ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------
HỒ XUÂN ĐỊNH
Tên đề tài:
TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON VÀ BIỆN PHÁP
PHÕNG TRỊ TẠI CÔNG TY THIÊN THUẬN TƢỜNG THÀNH PHỐ
CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú Y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2011 - 2016
Thái Nguyên, năm 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------
HỒ XUÂN ĐỊNH
Tên đề tài:
TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON VÀ BIỆN PHÁP
PHÒNG TRỊ TẠI CÔNG TY THIÊN THUẬN TƢỜNG THÀNH PHỐ
CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH
luận thực tập tốt nghiệp của mình.
Để góp phần cho việc hoàn thành khóa luận đạt kết quả tốt, tôi luôn
nhận được sự động viên, giúp đỡ của gia đình và bạn bè, đồng nghiệp. Tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quý báu đó.
Cuối cùng xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi
Thú y luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, đạt nhiều thành tích trong công tác và
nhiều thành công trong nghiên cứu khoa học và giảng dạy.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2015
Sinh viên
HỒ XUÂN ĐỊNH
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm ................................................................... 25
Bảng 4.1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ................................................. 31
Bảng 4.2: Cơ cấu đàn lợn của trại từ năm 2013 - 2015 .................................. 32
Bảng 4.3: Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn con theo mẹ tại trại ............. 32
Bảng 4.4: Kết quả điều tra tình hình bệnh lợn con phân trắng qua các năm .. 34
Bảng 4.5: Tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng ở các tháng theo dõi ....... 35
Bảng 4.6: Kết quả theo dõi tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo độ tuổi .. 36
Bảng 4.7: Kết quả theo dõi thời gian khỏi bệnh trung bình và tỷ lệ khỏi bệnh
trung bình của các phác đồ điều trị ................................................. 38
Bảng 4.8. Kết quả theo dõi tỷ lệ tái phát bệnh phân trắng lợn con ................. 39
iii
mg:
Miligam
Nxb:
Nhà xuất bản
SS:
Sơ sinh
TNHH:
Trách nhiệm hữu hạn
TT:
Thể trọng
iv
MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu của đề tài ..................................................................................... 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2
4.2.1. Tình hình chăn nuôi và thú y của trại.................................................... 32
4.2.2. Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con của trại qua các
năm .................................................................................................................. 33
4.2.3. Tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng ở các tháng theo dõi .............. 35
4.2.4. Kết quả theo dõi tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo độ tuổi ........ 36
4.2.5. Kết quả sử dụng một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con ở lợn
giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi .................................................................. 37
4.2.6. Kết quả theo dõi tỷ lệ tái phát phân trắng ở lợn con theo mẹ .............. 39
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 41
5.1. Kết luận .................................................................................................... 41
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 42
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước nông nghiệp, trong đó chăn nuôi lợn là một nghề
truyền thống của nông dân. Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học kĩ
thuật, nhiều tiến bộ về giống, thức ăn, thú y…được áp dụng làm cho đàn lợn
không ngừng tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng, không chỉ đáp ứng
nhu cầu thực phẩm của nhân dân mà còn phục vụ xuất khẩu. Chính vì vậy
trong những năm qua, chăn nuôi lợn ở nước ta đã đạt những thành tựu mới,
xu thế chuyên môn hóa sản xuất, chăn nuôi trong các trang trại tập trung càng
phổ biến.
Tuy nhiên để chăn nuôi lợn có hiệu quả, vấn đề phòng bệnh cần được
quan tâm. Dịch bệnh là nguyên nhân chủ yếu làm ảnh hưởng đến chi phí chăn
nuôi và giá thành sản phẩm. Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, ngoài bệnh ở
Những khuyến cáo từ kết quả của đề tài giúp cho người chăn nuôi hạn
chế được những thiệt hại do bệnh gây ra.
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa
* Đặc điểm về sinh trƣởng và phát triển của lợn con.
Theo Trần Văn Phùng và Cs (2004) [18] sau khi sơ sinh lợn con tăng
trọng nhanh, sinh trưởng với tốc độ cao, so với khối lượng sơ sinh thì khối
lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần,
lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50
ngày tuổi tăng gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng 12 - 14 lần.
