TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HCM
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
TIỂU LUẬN
Môn: NGHIÊN CỨU TRONG KINH DOANH
Đề tài:QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG CỦA BA SẢN
PHẨM :KẸO SINGUM, XÀ PHÒNG LIFEBUOY VÀ NƯỚC MẮM
CHINSU
GVHD: Hà Thị Thanh Minh
Nhóm :10
Tp HCM,ngày 29/05/2014
1
DANH SÁCH NHÓM 10
CÔNG VIỆC
Sản phẩm kẹo sigum
Sản phẩm nước mắm
Sản phẩm kẹo sigum
Sản phẩm lifebuoy
Sản phẩm nước mắm
Sản phẩm kẹo sigum
Sản phẩm lifebuoy
2
LỜI CẢM ƠN
Đất nước ngày một phát triển, trong thời gian qua Việt Nam đã đạt được
nhiều thành tựu quan trọng phát triển kinh tế, ngày một hội nhập sâu vào nền
kinh tế thế giới và khẳng định được vị thế của mình trong khu vực cũng như
trên trường quốc tế. Xu hướng toàn cầu hoá ngày càng được thể hiện rõ rệt,
trong môi trường mới, nhiều cơ hội ngày càng mở rộng cho các chúng ta. Nhưng
đi liền với những cơ hội đó là những thách, môi trường đầy biến động và phức
tạp hơn. Đặc biệt từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức WTO và hiệp định về ưu đãi
thuế quan (CEPT) có hiệu lực hoàn toàn, thuế nhập khẩu giảm mạnh, thì tình
hình cạnh tranh trên thị trường nước ta lại càng quyết liệt hơn, sự cạnh tranh
không chỉ diễn ra giữa các công ty trong nước mà cả với các công ty sản xuất
hàng tiêu dùng của các nước Đông Nam Á, đây là một trở ngại rất lớn.
Tất cả những cơ hội và thách thức đó đặt ra cho các doanh nghiệp
Việt Nam trong đó có các doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo,xà phòng tắm,nước
mắm phải xác định hướng đi cho mình thật đúng đắn để tồn tại và phát
triển. Vậy làm thế nào để có ưu thế cạnh tranh hơn đối thủ cạnh tranh và cạnh
tranh được với các đối thủ khi họ có lợi thế cạnh tranh dài hạn mà mình không
có? Không chỉ với các doanh nghiệp Việt Nam mà cả đối với các công ty lớn trên
thế giới trong suốt qúa trình tìm giải pháp phát triển, có một câu hỏi luôn đặt ra
là: làm sao doanh nghiệp có thể giải quyết được mâu thuẫn giữa một bên là khả
năng có hạn của mình và đòi hỏi vô hạn của thị trường không chỉ bây giờ mà cả
cho tương lai. Giải quyết được mâu thuẫn ấy là mục tiêu của hoạch định chiến
lược kinh doanh. Trong chiến lược chung của toàn doanh nghiệp, chiến lược sản
phẩm có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng, nó là cơ sở để xây dựng và thực hiện
các chiến lược và kế hoạch khác như: chiến lược đầu tư phát triển, chiến lược
giá, chiến lược phân phối và các hoạt động xúc tiến hỗn hợp…
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm mục đích làm rõ chiến lược kinh doanh là gì, tầm quan trọng
của chiến lược kinh doanh trong doanh nghiệp, những yếu tố tác động tới việc
xây dựng các phương án chiến lược trong doanh nghiệp và phương pháp xây
7
Chương III: Xây dựng các phương án chiến lược kinh doanh cho ba sản
phẩm của ba công ty
Chương IV: Một số giải pháp nhằm thực hiện các phương án chiến lược
cho sản phẩm .
Em xin chân thành cảm ơn Cô giáo Hà Thị Thanh Minh đã nhiệt tình hướng
dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu giúp em hoàn thành bài tiểu luận này.
NỘI DUNG TỪNG SẢN PHẨM
8
A.KẸO CAO SU(SINGUM)
I. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG KẸO CAO SU
1.1
Lịch sử ra đời kẹo cao su.
