1
TRƢỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA
KHOA NÔNG LÂM
==============
BÁO CÁO
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON
VÀ BIỆN PHÁP PHÕNG, ĐIỀU TRỊ BỆNH TẠI XÃ PHIÊNG
KHOÀI - HUYỆN YÊN CHÂU - TỈNH SƠN LA
CHUYÊN NGHÀNH: CHĂN NUÔI GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN: NGUYỄN THỊ NGA
SINH VIÊN THỰC HIỆN: VÌ THỊ HƢƠNG
LỚP: CAO ĐẲNG CHĂN NUÔI K49
KHÓA HỌC: 2012 - 2015 3
MỤC LỤC
CHƢƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1. Lý do chọn đề tài 7
1.2. Mục đích nghiên cứu 8
2.1. Vài nét về tình hình nghiên cứu bệnh lợn con phân trắng trong và ngoài
nƣớc 8
2.2.1. Một số nghiên cứu trên thế giới 8
2.1.2. Những nghiên cứu về bệnh ở Việt Nam 8
2.2. Đặc điểm sinh lý của lợn con 9
2.2.1. Đặc điểm tiêu hoá của lợn con 9
2.2.2. Đặc điểm thích ứng của lợn con 10
2.2.3. Hệ vi sinh vật đường ruột ở lợn con 10
2.2.4. Khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn con 12
2.3. Bệnh phân trắng lợn con 12
2.3.1. Nguyên nhân gây bệnh 12
2.3.2. Cơ chế sinh bệnh 17
2.3.3. Triệu chứng của bệnh 17
2.3.4. Bệnh tích của bệnh 18
2.3.5. Biện pháp phòng trị bệnh 19
CHƢƠNG 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
24
tỉnh Sơn La 30
5.1.1. Tình hình chăn nuôi lợn của xã Phiêng Khoài 30
5.1.2. Công tác vệ sinh phòng bệnh 31
5.1.3. Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn 33
5.2. Kết quả điều tra tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ 4
tháng đầu năm 2015 35
5.3. Kết quả điều tra tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn con theo mẹ 39
5.4. Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng theo độ tuổi 40
5.5. Kết quả sử dụng một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng ở lợn con
theo mẹ 43
5
5.5.1. Kết quả sử dụng một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng ở lợn con theo
mẹ 43
5.5.2. Kết quả theo dõi tỷ lệ tái phát tiêu chảy ở lợn con theo mẹ 46
CHƢƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
6.1. Kết luận 48
6.2. Kiến nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA 52
Biểu đồ 5.2: Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng và tỷ lệ chết do bệnh phân trắng
trong 4 tháng đầu năm 2015. 38
Biểu đồ 5.3: Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo độ tuổi 43
Biểu đồ 5.4. Một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng ở lợn con theo mẹ 46 7
CHƢƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Lý do chọn đề tài
Chăn nuôi lợn là nghề truyền thống ở nước ta nhưng để chăn nuôi lợn phát
triển tốt hơn theo hướng gắn với thị trường, an toàn dịch bệnh, vệ sinh thú y,
bảo vệ môi trường nhằm nâng cao năng suất chất lượng, hiệu quả và vệ sinh an
toàn thực phẩm, các địa phương đang đẩy mạnh phát triển các sản phẩm chăn
nuôi có lợi thế và khả năng cạnh tranh, khuyến khích các tổ chức cá nhân đầu tư
chăn nuôi theo hướng trang trại, hỗ trợ tạo điều kiện cho các hộ chăn nuôi
truyền thống chuyển dần sang chăn nuôi trang trại và công nghiệp.