Do sinh trưởng phát dục nhanh nên khả năng đồng hóa và trao đổi chất
của lợn con rất mạnh, lợn con sau 20 ngày tuổi, mỗi ngày cần tích lũy 9 - 14
gram protein/1 kg khối lượng cơ thể. Điều đó cho thấy, nhu cầu dinh dưỡng
của lợn con cao hơn lợn trưởng thành rất nhiều, đặc biệt là protein. Mặt khác,
ta biết lợn con trong thời kì này chỉ tích nạc là chủ yếu. Vì vậy, tiêu tốn thức
ăn ít hơn so với lợn trưởng thành.
Theo Nguyễn Khánh Quắc và Cs (1993) [20] cho biết: Các thành phần
trong cơ thể lợn con thay đổi rất nhiều, hàm lượng nước trong cơ thể giảm
dần theo độ tuổi, đặc biệt lợn càng lớn thì giảm càng nhiều. Hàm lượng lipit
tăng nhanh theo tuổi từ khi mới đẻ đến 3 tuần tuổi. Hàm lượng protein cũng
tăng nhanh theo tuổi nhưng với hàm lượng không nhất định. Từ lúc mới đẻ
đến 3 tuần tuổi có hàm lượng khoáng giảm đáng kể và ở giai đoạn 21 - 56
ngày tuổi giảm không đáng kể.
* Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa
trạng thái sinh lý bình thường nữa (Đào Trọng Đạt và Cs (1986) [5]).Vì vậy,
việc tập ăn cho lợn con ăn sớm đã rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl, giúp
hoạt hóa hoạt động tiết dịch, tạo khả năng xây dựng nhanh chóng các đáp ứng
miễn dịch của cơ thể.
5
Theo Phan Đình Thắm (1995) [23] cho biết: Lợn con dưới 1 tháng tuổi
thì trong dịch vị hoàn toàn không có HCl tự do. Lúc này lượng axit nó nhanh
chóng liên kết với niêm dịch. Hiện tượng này gọi là Hypoclohydric và là một
đặc điểm quan trọng trong tiêu hóa ở dạ dày lợn con. Trong dịch vị của lợn
con mới đẻ trong khoảng 20 - 25 ngày thiếu HCl. Lợn con 3 - 4 tuần tuổi thì
dạ dày chưa có HCl tự do, vì lúc này hàm lượng HCl tiết ra ít và nó nhanh
chóng kết hợp với dịch dạ dày. Hiện tượng thiếu HCl này là đặc điểm quan
trọng trong quá trình tiêu hóa ở dạ dày. Dịch vị thu được ở lợn con 7 ngày
tuổi có pH 2,8; ở 10 ngày tuổi có pH 2,8 - 3,1; ở 12 ngày tuổi có pH 2,7; ở 20
ngày tuổi có pH 2,4 - 2,7. Vì thiếu HCl tự do nên dịch vị không có tính sát
trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày có điều kiện phát triển gây bệnh về
đường tiêu hóa ở lợn con như bệnh phân trắng, tiêu chảy.
Dịch ruột do các tuyến Bruner ở màng nhầy tá tràng tiết ra. Dịch ruột
cùng với dịch ruột và dịch mật giúp cho quá trình trung hòa nhũ chấp xuống
từ dạ dày, như vậy nó giúp bảo vệ thành ruột khỏi tác động của độ axit cao
xuống từ dạ dày. Ruột già tiếp tục quá trình tiêu hóa những gì ruột non tiêu
hóa chưa triệt để. Ruột già chủ yếu tiêu hóa chất xơ do vi sinh vật ở manh
tràng phân giải, hấp thu lại nước và khoáng. Thời gian thức ăn dừng lại ở ruột
già từ 12 - 16 giờ. Song ở đây chỉ 9% gluxit, 3% protein được tiêu hóa. Các
chất không tiêu hóa được các vi khuẩn gây thối tạo thành các sản phẩm độc
như crezol, phenol… Các sản phẩm này được hấp thu vào máu và được giải
độc ở gan, phần cạn bã đi vào kết tràng, được tạo thành khuôn phân và được
đến 39,70C và giữ mức độ đó. Trong thời gian này thân nhiệt lợn con có thể
biến động trên dưới 10C.
