i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM VĂN ĐẠT
Tên đề tài:
TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON VÀ BIỆN PHÁP
ĐIỀU TRỊ BỆNH TẠI TRẠI LỢN HÀ, HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH
YÊN BÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Sƣ phạm kỹ thuật nông nghiệp
Lớp
: K43 - SPKT
Khoa
: Chăn nuôi thú y
Khóa học
: 2011 - 2015
Phạm Văn Đạt
iii
LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình học tập
của sinh viên trước khi ra trường, nhằm giúp sinh viên củng cố, hệ thống hóa
kiến thức đã học được, bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học,
thực tiễn sản xuất. Qua đó giúp sinh viên nâng cao trình độ chuyên môn, nắm
vững được phương pháp nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào sản xuất. Đồng thời tạo cho mình tác phong làm việc đúng đắn, tính sáng
tạo để sau khi ra trường về cơ sở sản xuất, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp
phát triển nền nông nghiệp nước ta.
Xuất phát từ cơ sở trên, được sự nhất trí của nhà trường, Ban chủ nhiệm
khoa Chăn nuôi - Thú y, sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn TS. Phạm
Thị Hiền Lƣơng và sự tiếp nhận của cán bộ công nhân tại Trại lợn Hà, huyện
Trấn Yên, tỉnh Yên Bái, em đã tiến hành thực hiện đề tài “Tình hình mắc
bệnh phân trắng lợn con và biện pháp điều trị bệnh tại trại lợn Hà,
huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái”. Do thời gian có hạn, trình độ chuyên môn
còn hạn chế, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều nên khóa luận của em còn nhiều
thiếu sót. Em rất mong được sự đóng góp, phê bình của các thầy cô giáo và
các bạn đồng nghiệp để bản khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
iv
DANH MỤC BẢNG
3.2. Nội dung ................................................................................................... 25
3.3. Phuơng pháp nghiên cứu .......................................................................... 25
3.3.1 Phuơng pháp điều tra.............................................................................. 25
3.3.2. Phuơng pháp bố trí thí nghiệm .............................................................. 26
3.3.3. Các chỉ tiêu theo dõi và phuơng pháp xác định .................................... 26
3.4. Phương pháp xử lý số liệu........................................................................ 26
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .......................... 27
4.1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ........................................................... 27
vi
4.1.1 Chăm sóc và nuôi dưỡng ........................................................................ 27
4.1.2 Công tác phòng bệnh cho lợn................................................................. 28
4.2. Kết quả nghiên cứu đề tài......................................................................... 33
4.2.1. Tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn con tại trại Hà Trấn Yên Yên Bái. ...33
4.2.2. So sánh hiệu lực điều trị bệnh phân trắng của hai phác đồ. . . . . . . . . .37
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .......................................................... 39
5.1. Kết luận .................................................................................................... 39
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 40
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay đất nước ta đang trên đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá,
cùng với sự phát triển của nhiều ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân,
không điều trị kịp thời và đúng phương pháp lợn con sẽ chết. Bệnh phân
trắng lợn con (Cilibacillosis) chủ yếu do nhóm vi khuẩn đường ruột E.Coli
gây ra. Ngoài ra bệnh còn do nhiều loại Salmonella (Sal.cholerae Suis,
Sal.typhi Suis…) và một số loại vi rút. Đây là một số bệnh phổ biến gây ra
những tổn thất không nhỏ cho người chăn nuôi, đặc biệt là những trại chăn
nuôi tập trung.
Từ yêu cầu thực tế sản xuất của Trại chăn nuôi Hà Yên Bái, được sự nhất
trí của khoa Chăn nuôi Thú y, cô giáo hướng dẫn thực tập tốt nghiệp và ban lãnh
đạo trại Hà-Yên Bái, em đã thực hiện chuyên đề: “Điều tra tình hình nhiễm
bệnh phân trắng lợn con ở trại lợn Hà, xã Nga Quán, huyện Trấn Yên, tỉnh
Yên Bái”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nắm đuợc đặc diểm dịch tễ học của bệnh phân trắng lợn con tại Trại
lợn Hà- huyện Trấn Yên- tỉnh Yên Bái
- Xác định đuợc hiệu lực điều trị của một số phác đồ, từ đó đề xuất
phuơng pháp điều trị hiệu quả.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
* Ý nghĩ khoa học:
Các kết quả nghiện cứu của đề tài là cơ sở khoa học góp phần phục vụ
cho các nghiện cứu tiếp theo của cơ sở sản xuất lợn con giống và làm tư liệu
nghiên cứu về bệnh Phân trắng tại Trại.