Cùng với việc chăn nuôi được mở rộng thì dịch bệnh là yếu tố đã ảnh
hưởng không nhỏ đến hiệu quả chăn nuôi. Một trong những bệnh gây thiệt hại
kinh tế cho các cơ sở chăn nuôi lợn sinh sản là bệnh phân trắng lợn con ở giai
đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi. Bệnh xảy ra khắp nơi trên thế giới. Ở các nước
đang phát triển như Việt Nam bệnh xảy ra hầu như quanh năm, đặc biệt khi thời
Bệnh phân trắng lợn con rất hay gặp trong chăn nuôi lợn. Bệnh gây thiệt
hại không nhỏ cho ngành chăn nuôi, làm giảm tăng trọng, lợn con dễ bị suy kiệt
và chết.
2.2.1. Một số nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới đã có rất nhiều nhà khoa học đi sâu nghiên cứu về bệnh phân
trắng lợn con.
2.1.2. Những nghiên cứu về bệnh ở Việt Nam
Bệnh phân trắng lợn con ở nước ta đã được nghiên cứu từ năm 1959 tại các
cơ sở chăn nuôi tập trung (trại chăn nuôi và các nông trường quốc doanh).
Năm 1993, Lê Văn Tạo và cộng sự đã nghiên cứu các yếu tố gây bệnh của
các chủng E.coli gây bệnh, chọn chủng E.coli để chế tạo vacxin chết dưới dạng
Vacxin dùng cho lợn con sau đẻ 2 giờ, uống với liều 1ml/con, liên tục trong 3- 5
ngày. Kết quả làm giảm tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con từ 30 - 35% so với
đối chứng. [12]
Theo Nguyễn Như Thanh và cộng sự (2001) thì bệnh phân trắng lợn con là
một hội chứng hay nói cách khác là một trạng thái lâm sàng rất đa dạng, đặc
biệt là dạng viêm dạ dày ruột, tiêu chảy và gầy sút nhanh. Tác nhân gây bệnh
chủ yếu là E.coli, ngoài ra có sự tham gia của Salmonella và vai trò thứ yếu là
Proteus, Streptococcus. Bệnh xảy ra quanh năm ở những nơi tập trung nhiều gia
súc, bệnh thường phát mạnh từ mùa đông sang mùa hè (tháng 11 đến tháng 5)
đặc biệt khi thời tiết thay đổi đột ngột (từ oi bức chuyển sang mưa rào, từ khô
ẩm chuyển sang rét). Tỷ lệ mắc bệnh tới 50% và tỷ lệ chết tới 30 - 45%
(Nguyễn Như Thanh, 1997).[13]
Lý Thị Liên Khai (2001) [8] đã phân lập và xác định độc tố ruột của các
chủng E.coli gây bệnh tiêu chảy cho lợn con. Tác giả cho rằng các chủng K
88
sinh độc tố ruột LT và ST; K
99
và 987P sinh độc tố ruột ST, độc tố ruột ST trở
riêng khỏi 80%, dùng phối hợp khỏi 98%). Bên cạnh đó các phác đồ điều trị đều
không thể thiếu được việc bổ sung các chất điện giải cho lợn bệnh vì nó nâng
cao hiệu quả điều trị, rút ngắn thời gian điều trị.
Trịnh Quang Tuyên (2005) qua nghiên cứu cho rằng tỷ lệ nhiễm vi khuẩn
môi sinh trong các trại chăn nuôi tập trung cao và có liên quan đến tình hình dịch
bệnh của đàn lợn. Trong đó E.coli có tỷ lệ nhiễm từ 28,5% đến 44,1%,
Staphylococcus spp từ 29,8% đến 38,9%, Streptococcus spp từ 24,3% đến 41,3%,
giảm xuống khi cơ sở chăn nuôi được cải tạo chuồng nuôi và nguồn nước cấp. [16]
2.2. Đặc điểm sinh lý của lợn con
2.2.1. Đặc điểm tiêu hoá của lợn con
Lợn con mới sinh ra sống nhờ vào sữa mẹ, sau khi cai sữa cơ thể lợn trải
qua một quá trình thay đổi không ngừng về hình thái, cấu tạo và sinh lý của ống
tiêu hoá để thích ứng với điều kiện mới.