Độ ẩm cũng là một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng điều hòa
thân nhiệt của lợn con. Nếu độ ẩm cao thì lợn con dễ bị mất nhiệt và có thể bị
cảm lạnh. Độ ẩm thích hợp cho lợn con ở nước ta là 65% - 70%.
7
* Đặc điểm về khả năng miễn dịch
Trần Văn Phùng và Cs (2004) [18] cho biết: Vì thiết HCl tự do nên vi
khuẩn có điều kiện dễ dàng phát triển gây bệnh đường tiêu hóa, điển hình là
bệnh phân trắng lợn con. Do đó, để hạn chế bệnh đường tiêu hóa ta có thể
kích thích vách tế bào tiết ra HCl tự do sớm hơn, bằng cách bổ sung thức ăn
sớm cho lợn con. Nếu tập ăn sớm cho lợn con vào lúc 5 - 7 ngày tuổi thì HCl
tự do có thể được tiết ra 14 ngày tuổi.
Ở lợn con mới đẻ, trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể nhưng lượng
kháng thể tăng lên rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ. Do
vậy, khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào
lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ.
Theo Phùng Ứng Lân (1996) [14], lợn con mới đẻ trong máu không có
globulin nhưng sau khi bú sữa đầu tăng lên một cách nhanh chóng, sau 3 - 4
tuần lại giảm, đến 5 - 6 tháng nó lại tăng lên và đạt đến chỉ số bình thường là
65 mg globulin/100 ml máu.
Lợn con hấp thu globulin bằng con đường ẩm bào, 24 giờ sau khi được
bú sữa đầu hàm lượng trong máu đạt tới 20,3 mg/100 ml máu. Sau 24 giờ, sự
hấp thụ globulin kém dần hàm lượng globulin trong máu lợn tăng lên chậm
hơn, đến 3 ngày đạt 2,4 mg/100 ml máu. Do đó, lợn con càng được bú sữa
đầu càng sớm càng tốt.
Trong sữa đầu của lợn mẹ có hàm lượng protein chiếm tới 18 - 19%,
già Escherichia coli thuộc họ Enterobacteriaceae, giống Escherichia. Trong
đó các vi khuẩn hiếu khí trong đường tiêu hóa của động vật thì E. coli chiếm
tỷ lệ nhiều nhất, khoảng 80%.
Escherichia coli còn có tên khoa học là Bacterium coli commune, hay
Baccilus coli communis do bác sỹ nhi khoa Đức Escherich phân lập từ phân
của trẻ em bị tiêu chảy năm 1885.
9
* Đặc điểm hình thái
Hình thái: E. coli là một trực khuẩn ngắn, hai đầu tròn, kích thước 2 3µm x 0,6µm những loại này thường gặp trong canh khuẩn già. Trực khuẩn
thường đứng riêng lẻ, đôi khi xếp thành chuỗi ngắn. Phần lớn E. coli di động
có lông ở quanh thân nhưng một số không thấy di động.
Khi nhuộm Gram thì thấy vi khuẩn bắt màu Gram (-), có thể bắt màu
sẫm ở 2 đầu. Vi khuẩn không sinh nha bào, lấy vi khuẩn từ các khuẩn lạc
nhầy để nhuộm thì có thể thấy giáp mô, khi soi tươi thì không thấy được.
* Đặc điểm nuôi cấy
Trực khuẩn đường ruột hiếu khí và kị khí mọc trên môi trường dinh
dưỡng bình thường, chúng vẫn có khả năng sinh sản cao thậm chí trong môi
trường nước sinh lý ở nhiệt độ 15 - 160C nhưng nhiệt độ thích hợp nhất là từ
37 - 380C. Độ pH thích hợp nhất là từ 7,2 - 7,4. Chúng có thể tồn tại ở môi
trường toan tính hoặc kiềm tính.