3
* Ý nghĩa thực tiễn:
Các kết quả điều trị bệnh bằng các phác đồ góp phần phục vụ sản xuất ở
Trại, kiểm soát và khống chế bệnh phân trắng trong đàn lợn nuôi tại cơ sở.
Nâng cao năng suất và chất lượng lợn con giống thương phẩm
5
lợn mẹ. Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân giải protein mà
chỉ có khả năng làm vón sữa đầu và sữa. Còn huyết thanh quản chứa Albumin
và Globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu.
Ở lợn con từ 14 – 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCL ở dạ dày
không còn gọi là trạng thái bình thường nữa. Việc tập cho lợn con ăn sớm có
tác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn
thiện. Vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCL. Bởi vì khi được bổ sung
thức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCL ở dạng tự do
sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác với con
trưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày).
Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2005) [15], cho rằng: Lợn con dưới 1
tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít và
nhanh chóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng này gọi là
Hypohydric. Do dịch vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn
chưa có khả năng tiêu hóa portein của thức ăn. Vì HCl tự do có tác dụng kích
hoạt men pepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men
này mới có khả năng tiêu hóa protein.
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [11], vì thiếu HCl tự do nên vi sinh
vật có điều kiện dễ dàng phát triển gây bệnh đường tiêu hóa, điển hình là bệnh
phân trắng lợn con. Do đó để hạn chế bệnh đường tiêu hóa có thể kích thích
vách tế bào dạ dày tiết ra HCl tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm
cho lợn con. Nếu tập ăn sớm cho lợn con vào lúc 5 - 7 ngày tuổi thì HCl tự do
có thể tiết ra từ 14 ngày tuổi.
Enzim trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợn
trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hóa thực tế của dịch vị có enzim,
sự tiêu hao của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các loại thức
ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh, hơn nữa dịch vị thu
7
Lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn
chỉnh nên thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệt
chưa cân bằng.
Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhau
thai, điều kiện sống tương đối ổn định. Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sống
hoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ mắc bệnh còi cọc và chết.
Ngoài ra lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen dự
trữ trong cơ thể lợn còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt khác diện
tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợn
con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn
thấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi.
Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng
tỏa nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ. Vì thế ở nước ta vào cuối mùa
đông đầu mùa xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt theo phương
thức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh. Đây là điều kiện
thuận lợi dẫn đến phát sinh bệnh tật, nhất là bệnh đường tiêu hoá.
* Đặc điểm về khả năng miễn dịch của lợn con
Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể. Phần lớn các chất
lạ là mầm bệnh. Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn con tương đối dễ dàng,
do chức năng của các tuyến chưa hoàn chỉnh. Lợn con lượng enzim tiêu hoá
và lượng HCl tiết ra còn ít, chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối
loạn trao đổi chất, dẫn tới khả năng tiêu hoá kém, hấp thu kém. Trong giai
đoạn này mầm bệnh (Salmonella spp, E.coli…) dễ dàng xâm nhập vào cơ thể
qua đường tiêu hoá và gây bệnh.
Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể. Lượng
kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ. Cho
9
nước trên thế giới. Đối với Việt Nam từ những năm trước cho tới nay bệnh
phân trắng lợn con vẫn phổ biến và xảy ra nhiều.
Là đất nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa (nóng ẩm, mưa nhiều, nhiệt
độ chệnh lệch gữa các thời gian trong năm là cao…). Đây là điều kiện lý
tưởng cho các nguyên nhân gây bệnh phát triển làm bùng phát dịch và sự
kiểm soát bệnh này theo đó cũng khó khắn hơn.
Đặc điểm dễ nhận thấy khi lợn con mắc bệnh này là lợn đi ỉa phân có
mà đặc trưng trắng đục, xám, vàng lẫn bọt khí… Lượng phân rơi vãi khắp
chuồng, phân dính ở hậu môn chân sau lợn bệnh. Lợn bệnh biểu hiện giảm
bú, gầy xút, lông xù thể nặng dẫn đến tử vong. Nếu qua khỏi thì cũng để lại
hậu quả thiệt hại về kinh tế, sức khỏe ảnh hưởng đến năng suất chất lượng đàn
lợn sau này.