Sau khi sinh ra, ở lợn con chức năng tiêu hoá của dạ dày còn hạn chế, dễ
gây rối loạn trao đổi chất mà hậu quả là rối loạn tiêu hoá, gây tiêu chảy, còi cọc,
thiếu máu và chậm lớn.
Lợn con trước 1 tháng tuổi có hàm lượng HCl tự do trong dạ dày rất ít, giai
đoạn này gọi là giai đoạn thích ứng cần thiết tự nhiên giúp cơ thể thẩm thấu
được các kháng thể miễn dịch trong sữa đầu của lợn mẹ. Dịch vị không có hoạt
tính phân giải protein mà chỉ có hoạt tính làm vón sữa đầu, albumin và globulin
được chuyển xuống ruột để vào máu.
Tuy nhiên, lợn con trên 14 - 16 ngày tuổi tình trạng thiếu HCl ở dạ dày
không còn là sự cần thiết cho sinh lý bình thường nữa (Đào Trọng Đạt và cộng
sự, 1986) [5]. Vì vậy, việc tập cho lợn con ăn sớm đã rút ngắn được giai đoạn
thiếu HCl, giúp hoạt hoá hoạt động tiết dịch, tạo khả năng xây dựng nhanh
10
chóng các đáp ứng miễn dịch của cơ thể.
Sau 20 ngày lượng sữa mẹ giảm dần trong khi nhu cầu của lợn con tăng
lên. Vì vậy, lợn con rất dễ rơi vào trạng thái khủng hoảng. Để khắc phục tình
sinh vật khác lạ từ môi trường bên ngoài, đồng thời tham gia vào quá trình tiêu
11
hoá hấp thu. Trong đường ruột của gia súc non, hệ vi sinh có lợi - vi sinh vật đối
kháng với vi khuẩn gây bệnh chưa hình thành, chức năng tiêu hoá chưa thành
thục, môi trường sống, điều kiện ngoại cảnh, chăm sóc không tốt đều là những
stress đối với gia súc non. Khi chuyển từ bào thai sang nuôi dưỡng bằng sữa mẹ
và chế độ tập ăn, tiếp xúc thường xuyên với môi trường bên ngoài và nhất là
điều kiện không vệ sinh, vi sinh vật gây bệnh dễ dàng xâm nhập và gây bệnh
đường ruột cho gia súc non, có thể ở dạng cấp tính hay mãn tính.
Ở trạng thái sinh lý bình thường, giữa cơ thể vật chủ và hệ vi sinh vật trong
đường tiêu hoá cũng như giữa các loài vi sinh vật trong khu hệ vi sinh vật với
nhau luôn luôn ở trạng thái cân bằng, sự cân bằng này là cần thiết cho sức khoẻ
của vật chủ. Họ vi khuẩn đường ruột là một họ lớn, bao gồm các trực khuẩn gram
âm sống trong ống tiêu hoá của người và động vật. Chúng có thể gây bệnh hoặc
không gây bệnh, hiếu khí hoặc hiếu khí tuỳ tiện, bao gồm vi khuẩn sinh axit
lactic, vi khuẩn bifidium, một số loại cầu khuẩn đường ruột có khả năng ức chế
và tiêu diệt vi khẩn Salmonella, Proteus vulgaris và các loại vi khuẩn sinh thối
rữa, vi khuẩn Lactobacillus, Bacilus subtilis. Ở gia súc sơ sinh, chưa hình thành
hoặc hình thành không ổn định hệ vi sinh vật có lợi này, có nghĩa là chưa có vi
khuẩn ức chế và tiêu diệt sự xâm nhập của vi khuẩn gây bệnh đường tiêu hoá.
Hệ vi sinh vật có hại hay gặp trong đường ruột là vi khuẩn Salmonella spp,
E.coli, một số chủng Clostridium spp, Shigella. Cho đến nay nhiều công bố
nghiên cứu khoa học đã cho biết nguyên nhân gây tiêu chảy ở gia súc non gồm
3 loại chính là E.coli, Salmonella spp, Clostridium perfrigens.