Đầu tiên, xin trích dẫn một vài câu chuyện vui về lịch sử phát triển của kẹo
cao su, đầu tiên là thành công của William Wrigley – người đã lập ra công ty
Wriley lớn mạnh hàng đầu trong lĩnh vực kinh doanh kẹo cao su, và cũng là một
người tài ba trong việc tiếp thị kẹo cao su.Mùa xuân năm 1891 William Wrigley
Jr dời Philadelphia tới Chicago. Khi đó ông mới 29 tuổi, trong túi chỉ có vẻn vẹn
32$ và một mong muốn bắt đầu với công việc kinh doanh bằng chính thực lực
của mình. Bên cạnh lòng nhiệt tình và sức trẻ, Wrigley còn là một người bán
hàng tài năng. Là con trai của một nhà sản xuất xà bông, Wrigley đã mở rộng
được mối quan hệ kinh doanh của cửa hàng Xà bông Scouring vượt qua ngoài
dao cạo và những chiếc cân. Những quà tặng đi kèm này trở nên thành công tới
mức ông phải phát ra một catalog mẫu quà tặng cho khách hàng lựa
chọn.Wrigley cũng có nhiều kinh nghiệm trong việc dùng các chiến dịch quảng
cáo để thu hút khách mua hàng. Ông là một trong những người tiên phong
trong việc sử dụng các quảng cáo để tăng doanh thu và quảng cáo cho thương
hiệu. Ông nhận ra rằng lượng khách hàng chấp nhận sản phẩm của ông sẽ tăng
nhanh nếu ông nói với họ về lợi ích của sản phẩm trên báo, tạp chí quảng cáo,
biển hiệu hay những dạng truyền thông khác. Sau đó ngày càng nhiều khách sẽ
tới các cửa hiệu để tìm hiểu và mua kẹo của ông. Như vậy tự nhiên các cửa hàng
sẽ phải nhập kẹo Wrigley để đảm bảo số lượng khách hàng của mình.Ý tưởng
này đã được thực hiện khi Wrigley quyết đinhk tập trung vào việc tung ra thị
trường kẹo cao su hương vị bạc hà – sản phẩm được ông xếp vào loại cao cấp –
ngày nay đã trở nên nổi tiếng dưới nhãn hiệu Wrigley’s Spearley. Ban đầu sản
phẩm này bán rất chậm do đó Wrigley đã tiến hành quảng cáo có quy mô trên
3thành phố thuộc miền Đông là Buffalo, Rochester và Syracuse. Cuối cùng
Wrigley đã có được kết quả khả quan.Thông qua việc xuất khẩu hàng hóa sang
nhiều nước, Uwrigley đã trở nên nổi tiếng khắp thế giới. Một cách nhanh chóng,
công ty đã trở thành một cơ sở kinh doanh có tầm vóc quốc tế. Công xưởng đầu
tiên được mở ra ở nước ngoài là tại Canada vào năm 1910, năm 1915 – công
xưởng thứ hai tại Australia, năm 1927 tại Anh, 1939 tại New Zealand. Những
môi trường kinh doanh khách nhau trên thị trường quốc tế đòi hỏi nhiều mẫu
mã, chủng loại cũng như hương vị mới. Trong số đó có lẽ sản phẩm thành công
nhất ở nước ngoài là kẹo cao su dạng viên tròn – loại kẹo được bán rất phổ biến
dưới nhãn hiệu “P.K”.Trong suốt chiến tranh thế giới 2 Phillip Wrigley – con trai
và sau này là chủ tịch công ty – đã dẫn dắt công ty với những bước đi mới lạ
nhằm bảo vệ danh tiếng của nhãn hiệu. Vì chiến tranh, việc cung cấp những
nguyên liệu bị chững lại, trong khi đó thì nhu cầu kẹo cao su lại tăng cao. Một
lượng lớn kẹo cao su được cung cấp cho quân đội Hoa Kỳ, từ đó kẹo cao su đã
giúp xóa tan lo âu, nâng cao cảnh giác và cải thiện tinh thần của các chiên sỹ.