* Nguyên nhân gây bệnh
Do bộ máy tiêu hóa của lợn chưa hoàn thiện nên ở giai đoạn sau thời kỳ
bú sữa đầu, lợn con có thể mắc nhiều bệnh, đặc biệt là bệnh phân trắng - một
bệnh khá phổ biết thường gặp ở lợn con theo mẹ.
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [1], bệnh lợn con ỉa phân trắng do trực
khuẩn E.coli gây ra là bệnh truyền nhiễm cấp tính ở dạng nhiễm trùng huyết
hoặc nhiễm độc đường ruột, viêm ruột ở lợn con, nhất là sau khi sinh, thậm chí
chỉ vài giờ. Có đến 48% trường hợp bị tiêu chảy ở lợn con là do E.coli gây ra.
E.coli là loại phổ biến nhất trong đường ruột, nó xuất hiện và sống trong
đường ruột của động vật chỉ vài giờ sau khi sinh. Khi điều kiện chăm sóc,
nuôi dưỡng kém sức đề kháng của con vật giảm thì E.coli cường độc và có
khả năng gây bệnh, chúng sản sinh ra độc tố (enterotoxin) phá hủy tổ chức
thành ruột làm thay đổi cân bằng quá trình thay đổi nước, điện giải. Nước
không được hấp thu từ ruột vào mà bị rút từ cơ thể vào ruột dẫn đến gây bệnh
sữa, chúng gặm, la liếm nền chuồng và thành chuồng nên dễ phát sinh bệnh
đường tiêu hóa.
11
Những hiểu biết về trực khuẩn Escherichia coli
Trực khuẩn ruột già Escherichia coli (E.coli) còn có tên khác là
Bacterium coli commune, Bacillus communis, do Escherich phân lập năm
1885 từ phân trẻ em. E.coli thường sinh sống ở phần sau của ruột, ít khi ở dạ
dày hay phần trước ruột của các loài gia súc, gia cầm và cả người.
Đặc điểm hình thái
E.coli là một trực khuẩn hình gậy kích thước từ 2 - 3 x 0,6 µm, trong cơ
thể có hình cầu trực khuẩn, đứng riêng lẻ, đôi khi xếp thành chuỗi ngắn.
Trong canh trùng gà, vi khuẩn dài 4 - 8 µm.
Phần lớn E.coli di động do có lông ở xung quanh thân, nhưng một số
không di động. Vi khuẩn không sinh nha bào, có thể có giáp mô.
* Độc tố
Vi trùng E.coli tạo ra 2 loại độc tố đó là nội độc tố và ngoại độc tố.
Ngoại độc tố: Là một chất không chịu được nhiệt dễ bị phá huỷ ở 560C trong
vòng 10h30 phút dưới tác dụng của formol và nhiệt, ngoại độc tố chuyển thành
giải độc tố, ngoại độc tố có hướng thần kinh và gây hoại tử.
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [1], hiện nay việc chiết xuất ngoại độc
tố chưa thành công mà chỉ phát hiện trong canh trùng của chúng mới phân lập
được khả năng tạo độc tố sẽ mất đi khi các chủng được giữ lâu dài hoặc cấy
chuyển nhiều lần trên môi trường dinh dưỡng.
* Nội độc tố
Là các yếu tố gây độc chủ yếu của trực khuẩn đường ruột E.coli, chúng
có trong tế bào vi trùng và gắn vào vi trùng rất chặt chẽ, nội độc tố có thể
chiết xuất bằng nhiều phương pháp: phá vỡ vỏ tế bào bằng cơ học hoặc chiết
nhận quá dễ dàng qua hàng rào bảo vệ đã tạo điều kiện cho sự xâm nhập của
các độc tố do chúng sinh ra vào các nhu mô chính, đó là những điều kiện gây
nên bệnh.
Vi trùng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá hoặc thai, chúng xâm
nhập vào niêm mạc ruột, sinh sản, phát triển trong các tế bào biểu mô ruột
13
gây viêm thuỷ thũng các hạch gây viêm thuỷ thũng hạch, sau đó vào máu.
Trong máu, chúng tiết ra độc tố làm cơ thể nhiễm độc dẫn tới trạng thái
hôn mê rồi chết.