Trong hệ vi khuẩn đường ruột, vi khuẩn E.coli là phổ biến nhất và chúng
xuất hiện sớm trong đường ruột của người, động vật sơ sinh, thường ở phần sau
của ruột, đôi khi còn thấy ở niêm mạc của nhiều bộ phận trong cơ thể (Nguyễn
Như Thanh, 2001) [13].
Clostridium perfrigens typ C gây bệnh viêm ruột hoại tử cho lợn ở lứa tuổi
Ở nước ta bệnh xảy ra quanh năm nhưng chủ yếu vào mùa đông xuân, nhất
là sau những trận mưa lớn, những ngày có độ ẩm cao và khi thời tiết thay đổi
đột ngột.
Ở các trại chăn nuôi tập trung bệnh xảy ra rất nhiều, mặc dù đã thực hiện
tốt các khâu về chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho lợn con, lợn mẹ
nhưng bệnh vẫn xảy ra lúc lẻ tẻ, lúc ồ ạt gây thiệt hại kinh tế.
2.3.1. Nguyên nhân gây bệnh
Bệnh phân trắng lợn con đã và đang được rất nhiều tác giả nghiên cứu và
đưa ra những nhận định về nguyên nhân theo nhiều hướng khác nhau song tập
trung vào 2 hướng:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng bệnh phân trắng lợn con không phải bệnh
nhiễm trùng mà là chứng khó tiêu, hậu quả của các yếu tố ngoại cảnh như thời
tiết khí hậu, chất lượng sữa mẹ, vệ sinh chuồng trại, chăm sóc nuôi dưỡng lợn
13
con, lợn mẹ kém…gây nên.
- Quan điểm thứ 2 cho là bệnh nhiễm trùng đường tiêu hoá, chủ yếu do vi
khuẩn E.coli gây ra.
Gần đây nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bệnh do nhiều nguyên nhân phối
hợp, liên quan đến hàng loạt các yếu tố. Do đó việc phân chia nguyên nhân nào
là chính, nguyên nhân nào là phụ để có biện pháp điều trị hiệu quả.
Yếu tố ngoại cảnh
Trong điều kiện sinh lý bình thường có sự cân bằng giữa sức đề kháng của
cơ thể đối với các yếu tố gây bệnh. Khi sức đề kháng của cơ thể giảm, thì cân
bằng này mất đi, làm cho cơ thể rơi vào trạng thái bệnh lý.
Khi còn nằm trong bụng mẹ, sự cân bằng nhiệt của bào thai do thân nhiệt của
cơ thể mẹ quy định. Sau khi sinh ra cơ thể lợn con chưa thể bù đắp được lượng
nhiệt mất đi do ảnh hưởng của môi trường bên ngoài. Lúc này, các yếu tố bất lợi
làm giảm sức đề kháng của cơ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh và
tiến triển. Trong những yếu tố về khí hậu thì yếu tố về nhiệt độ ẩm là quan trọng
Hầu hết E.coli gây bệnh cho ký chủ nhờ yếu tố bám dính và độc tố đường
ruột. E.coli bám dính vào niêm mạc ruột rồi sản sinh độc tố đường ruột. Các
chủng E.coli gây bệnh đều sản sinh ra một hay nhiều kháng nguyên bám dính,
chúng nằm trên Fibriae - một cấu trúc giống sợi lông, xuất phát từ một đĩa giống
trong màng nguyên sinh chất của tế bào vi khuẩn. Chính các yếu tố bám dính
cùng với các độc tố đường ruột đã gây quá trình sinh bệnh đặc trưng của E.coli.
Vi khuẩn Salmonella
Salmonella có mặt trong thức ăn, nước uống, môi trường thiên nhiên và
trong cơ thể động vật, có khả năng gây bệnh khi gặp điều kiện thuận lợi.