Công ty sản xuất kẹo chất lượng cao với lượng khá lớn tuy nhiên vẫn không
Kenya (1971) và Taipen,Taiwan (1978). Sau đó, để đáp ứng yêu cầu thay đổi
trong kinh doanh, công ty đã tiến hành hợp nhất những công nghệ máy móc mới
hiện đại hơn thay thế cho những cái trước đây. Năm 1954 tiến hành thay đổi ở
New Zealand, năm 1958 ở Australia, năm 1963 ở Canada, năm 1971 ở Anh và ở
Đài Loan vào năm 1985. Và vào mùa xuân năm 1991 để chinh phục một thị
trường mới, công ty đã mở một nhà máy ở Quảng Châu, Trung Quốc, ở Mỹ thì
xây dựng thêm nhà máy ở Santa Cruz, Canifonia năm 1954 và Gainesville,
Georgia.
Để thay đổi sở thích của khách hàng, Wrigley đã giới thiệu kẹo cao su Freedent,
kẹo hương quế Big Red và kẹo cao su dùng thay đổi bong bong lớn Hubba Bubba
vào giữa những năm 1970. Để đáp ứng nhu cầu về sản phẩm có vị ngọt ngon
hơn, vào năm 1984 Wrigley đã cho ra đời kẹo cao su ngọt nhiều hơn dưới tên
Extra. Ngày nay những kẹo cao su nhãn hiệu Wrigley đã trở thành sản phẩm yêu
thích của hơn 100 quốc gia trên thế giới và Wrigley được coi là công ty hàng
đầu.
11
II.GIỚI THIỆU
Thói nghiện kẹo cao su của người Mỹ Năm 1906, Frank Henry Fleer cho ra
đời loại kẹo cao su có thể tạo ra bong bóng, gọi là Blibber-Blubber. Nhưng nó
chẳng gây được tiếng vang nào. Bóng nổ ngay sau khi ra khỏi miệng và cao su
văng dính khắp mặt. Cho đến một ngày tháng 8-1928, một công nhân của Fleer
tên Walter Diemer đã tìm ra lời giải. Sau một năm phụ trách pha chế, Diemer đã
tìm được công thức hợp chất giúp tạo ra bong bóng to và sau khi bóng nổ thì lớp
12
110 chiếc. Đứng cuối bảng là Litva, người dân ở đây chỉ nhai trung bình 66 chiếc
kẹo cao su mỗi năm.Trong các nước Tây Âu thì đứng đầu là Thụy Sĩ, với 186
chiếc kẹo cao su trên đầu người mỗi năm. Đứng thứ nhì là người dân Ai-len với
173 chiếc. Đứng cuối bảng trong số các nước Tây Âu là người Đức với tiêu thụ
112 chiếc mỗi năm.1.4 Thị trường kẹo cao su Việt NamViệt Nam là một trong
những thị trường phát triển sau của kẹo cao su, sau khi đã du nhập hết ở bắc
Mỹ, Châu Âu … rồi sang Châu Á. Tuy phát triển sau nhưng thị trường kẹo cao su
Việt Nam cũng như Trung Quốc và các nước ở trong khu vực, luôn tỏ ra rất có
tiềm năng. Hàng loạt các sản phẩm mới của các hãng được tung ra ở đây nhằm
tranh giành thị phần. Tuy nhiên, là một thị trường phát triển sau và thường bị
chi phối bởi các kênh phân phối địa phương cho nên các chiến dịch Quảng bá
sản phẩm, hậu mãi khách hàng chưa thể làm tốt được như Châu Âu và Bắc Mỹ.
Ở đây chưa được đầu tư mạnh về các cơ sở, nhà máy sản xuất địa phương cũng
như chi nhánh quản lý của các hãng. Chỉ có một số ít các thương hiệu hoặc dòng
sản phẩm đã giành được thị phần lớn nhất ở Việt Nam, không ít các sản phẩm
mới tung ra được một thời gian đã thất bại, nhanh chóng bị người tiêu dùng
quên lãng.