Trên môi trường dung dịch đặc như thạch thịt pepton, qua 18h - 24h bồi
dục trong tủ ấm 370C, chúng mọc thành những khuẩn lạc ẩm ướt, ánh màu
trắng xanh, có kích thước trung bình dạng tròn, mặt khuẩn lạc hơi lồi lên, có
nếp nhăn, bề mặt bóng.
Trong môi trường nước thịt, khuẩn lạc phát triển tốt, môi trường rất
đục, có cặn lắng xuống đáy, màu tro nhạt, đôi khi hình thành màu xám nhạt.
Canh trùng có mùi hôi thối, khi lắc mạnh cặn tan đều trong môi trường. Ngoài
+ Kháng nguyên A: Là kháng nguyên vỏ chịu được nhiệt, không bị phá
hủy khi đun sôi ở 1000C nhưng khi đun sôi trong thời gian 2 giờ 30 phút thì
kháng nguyên bị phá hủy.
* Độc tố
- Vi khuẩn E. coli tạo ra 2 loại độc tố là nội độc tố và ngoại độc tố.
+ Nội độc tố: Là yếu tố gây độc chủ yếu của trực tràng đường ruột,
chúng có tế bào vi khuẩn và gắn vào trong tế bào vi khuẩn một cách chặt chẽ.
Nội độc tố có thể chiết xuất bằng nhiều phương pháp: Phá vỡ vỏ tế bào bằng
cơ học, chiết xuất bằng axit trichoxetic, phenol dưới tác dụng của enzym.
11
+ Ngoại độc tố: Là chất không chịu được nhiệt dễ bị phá hủy ở
nhiệt độ 56 0 C trong vòng 10 - 30 phút. Dưới tác dụng của Formol và
nhiệt, ngoại độc tố chuyển thành giải độc tố. Ngoại độc tố có tính hướng
thần kinh và gây hoại tử.
* Sức đề kháng của mầm bệnh
Trực khuẩn đường ruột không chịu được nhiệt độ cao, ở nhiệt độ 60 0C
E. coli chết trong vòng 15 phút và chết ngay ở nhiệt độ 1000C. Trong đất và
nước, E. coli chỉ sống được vài tháng. Các chất tiêu độc như: axit phenol,
formol, crezin, vôi, axit…nồng độ thường dùng cũng làm E. coli bị chết rất
nhanh. Chúng có độ nhạy cảm với nhiều loại khánh sinh.
Khi thử nghiệm phòng và trị bệnh E. coli dung huyết cho lợn con ở Thái
Nguyên và Bắc Giang, Nguyễn Thị Kim Lan (2004) [9] đã kết luận: Vi khuẩn
E. coli phân lập từ lợn bệnh rất mẫn cảm với kháng sinh amikacin, kém hơn
với doxycycline, không mẫn cảm với ampicilin và cefuroxinme.
Như vậy, khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn nói chung và vi
khuẩn đường ruột nói riêng luôn luôn thay đổi , nó phụ thuộc vào từng địa
phương, loài động vật, thời điểm kháng sinh đồ khác nhau, cho kết quả khác
mg Fe, khi thiếu trong cơ thể sẽ ảnh hưởng tới chức năng của một số bộ phận
có quan hệ sinh trưởng và phát triển của lợn con, không chỉ giảm huyết cầu tố
mà còn giảm cả hoạt huyết của các men có chứa Fe. Các men đó tham gia vào
quá trình tổng hợp đạm và các chất tế bào quan trọng khác. Vì vậy, thiếu Fe là
một nguyên nhân dẫn đến rối loạn chức năng của các cơ quan trong cơ thể
nhất là bộ máy tiêu hóa dẫn đến tiêu chảy.
Do lợn mẹ bị một số bệnh khác như viêm tử cung, viêm vú, bị nhiễm
độc và nhiễm trùng kế phát, lợn con bú phải sẽ bị tiêu chảy.