Salmonella cũng đóng vai trò rất quan trọng trong nguyên nhân gây hội
chứng tiêu chảy ở lợn con vì vi khuẩn này là nguyên nhân gây bệnh phó thương
hàn ở lợn bao gồm Salmonelle cholera suis (chủng kunzendorf) và Salmonella
typhysuis (chủng Voldagsen) (Nguyễn Như Thanh, 2001) [13].
Vi khuẩn Clostridium perfrigens
Một trong những nguyên nhân quan trọng khác đóng vai trò kế phát gây
bệnh là vi khuẩn yếm khí Cl.perfrigens hình thành độc tố gây dung huyết, gây
hoại tử tổ chức phần mềm và gây chết. Vi khuẩn có khả năng gây ra các chứng
nhiễm độc, viêm ruột xuất huyết trầm trọng ở lợn con.
Các chủng Cl.perfrigens sản sinh ra nhiều độc tố và enzym khác nhau, mỗi
chủng có những đặc điểm riêng trong việc sản sinh ra một vài loại độc tố hay
enzym nào đó. Những độc tố gây bệnh chủ yếu do Cl.perfrigens bao gồm độc tố
α, β, δ. Dựa vào hầu hết các đặc điểm mô tả thì Cl.perfrigens typ C gây ra viêm
ruột hoại tử.
Cl.perfrigens typ C sản sinh ra độc tố α, β chủ yếu là độc tố β, nhân tố
quan trọng nhất trong sinh bệnh học của bệnh viêm ruột hoại tử do Cl.perfrigens
typ C gây ra. Bệnh xảy ra chủ yếu trên lợn con ở giai đoạn theo mẹ, lứa tuổi
mắc phổ biến nhất là 12 giờ sau khi sinh ra đến 7 ngày tuổi, hay gặp nhất ở 1
đến 3 ngày tuổi. Ngoài ra bệnh cũng có thể xảy ra đối với lợn con từ 2 đến 4
tuần tuổi và cả khi cai sữa, lợn mắc bệnh thường bị chết ở những ổ lợn mẹ
(T.evansi) với triệu chứng tiêu chảy cấp tính hoặc mãn tính. [11]
Do độc tố nấm mốc
Độc tố nấm mốc với hàm lượng cao có thể gây chết hàng loạt gia súc, với
biểu hiện là nhiễm độc đường tiêu hoá, gây tiêu chảy dữ dội. Ngoài ra việc gây tiêu
16
chảy cho gia súc, độc tố nấm mốc còn gây độc trực tiếp cho người dùng thực phẩm
bị nhiễm nấm mốc hoặc gián tiếp từ những độc tố tồn dư trong thực phẩm.
Do điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng
Tình trạng sức khoẻ và chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng lợn mẹ ảnh hưởng
đến dinh dưỡng bào thai và tích luỹ chất dinh dưỡng để tạo ra sữa trong giai
đoạn cuối. Việc nuôi dưỡng lợn nái chửa kỳ cuối rất quan trọng, nó quyết định
trọng lượng sơ sinh của lợn con - một trong những chỉ tiêu để nâng cao năng
suất của đàn nái sinh sản, đồng thời nói lên sức khoẻ của lợn con sơ sinh.
Các chất dinh dưỡng cung cấp cho lợn mẹ, ngoài việc đáp ứng nhu cầu
năng lượng và protein còn cung cấp các vitamin, khoáng, đặc biệt là protein tạo
kháng thể chống lại các vi khuẩn có hại.
Lợn con khi sinh không ngừng sử dụng protein để xây dựng các mô bào
mới trong quá trình phát triển, đồng thời khôi phục và tu bổ lại tế bào cũ. Vì
vậy, nếu khẩu phần ăn của lợn mẹ không đủ protein, thiếu khoáng đa lượng, vi
lượng, dẫn đến thiếu dinh dưỡng, lượng sữa giảm, chất lượng sữa giảm, ảnh
hưởng đến sức khoẻ của lợn con.