Lý do cơ bản là vì cầu ở thị trường Việt Nam nói riêng và khu vực nói chung
tuy đang phát triển mạnh nhưng không thể bằng được các thị trường đã phát
triển trước đó. Ở đây, trong quân đội không có thói quen và cũng không được có
thói quen nhai kẹo cao su tóp tép như quân đội Mỹ hay các nước Châu Âu …
Trong khi ở Bắc Mỹ và Châu Âu, nguồn tiêu thụ kẹo cao su rất lớn là bán cho
quân đội.Ngoài ra người dân Việt Nam tiếp xúc và sử dụng kẹo cao su hầu hết là
ở độ tuổi thanh thiếu niên trở xuống. Một phần rất ít những người lớn tuổi có
thói quen và sử dụng các tính năng bảo vệ sức khỏe răng miệng của kẹo cao su
như Extra. Thanh thiếu niên Việt Nam cũng như khu vực, khác phương Tây ở
nền văn hóa. Nền văn hóa phương Đông vốn rất hay kỵ hoặc chậm chạp du nhập
các văn hóa phương Tây vào.Kinh tế xã hội Việt Nam đang trên đà phát triển,
hành truyện tranh đầu tiên để xây dựng hình tượng chàng nhóc Bazooka Joe.
Chữ “bazooka” không lấy từ nguồn gốc một loại vũ khí mà ngẫu nhiên xuất phát
từ tên loại nhạc cụ cho âm thanh vui nhộn làm từ ống và phễu, được sáng chế
bởi diễn viên hài Bob Burns năm 1930.
1.1 .thói nghiện kẹo cao su của người mỹ
Năm 1906, Frank Henry Fleer cho ra đời loại kẹo cao su có thể tạo ra bong
bóng, gọi là Blibber-Blubber. Nhưng nó chẳng gây được tiếng vang nào. Bóng nổ
ngay sau khi ra khỏi miệng và cao su văng dính khắp mặt. Cho đến một ngày
tháng 8-1928, một công nhân của Fleer tên Walter Diemer đã tìm ra lời giải. Sau
một năm phụ trách pha chế, Diemer đã tìm được công thức hợp chất giúp tạo ra
bong bóng to và sau khi bóng nổ thì lớp cao su dễ dàng bung ra, không dính tèm
15
lem vào mặt. Tuy nhiên, hôm sau, mẻ kẹo kế tiếp bị hư do Diemer không cẩn
thận ghi chép trọng lượng và số lượng các chất tạo thành hợp chất. Sau bốn
tháng thí nghiệm, ông thành công. Chewing-gum này được đặt tên Dubble
Bubble. Thói nghiện kẹo cao su của người Mỹ cuối thập niên 1930 là kết quả từ
sự thiếu thốn trong Thế chiến thứ hai. Đường cũng như tinh chất bạc hà được
chia theo khẩu phần và nguồn nhựa tự nhiên dùng làm chewing-gum nhập từ
miền Viễn Đông gần như cạn kiệt. Lúc này, lượng hàng tích trữ được tung ra với
giá cắt cổ, đôi khi đến 1 USD/viên. Một số người đã nghĩ ra cách bỏ chewinggum nhai rồi vào ly nước với hy vọng nó vẫn còn dẻo cho lần dùng sau. Sau Thế
chiến thứ hai, công việc kinh doanh trở nên sôi nổi, với cuộc cạnh tranh sống
mái giữa Công ty Topps và J. Warren Bowman với sản phẩm Blony (được quảng
cáo: “Thanh kẹo cao su bự nhất giá chỉ 1 xu”). Nhờ ký hợp đồng với hầu hết ngôi
sao bóng chày để in tên họ lên “danh thiếp chewing-gum”, Topps trở thành công
ty số một vào năm 1955 và một năm sau nó mua luôn Bowman. Frank Henry
Fleer trở thành công ty đầu tiên dùng dải giấy nhỏ in truyện tranh (cuốn quanh
thanh kẹo), đề cao chú bé gan dạ Pud và cậu bạn thân Rocky Roller. Năm 1953,
hình ảnh Pud bị lu mờ, khi Topps phát hành truyện tranh đầu tiên để xây dựng
Châu Âu và Bắc Mỹ. Ở đây chưa được đầu tư mạnh về các cơ sở, nhà máy sản
xuất địa phương cũng như chi nhánh quản lý của các hãng. Chỉ có một số ít các
thương hiệu hoặc dòng sản phẩm đã giành được thị phần lớn nhất ở Việt Nam,
không ít các sản phẩm mới tung ra được một thời gian đã thất bại, nhanh chóng
bị người tiêu dùng quên lãng.