Theo Erwyn R. Miler (2001) [31] cũng nêu ra một số nguyên nhân gây
bệnh: Một số yếu tố môi trường và kí chủ ảnh hưởng tới tỷ lệ nhiễm E. coli ở
lợn sơ sinh. Dạ dày và ruột của lợn con nhanh chóng bị tràn ngập vi trùng,
13
Ngay sau khi sinh, rất nhiều trong số chúng “bất bại” nhưng nếu xuất hiện với
số lượng lớn E. coli lợn con có thể bị nhiễm bệnh sau khi sinh.
Số lượng lớn E. coli thường hiện diện ở ngay môi trường nếu ẩm ướt,
bẩn và thông thoáng kém. Tuy nhiên, nguồn nhiễm bệnh quan trọng nhất là
lợn con khác mắc bệnh tiêu chảy E. coli. Những con này sẽ thải ra tới 1 tỷ
E. coli/1cc phân lỏng.
Trong các tài liệu của các tác giả phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1995)
[12]; Nguyễn Huy Hoàng (1996) [7]; Phạm Sĩ Lăng và Cs (2003) [13];
Trương Lăng (2004) [11] cũng có nhận xét chung về nguyên nhân gây bệnh
nhưng chủ yếu do 2 nguyên nhân chính là do vi khuẩn và các nguyên nhân
không phải do vi khuẩn.
Lợn con không được bú sữa đầu dẫn đến sức đề kháng yếu, làm tăng
khả năng nhiễm bệnh; thời tiết nóng, lạnh đột ngột, độ ẩm môi trường cao
cũng làm lợn con dễ mắc bệnh lợn con phân trắng.
Nhiệt độ có thể là ảnh hưởng môi trường quan trọng nhất làm lợn khỏe
Trương Lăng và Xuân Giao (1999) [10] cho biết: Ở nước ta, lợn con
mắc bệnh tiêu chảy rất phổ biến trong các cơ sở chăn nuôi, tỷ lệ mắc bệnh từ
25% - 100%, tỷ lệ tử vong trên 70%, bệnh hầu như quanh năm, nhiều nhất ở
cuối đông sang xuân, cuối xuân sang hè. Điều kiện phát bệnh thường thấy:
+ Thời gian nào độ ẩm cao, bệnh phát triển cao.
+ Tỷ lệ mắc bệnh ở các cơ sở chăn nuôi miền trung du, miền núi ít hơn,
thời gian mắc bệnh ngắn hơn so với đồng bằng.
+ Chuồng nền đất, sân chơi rộng rãi hạn chế sự nhiều phát triển của bệnh.
+ Đất ở đồi núi, trung du (mà lợn có thể gặm ăn được) là một điều kiện
ngăn ngừa bệnh, vì đất đồi có nhiều nguyên tố vi lượng bổ sung cho sự thiếu
hụt trong thức ăn.
+ Chuồng trại nơi trũng, ướt tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh
phát triển.
15
* Đƣờng nhiễm bệnh
Bệnh do E. coli xảy ra như một dịch bệnh điển hình ở phần lớn các đàn
lợn con trong vụ đẻ, nguồn phát bệnh chính là những nái mang mầm bệnh.
Theo Lê Văn Năm và Cs (1998) [16], nguồn lây bệnh nhiều nhất các
nái chờ phối (96,9%), ít nhất là nái chửa kì II (45%).Trong các trường hợp
này lợn con bị nhiễm E. coli từ những ngày đầu tiên sau khi đẻ và đến giai
đoạn sau cai sữa giảm còn 76%. Lợn ốm sau khi chữa khỏi trở thành vật mang
trùng. Trong các trường hợp này lợn con bị nhiễm E. coli ngay từ ngày đầu
tiên sau khi mới đẻ và đến giai đoạn cai sữa giảm xuống còn 67,5%. Sau khi
cai sữa lợn con ốm khỏe khỏi sẽ trở thành vật mang bệnh, bởi vậy người ta bố
trí chuồng nái đẻ và lợn nuôi vỗ béo cách ly nhau.
Mầm bệnh cũng có thể được truyền trực tiếp từ lợn mẹ bị nhiễm bệnh
E. coli sang lợn con khi còn là bào thai. Thực tế đã chứng minh bệnh E. coli
con vật mất nước gây nên rối loạn trao đổi chất trong cơ thể như nhiễm độc
toan hoặc mất cân bằng các chất điện giải, làm cho bệnh trở nên trầm trọng,
gia súc có thể chết.