Thân nhiệt của lợn mới sinh ra là 38,9
o
C - 39,1
o
C, nhưng sau 30 phút giảm
xuống còn 36,7
o
C - 37,1
Theo Cù Xuân Dần (1996) [4] lượng sữa mẹ từ khi đẻ tăng đến ngày thứ
15 là cao nhất, đến ngày thứ 20 đột ngột giảm xuống thấp trong khi nhu cầu về
sữa mẹ của lợn con tăng lên. Do đó nếu ở giai đoạn này lợn mẹ mà thiếu chất
dinh dưỡng thì lợn con lại càng thiếu sữa, cơ thể lợn con trở nên suy nhược,
giảm sức đề kháng, lợn dễ bị stress.
Một trong các nguyên nhân quan trọng nhất gây bệnh đường tiêu hóa là do
thiếu sắt. Khi còn là bào thai lượng sắt cần thiết được mẹ cung cấp. Khi ra ngoài
môi trường sống, sữa mẹ chỉ cung cấp được 1/6 lượng sắt mà cơ thể non yêu
cầu. Trong khi cơ thể sơ sinh cần tới 40 - 50 mg sắt/ngày, nhưng lợn con chỉ
nhận được 1mg/ngày thông qua sữa mẹ. Vì vậy, cần bổ sung thêm ít nhất là 200
- 250mg/con để lợn con tránh thiếu máu. Trong sữa mẹ không những chỉ thiếu
sắt mà còn thiếu cả Coban, Vitamin B
12
tham gia vào quá trình tạo máu, tổng
hợp và hoạt hóa một số enzym. Do đó lợn con dễ sinh bần huyết, cơ thể suy
yếu, sức đề kháng giảm, lợn con dễ mắc bệnh phân trắng.
2.3.2. Cơ chế sinh bệnh
Theo Phạm Ngọc Thạch (2006) [18], khi bị bệnh, đầu tiên dạ dày giảm tiết
dịch vị, nồng độ HCl giảm, làm giảm khả năng diệt trùng và khả năng tiêu hóa
protein. Khi độ kiềm trong đường tiêu hóa tăng cao tạo điều kiện cho các vi
khuẩn trong đường ruột phát triển mạnh, làm thối rữa các chất chứa trong
đường ruột và sản sinh nhiều chất độc. Những sản phẩm trên kích thích vào
niêm mạc ruột làm tăng nhu động ruột, con vật sinh ra ỉa chảy. Khi bệnh kéo
dài, con vật bị mất nước (do ỉa chảy) gây nên rối loạn trao đổi chất trong cơ thể
như nhiễm độc toan hoặc mất cân bằng các chất điện giải, làm cho bệnh trở nên
trầm trọng, gia súc có thể chết.
2.3.3. Triệu chứng của bệnh
Bệnh thường xảy ra ở lợn con, đặc biệt ở lợn mới sinh đến 21 ngày tuổi, có
con mắc sớm hơn, ngay sau khi sinh ra 1 đến 3 giờ và mắc muộn khi 4 tuần tuổi.
Lợn con mắc bệnh đa số thân nhiệt tăng sau 2 đến 3 ngày thì hạ xuống do
mạc ruột bị hoại tử từng đám. Trong ruột già chứa phân màu vàng. Màng treo
ruột xuất huyết, hạch màng treo ruột sưng.
Một số trường hợp lợn con bị viêm phổi, xoang ngực, xoang bụng chứa
dịch.
19
2.3.5. Biện pháp phòng trị bệnh
2.3.5.1. Phòng bệnh
Phòng bệnh bằng vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng
Thực hiện tốt khâu vệ sinh (chuồng trại, các thiết bị, dụng cụ ở chuồng
nuôi lợn đẻ) nhằm hạn chế E.coli gây bệnh, đảm bảo độ thông thoáng hợp lý để
duy trì nhiệt độ, độ ẩm thích hợp cho lợn ở từng giai đoạn, ấm về mùa đông,
thoáng mát vào mùa hè, vệ sinh sạch sẽ. Nếu phát hiện lợn con bị tiêu chảy do
E.coli thì cần nhanh chóng điều trị bằng thuốc.
