BHXH bắt buộc là số lượng không hề nhỏ.
+ Số đơn vị và đối tượng cũng như mức tiền lương đóng BHXH bắt buộc năm sau
cao hơn năm trước chưa đánh giá đúng mức tình hình thực hiện luật BHXH
+ Thực tế, tổng quỹ thu BHXH bặt buộc năm sau đều cao năm trước nhưng
thấp hơn tốc độ điểu chỉnh tăng mức lương tối thiểu và tổng số đối tượng tăng
thêm. Điều đó cho thấy, việc thu quỹ BHXH bắt buộc vẫn thụ động, phụ thuộc vào
việc đăng ký của tổ chức, doanh nghiệp chứ cơ quan quản lý chưa kiểm soát được.
+ Việc xác định đơn vị có sử dụng lao động phải tham gia BHXH giữa các
tỉnh là không thống nhất. Hiện có tỉnh dựa vào số liệu của ngành thuế, tỉnh dựa
trên số liệu thống kê chung, cũng có tỉnh thì tổ chức phối hợp rà soát, điều tra…
nhưng nhìn chung vẫn trên tinh thần thụ động.
Page 19
Đánh giá về nguồn thu và cơ chế quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay
+ Các đơn vị BHXH địa phương chỉ nắm bắt và xác định được khá chính xác
số lượng đối tượng tham gia BHXH thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp, doanh
Page 20
Đánh giá về nguồn thu và cơ chế quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay
Mở rộng đối tượng tham gia và phạm vi BHXH
Cần có biện pháp mở rộng đối tượng tham gia vào BHXH ra các lực lượng lao
động trong xã hội (nước ta chỉ mới có 14%lực lượng lao động tham gia vào BHXH
theo đúng tôn chỉ của tổ chức lao động thế giới.
Nâng cao hiệu quả đầu tư nguồn quỹ nhàn rỗi
Cần tích cực khai thác các khoản viện trợ ,đóng góp từ các tổ chức từ trong và
ngoài nước .
Mạnh dạn sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi đi đầu tư sinh lời vào mục tiêu phát triển
kinh tế đất nước vừa tăng việc làm cho xã hội ,mở rộng đối tượng tham gia bảo
hiểm xã hội ,vừa tránh để nguồn vốn chết để tăng thu từ lãi đầu tư .
Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý.
Ứng dụng CNTT trong quản lý BHXH đảm bảo tính chính xác, nhanh chóng,
thuận tiện nhất là việc quản lý đối tượng đóng và hưởng BHXH, quản lý quỹ
BHXH,xử lý thông tin đắc lực góp phần tăng cường cải cách hành chính trong
công tác quản lý và triển khai các hoạt động BHXH, góp phần công khai và minh
bạch quyền lợi và nghĩa vụ của đối tượng tham gia BHXH,đảm bảo công bằng, tạo
điều kiện thuận lợi cho các đơn vị sử dụng lao động và người lao động khi tham
gia BHXH…..
Kết luận
Một đất nước càng phát triển thì nhu cầu về BHXH ngày càng cao, do đó vấn dề
quản lý BHXH một cách hiệu quả ở Việt Nam là một nhiệm vụ hết sức khó khăn
đối với hệ thống BHXH trong điều kiện nền kinh tế - xã hội của đất nước. Với thực
trạng của quỹ như hiện nay thì có thể nhận thấy rằng việc hoạch định chính sách
phát triển cho công tác này càng trở thành một thách thức lớn. Hy vọng rằng cùng