* Triệu chứng lâm sàng
Lợn con bị nhiễm E. coli có biểu hiện yếu, chậm chạp, bỏ bú, thân nhiệt
tăng nhẹ, tiêu chảy nhiều, mất nước, suy nhược, đôi khi có nôn mửa. Phân lúc
đầu có thể táo, sau đó ỉa lỏng, có thể sền sệt ở các bệnh do giun sán, phân
lỏng hoặc vọt cần câu, màu trắng, vàng, xanh nhạt màu hạt đậu, lẫn bọt khí.
Vì mất nước nhiều nên lợn ốm bị khát nước dẫn đến sinh loạn dưỡng trong cơ
thể, bụng hóp lại, da nhăn nheo, lông xù, phân dính xung quanh hậu môn, hai
chân sau rúm lại.
Nguyễn Hữu Vũ và Cs (2003) [30], cho biết, lợn bị tiêu chảy có
biểu hiện phân có màu trắng ngà đến vàng nhạt, mùi thối khắm, tanh, lông
xơ xác, gầy tóp, chân đi lảo đảo không xác định hướng, đuôi và hậu môn
luôn dính phân.
17
Bệnh tiến triển theo 2 thể:
- Thể quá cấp tính: Lợn chết nhanh, từ khi phát hiện triệu chứng ăn ít
đến khi chết trong vòng từ 6 - 20 giờ, lợn bỏ ăn hoàn toàn, ủ rũ, đi lại xiêu
vẹo, loạng choạng. Ho nhiều, nước mũi đặc nhầy như mủ. Phần rìa tai, mõm
tím tái, niêm mạc mắt nhợt nhạt, bốn chân lạnh, thở nhanh. Phân lỏng màu
trắng lầy nhầy như cứt cò, có mùi tanh, khắm đặc trưng. Trước khi lợn chết
thường có những cơn co giật ở chân.
Thể cấp tính: Thường chết chậm hơn (2 - 4 ngày sau khi phát hiện triệu
chứng đầu tiên). Bệnh có thể kéo dài 7 - 10 ngày tuổi, lợn con vẫn bú nhưng
giảm dần bú. Phân có màu trắng đục, trắng vàng, nhiều con mắt có dử và
vàng thâm xung quanh. Lợn suy dinh dưỡng, niêm mạc nhợt nhạt, nếu chữa
ở giai đoạn theo mẹ, chúng ta có thể thực hiện một số biện pháp sau:
- Phòng bệnh bằng biện pháp quản lý và chăm sóc nuôi dưỡng
Theo Sử An Ninh (1993) [17] biện pháp phòng tiêu chảy trước hết là
hạn chế, loại trừ các yếu tố stress sẽ mang lại hiệu quả tích cực. Khắc phục
những bất lợi về thời tiết, khí hậu, giữ vệ sinh chuồng trại.
Để cho đàn gia súc non khỏe mạnh điều cần thiết trước tiên là nuôi
dưỡng, chăm sóc thật tốt lợn nái giống khi chưa đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng
bổ sung đầy đủ các loại vitamin, nguyên tố vi lượng cần thiết.
Trong mọi trường hợp tiêu chảy, cần tiến hành ngay các biện pháp
cách ly lợn bệnh với những con còn lại trong đàn đồng thời điều trị kịp
thời những con bị bệnh, tiêm kháng sinh liều phòng cho những con chưa
nhiễm bệnh trên đàn.
- Phòng bệnh bằng cách sử dụng chế phẩm sinh học
Một tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu chế tạo và sử dụng chế phẩm sinh
học để phòng bệnh. Đây là biện pháp miễn dịch thụ động để phòng bệnh tiêu
chảy cho lợn con tức là đưa thêm một lượng kháng thể thụ động vào cơ thể
của chúng.
Tạ Thị Vinh (1994) [29] đã công bố kết quả chiết tách thành công chế
phẩm
- glubulin từ huyết thanh ngựa để phòng bệnh lợn con tiêu chảy.