* Triệu chứng lâm sàng
Bệnh thường gặp ở lợn con theo mẹ đặc biệt từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi,
thời gian ủ bệnh từ vài giờ đến 1 ngày.
Lợn con bị nhiễm E.coli yếu, chậm chạp, ít bú, thân nhiệt ít khi bị tăng
cao, cá biệt có con 40,5 - 410C, nhưng chỉ sau 1 ngày là hạ xuống ngay. Lợn
ỉa nhiều lần trong một ngày, phân lỏng, màu trắng như vôi, trắng xám màu xi
măng hoặc màu hơi vàng, mùi tanh. Bụng hóp lại, da nhăn nheo, lông xù,
phân dính xung quanh hậu môn, 2 chân sau rúm lại. Bệnh xảy ra quanh năm
nhưng chủ yếu vào vụ Đông xuân – Xuân hè, khi độ ẩm môi trường cao.
Bệnh thường gặp ở lợn con 2 – 21 ngày tuổi, mắc một vài con hoặc cả đàn, có
khi điều trị khỏi lại bị tái nhiễm.
Thể gây chết nhanh: những lợn 4 – 15 ngày tuổi thường mắc ở thể này.
Sau một đến hai ngày đi ra phân trắng, lợn gầy sút rất nhanh. Lợn kém bú rồi
bỏ bú hẳn, ủ rũ, đi đứng siêu vẹo. Niêm mạc mắt nhợt nhạt, 4 chân lạnh. Có
con hay đứng riêng một chỗ và thở nhanh. Phân từ ỉa nát rồi đến loãng. Số lần
ỉa tăng 1 – 2 lần trong ngày lên 2 – 4 ngày, trước lúc chết có hiện tượng quá
suy nhược, co giật hoặc run. Tỷ lệ chết 50 – 80%.
Thể bệnh kéo dài: hơn 20 ngày tuổi hay mắc thể này. Bệnh kéo dài từ
E.Coli gây ra thì phân có pH nghiêng về Bazơ, nguyên nhân do virut, cầu
trùng thì phân có pH nghiêng về axit, có thể phân lập vi khuẩn ở lớp niêm
mạc ruột non.
Phòng bệnh
Bệnh phân trắng lợn con được gây nên bởi rất nhiều nguyên nhân phức
tạp. Do đó cũng phải có nhiều biện pháp giải quyết các vấn đề ờ trên từng
15
khía cạnh của bệnh phân trắng cùng áp dụng đồng bộ, mới có thể hạn chế đến
mức thấp nhất những thiệt hại do bệnh gây ra.
* Phòng bệnh bằng vacxin
Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu vacxin để phòng bệnh
tiêu chảy ở lợn do vi khuẩn là chủ yếu, do đó các nghiên cứu đã tập trung chế
tạo vacxin từ vi khuẩn E. coli và Salmonella.
Sử dụng vacxin cho lợn nái mang thai bằng cách tiêm hoặc cho uống
trước khi đẻ 4 – 6 tuần để kích thích lợn mẹ đáp ứng miẽn dịch, sản sinh
kháng thể đặc hiệu trong máu, truyền qua sữa đầu, cung cấp cho lợn con sau
khi bú sữa (Nguyễn Thị Nội và cộng sự, 1989 ), [10]
Sử dụng vacxin trực tiếp cho lợn con uống để tạo ra các globulin miễn
dịch tiết tại đường ruột, nhằm mục đích bảo vệ bề mặt niêm mạc của ruột,
chống vi khuẩn bám dính xâm nhập, sản sinh độc tố gây bệnh
Gần đây một số nhà nghiên cứu còn dung hỗn hợp vi khuẩn đường ruột
E.Coli và Salmonella phân lập được từ cơ sở chăn nuôi để chế vacxin với mục
đích ngăn cản sự xâm hại của hai loại vi khuẩn này. Kết quả cho thấy vacxin
đã chế tạo được có khả năng ngăn cản sự bám dính và xâm nhập của E.coli và
Salmonella vào các tế bào biểu mô ruột.