Lý do cơ bản là vì cầu ở thị trường Việt Nam nói riêng và khu vực nói chung
tuy đang phát triển mạnh nhưng không thể bằng được các thị trường đã phát
triển trước đó. Ở đây, trong quân đội không có thói quen và cũng không được có
thói quen nhai kẹo cao su tóp tép như quân đội Mỹ hay các nước Châu Âu …
Trong khi ở Bắc Mỹ và Châu Âu, nguồn tiêu thụ kẹo cao su rất lớn là bán cho
quân đội.
Ngoài ra người dân Việt Nam tiếp xúc và sử dụng kẹo cao su hầu hết là ở độ
tuổi thanh thiếu niên trở xuống. Một phần rất ít những người lớn tuổi có thói
quen và sử dụng các tính năng bảo vệ sức khỏe răng miệng của kẹo cao su như
Extra. Thanh thiếu niên Việt Nam cũng như khu vực, khác phương Tây ở nền
văn hóa. Nền văn hóa phương Đông vốn rất hay kỵ hoặc chậm chạp du nhập các
văn hóa phương Tây vào.
Kinh tế xã hội Việt Nam đang trên đà phát triển, nhưng so về nhịp độ thì còn
thua xa các nước phát triển. Ở các nước phát triển, người ta đi lại nhiều, công
việc bận rộn và căng thẳng thì kẹo cao su cũng là một trong những lựa chọn
không tồi để giúp giảm bớt căng thẳng, xả stress hay giải trí trong lúc nghỉ ngơi.
Được biết ở các nước phát triển, kẹo cao su được tiêu thụ khá nhiều tại những
trạm xe bus, tàu điện ngầm hay những nơi công cộng đông người qua lại, phải
chờ đợi lâu …So với thế giới thì thị trường kẹo cao su ở Việt Nam đang ở dạng
tiềm năng và cần có sự đầu tư, tác động nhiều phía vào người tiêu dùng để nó
được phát triển mạnh mẽ
Cách thức để các sản phẩm kẹo cao su ở Việt Nam tiếp cận với người tiêu dùng
chủ yếu là qua Quảng Cáo trên truyền hình. Ngoài ra cũng có những chiến lược
17
Bazooka Joe. Chữ “bazooka” không lấy từ nguồn gốc một loại vũ khí mà ngẫu
nhiên xuất phát từ tên loại nhạc cụ cho âm thanh vui nhộn làm từ ống và phễu,
được sáng chế bởi diễn viên hài Bob Burns năm 1930. 1.3 Tiêu thụ kẹo cao su ở
một số nước ở Châu ÂuTheo thăm dò của hãng Wrigley, hiện hãng chiếm tới
90% thị trường kẹo cao su tại Séc, thì người dân Séc đứng thứ ba trong số các
nước Đông Âu về nhai kẹo cao su. Năm ngoái trung bình mỗi người Séc nhai hết
128 chiếc. Trong những nước thuộc khối Đông Âu cũ thì Séc chỉ đứng sau
Slovenia và Croatia.Tính về số kẹo cao su được tiêu thụ thì đứng đầu là Bắc Mỹ
và Tây Âu, nơi tiêu thụ trung bình lên tới gần 200 chiếc mỗi năm trên đầu
18
người.Trung bình mỗi năm người dân Slovenia nhai hết 167 chiếc kẹo cao su,
người Croatia 160 chiếc. Slovakia đứng thứ 6 trong những nước Đông Âu với
110 chiếc. Đứng cuối bảng là Litva, người dân ở đây chỉ nhai trung bình 66 chiếc
kẹo cao su mỗi năm.Trong các nước Tây Âu thì đứng đầu là Thụy Sĩ, với 186
chiếc kẹo cao su trên đầu người mỗi năm. Đứng thứ nhì là người dân Ai-len với
173 chiếc. Đứng cuối bảng trong số các nước Tây Âu là người Đức với tiêu thụ
112 chiếc mỗi năm.1.4 Thị trường kẹo cao su Việt NamViệt Nam là một trong
những thị trường phát triển sau của kẹo cao su, sau khi đã du nhập hết ở bắc
Mỹ, Châu Âu … rồi sang Châu Á. Tuy phát triển sau nhưng thị trường kẹo cao su
Việt Nam cũng như Trung Quốc và các nước ở trong khu vực, luôn tỏ ra rất có
tiềm năng. Hàng loạt các sản phẩm mới của các hãng được tung ra ở đây nhằm
tranh giành thị phần. Tuy nhiên, là một thị trường phát triển sau và thường bị
chi phối bởi các kênh phân phối địa phương cho nên các chiến dịch Quảng bá
sản phẩm, hậu mãi khách hàng chưa thể làm tốt được như Châu Âu và Bắc Mỹ.
Ở đây chưa được đầu tư mạnh về các cơ sở, nhà máy sản xuất địa phương cũng
như chi nhánh quản lý của các hãng. Chỉ có một số ít các thương hiệu hoặc dòng
sản phẩm đã giành được thị phần lớn nhất ở Việt Nam, không ít các sản phẩm
mới tung ra được một thời gian đã thất bại, nhanh chóng bị người tiêu dùng
nơi tiêu thụ trung bình lên tới gần 200 chiếc mỗi năm trên đầu người.Trung
bình mỗi năm người dân Slovenia nhai hết 167 chiếc kẹo cao su, người Croatia
160 chiếc. Slovakia đứng thứ 6 trong những nước Đông Âu với 110 chiếc. Đứng
cuối bảng là Litva, người dân ở đây chỉ nhai trung bình 66 chiếc kẹo cao su mỗi
năm.Trong các nước Tây Âu thì đứng đầu là Thụy Sĩ, với 186 chiếc kẹo cao su
trên đầu người mỗi năm. Đứng thứ nhì là người dân Ai-len với 173 chiếc. Đứng
cuối bảng trong số các nước Tây Âu là người Đức với tiêu thụ 112 chiếc mỗi
năm.
1.4.Thị trường kẹo cao su Việt Nam .
Việt Nam là một trong những thị trường phát triển sau của kẹo cao su, sau
khi đã du nhập hết ở bắc Mỹ, Châu Âu … rồi sang Châu Á. Tuy phát triển sau
nhưng thị trường kẹo cao su Việt Nam cũng như Trung Quốc và các nước ở
trong khu vực, luôn tỏ ra rất có tiềm năng. Hàng loạt các sản phẩm mới của các
hãng được tung ra ở đây nhằm tranh giành thị phần. Tuy nhiên, là một thị
trường phát triển sau và thường bị chi phối bởi các kênh phân phối địa phương
cho nên các chiến dịch Quảng bá sản phẩm, hậu mãi khách hàng chưa thể làm
tốt được như Châu Âu và Bắc Mỹ. Ở đây chưa được đầu tư mạnh về các cơ sở,
nhà máy sản xuất địa phương cũng như chi nhánh quản lý của các hãng. Chỉ có
một số ít các thương hiệu hoặc dòng sản phẩm đã giành được thị phần lớn nhất
ở Việt Nam, không ít các sản phẩm mới tung ra được một thời gian đã thất bại,
nhanh chóng bị người tiêu dùng quên lãng.
Lý do cơ bản là vì cầu ở thị trường Việt Nam nói riêng và khu vực nói chung
tuy đang phát triển mạnh nhưng không thể bằng được các thị trường đã phát
triển trước đó. Ở đây, trong quân đội không có thói quen và cũng không được có
thói quen nhai kẹo cao su tóp tép như quân đội Mỹ hay các nước Châu Âu …
20
Trong khi ở Bắc Mỹ và Châu Âu, nguồn tiêu thụ kẹo cao su rất lớn là bán cho
quân đội.Ngoài ra người dân Việt Nam tiếp xúc và sử dụng kẹo cao su hầu hết là
thường xanh Manilkara chicle, theo cách giống như lấy nhựa từ cây cao su. Kẹo
cao su chicle được ưa chuộng hơn so với kẹo cao su làm từ nhựa thông, bởi nó
mềm, mịn và giữ mùi vị lâu hơn.