Hiệu lực miễn dịch của vacxin này tương đương với hiệu lực của vacxin
sống, cao hơn vacxin chết hoặc vacxin lipopolixacchorid chiết xuất. Năm
kháng sinh tràn lan, do đó biện pháp này đã được hạn chế đi nhiều
Điều trị
Cho đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về điều trị
bệnh. Do nguyên nhân gây bệnh phức tạp và đặc biệt là khă năng kháng thuốc
của vi khuẩn là rất lớn và nhanh nên việc điều trị gặp nhiều khó khăn. Để có
hiệu quả việc điều trị phải tiến hành sớm khi bệnh mới phát sinh bằng nhiều
biện pháp. Tổng hợp để vừa diệt căn nguyên, vừa điều trị triệu chứng.
17
* Dùng kháng sinh
Khi sử dụng kháng sinh điều trị bệnh nên tuân thủ đúng liệu trình từ 35 ngày. Song song với việc dùng kháng sinh thì việc cần thiết là phải tập
trung giải quyết vấn đề môi trường, nhiệt độ chuồng nuôi, cần duy trì ở 30 –
34oC đối với lợn con theo mẹ, lợn sau cai sữa là 29,5oC.
Có thể điều trị kháng sinh kết hợp với việc sử dụng các chất điện giải
cho uống. Trong một số trường hợp, đối với những đàn có nguy cơ mắc bệnh
cao, việc sử dụng kháng sinh điều trị dự phòng có thể bắt đầu sớm và nên áp
dụng trên toàn đàn. Nên áp dụng biện pháp cách ly con vật bị bệnh với những
con khác vì khi lợn bị tiêu chảy đều được coi đã có sự nhiễm khuẩn.
Trịnh Văn Thịnh (1985) [16] đã dùng Strepptomycin với liều: 1,2 – 1,8
triệu UI/con trong 1 ngày, sau 5 ngày, tỷ lệ chữa khỏi 60 – 80% .
Trong thực tế, nên sử dụng kháng sinh phổ rộng ngay từ đầu trong khi
chờ có kết quả chính thức của kháng sinh đồ. Các nhà chuyên môn khuyến
cáo nên sử dụng phối hợp Ampicillin, Trimethoprim và Sulphamethoazole
hoặc Cephalothin.
Tuy nhiên, các tác giả cũng lưu ý rằng: hiệu quả sử dụng các loại kháng
sinh để điều trị hội chứng tiêu chảy xê dịch trong một thời gian khác nhau
đáng kể, tuỳ thuộc vào từng địa phương và trong cung một địa phương thì
hiệu quả sử dụng thuốc giảm dần theo thời gian. Nguyên nhân dẫn đến hiện
lấy lại cân bằng của khu vi sinh vật đường ruột.
* Điều trị triệu chứng
Lợn con bị tiêu chảy thường dẫn đến tình trạng mất nước và có biểu hiện
rối loạn nghiêm trọng các chất điện giải. do đó điều trị bằng thuốc cần phải
kịp thời chống mất nước và chất điện giải cho lợn con đồng thời lên trợ tim
cho lợn con bằng cafein 20% bổ sung đường glucose, tăng cường các
vitamin đặc biệt vitamin nhóm B
19
*Khôi phục hệ vi sinh vật đường ruột
Khôi phục và ổn định trạng thái cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột
sẽ có hiệu quả tốt đến hiệu quả điều trị. sử dung chế phẩm biosubtyl để điều
trị tiêu chảy cho lợn con trước và sau cai sữa cho tỷ lệ lợn con mắc tiêu chảy
giảm, khả năng tăng trọng tốt.
2.1.3. Thành phần và cơ chế tác dụng của một số thuốc điều trị bệnh
* Thuốc Amcoli
- Thành phần:
Trong 100ml chứa Ampicillin – 10.000 mg:
Colistin sulphate: 25.000.000 U1
Tá dược vừa đủ: 100ml
Colistin sulphate là một kháng sinh thuộc nhóm Polypeptid, có hoạt tính
diệt khuẩn cao đặc biệt với vi khuẩn Gram (-) như: E.coli, Enterobacter
aerogenes, Salmonella, Shigella, Pasteurella, Pseudommas aeruginosa. Nó
không có tác dụng với các vi khuẩn và các vi khuẩn Gram (+).
Colistin không bị hấp thụ qua đường tiêu hoá, vì vậy sau khi uống, thuốc
giữ nồng độ cao ở ruột và các tác dụng diệt khuẩn tại chỗ. Colistin không gây
sự kháng dọc, kháng chéo của vi khuẩn, đặc biệt là Colistin có khả năng khử
được hoạt tính của các độc tố của E.coli tiết ra.