21
Ngày nay, vì lý do kinh tế và chất lượng nên kẹo cao su thường làm từ cao su
tổng hợp, các hợp chất có tính đàn hồi, gum có trọng lượng phân tử cao…
Quy trình làm kẹo cao su
Tán nhỏ chất gum nền: chất gum nền thiên nhiên làm từ nhựa của các loại cây
như chicle (một loại cây thuộc giống hồng xiêm), jelutong, gutta-percha, thông…
Ngoài ra còn có các loại sáp parafin, sáp ong. Nếu sử dụng chất gum nền từ tự
nhiên thì hợp chất này phải qua một số xét nghiệm kiểm tra tạp chất trước khi
sử dụng. Hiện nay, kẹo cao su chỉ sử dụng một lượng tối thiểu hoặc hoàn toàn
không sử dụng cao su thiên nhiên mà thay thế bởi cao su tổng hợp như
butadien-styrene, polyethylene, và polyvinyl acetate. Chất gum nền tổng hợp này
cho phép kẹo cao su giữ được hương vị lâu hơn, kết cấu được cải thiện và độ
bám dính giảm. Chất gum nền ban đầu thường có dạng khối rắn lớn do đó phải
tán
thành
những
mảnh
nhỏ
hơn
trước
khi
sử
dụng.
Nấu chảy chất gum nền: đun nóng chất gum nền tới 900C - 1200C để tan chảy
23
Ngay các nhãn hàng kẹo đã thành danh trên thế giới cũng luôn có những nghiên
cứu và cho ra đời sản phẩm mới. Ví dụ như kẹo cao su Stride, thay đổi hương vị
từ hoa quả sang bạc hà để hấp dẫn người lớn. Kẹo Trident kết hợp nhiều hương
vị trái cây trong một viên kẹo, chẳng hạn như dâu tây và cam quýt, hoặc có thêm
vitamin C trong kẹo. Một số kẹo cao su của các hãng Nhật Bản còn bổ sung
collagen và thêm hương vị lạ hơn như lựu. Công ty BASF của Đức, sản xuất kẹo
có chứa một loại vi khuẩn lactobacillus, bảo vệ răng. Liên minh hợp tác xã
Consorcio Chiclero sản xuất loại kẹo cao su mới không bám dính vào quần áo, dễ
dàng loại bỏ và phân hủy tự nhiên trong môi trường. Về hình dáng, kích thước
và bao bì được sản xuất rất đa dạng. Kẹo Orbit đổi mới hình ảnh thông qua tài
trợ cho dự án điều trị ung thư vú với hình dải băng màu hồng trên bao bì…Các
thương hiệu nổi tiếng còn tập trung phát triển dòng sản phẩm kẹo cao su không
đường nhằm giảm phát triển mảng bám trên răng hay kẹo dành riêng cho
những người đang cố gắng bỏ thuốc lá.
24
Hiện nay, công ty nắm giữ nhiều SC nhất trong lĩnh vực kẹo cao su là Wrigley
với 1.884 SC, gấp đôi công ty đứng thứ hai là Warner Lambert và gấp hơn 4 lần
công ty đứng thứ ba là Cadbury.
Kẹo cao su: cạnh tranh gay gắt trên thị trường đã bão hòa
Kẹo cao su đã phát triển nhanh chóng trong thập kỷ qua, với doanh số bán
hàng toàn cầu tăng 37% kể từ năm 2001, theo Euromonitor. Tổng doanh thu từ
kẹo cao su đạt 24 tỉ USD trong năm 2010. Tuy nhiên, doanh số này không tăng
nhiều trong thời gian gần đây do thị trường đã có xu hướng bão hòa. Để thay