Theo Sử An Ninh (1995) [10], cần hạn chế dùng nước tắm rửa cho lợn ở
giai đoạn lợn con theo mẹ cũng như cai sữa, ẩm độ thích hợp cho lợn con được
khuyến cáo là 70 - 85%.
Theo Phạm Khắc Hiếu và cộng sự (1998) [7] lợn con sau khi đẻ ra cần
được sưởi ấm ở nhiệt độ 34
o
C trong tuần lễ đầu tiên sau đó giảm dần xuống
nhưng không được thấp hơn 30
o
C. Như vậy lợn sẽ tránh được stress lạnh ẩm.
Thiết kế chuồng đẻ về kích thước, độ cao nền chuồng, bề mặt nền
chuồng cũng rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến tỷ lệ lợn con bị phân trắng.
Chăm sóc, nuôi dưỡng tốt đàn lợn con và lợn mẹ nhằm nâng cao sức đề
kháng tự nhiên cho lợn con, phải cho lợn con bú sữa đầu càng sớm càng tốt.
Ngoài ra có thể dùng thốc nam để phòng bệnh: Để phòng bệnh, có thể hái
khoảng 200g cây nhọ nồi cho lợn mẹ ăn sống hoặc nấu chín cùng thức ăn, cứ
2 - 3 ngày một lần như vậy lợn con sẽ không bị ỉa phân trắng (Báo Nông nghiệp
số 254, năm 2007).
2.3.5.2. Điều trị
Hiện nay các vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học là hiệu quả
điều trị bệnh. Nhiều nghiên cứu đã kết luận: cần điều trị sớm, kết hợp nhiều
biện pháp tổng hợp nhằm khống chế, khắc phục rối loạn tiêu hoá và hấp thu,
chống loạn khuẩn đường ruột, đồng thời phải kết hợp điều trị nguyên nhân với
điều trị triệu chứng.
Để điều trị có hiệu quả phải đảm bảo toàn diện các hướng sau:
- Chống viêm ở niêm mạc đường tiêu hoá.
- Chống vi khuẩn gây bệnh kế phát.
- Chống loạn khuẩn, khôi phục lại hệ vi sinh vật có lợi trong đường tiêu hoá.
- Bổ sung nước và điện giải.
- Bổ sung sắt và các vitamin.
- Thực hiện tốt vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng.
Điều trị bằng kháng sinh, hoá dược
Để có hiệu quả điều trị cao, điều quan trọng nhất đó là phải xác định được
vai trò của vi khuẩn gây bệnh và sự mẫn cảm của chúng đối với kháng sinh và
hoá dược sẽ dùng trong điều trị. Trong thực tế, nên sử dụng loại kháng sinh phổ
rộng ngay từ lúc đầu trong khi chờ kết quả của kháng sinh đồ.
Dùng kháng sinh cầm ỉa chảy như: Sulfathiazon 10% tiêm dưới da,
Streptomycin uống, Kanamycin tiêm bắp, Neomycin cho uống, Norfloxacin,
Enrofloxacin… (Phạm Ngọc Thạch, 2006). [18]
Điều trị triệu chứng
Lợn con bị tiêu chảy nặng thường dẫn đến tình trạng mất nước và có biểu
hiện rối loạn nghiêm trọng các chất điện giải. Do đó kết hợp với điều trị bằng
21
Thành phần: 100ml có 10g Tiamulin.
Parsulin là một loại thuốc đặc trị hồng lỵ, tiêu chảy, chướng bụng, phân
vàng, hen suyễn, viêm phổi, viêm khớp, viêm bao khớp, leptospirosis ở lợn.
22
Cách dùng: Tiêm bắp ngày 1 lần, tiêm 3 ngày liên tục
+ Bệnh hồng lỵ: 1ml/10kg khối lượng cơ thể, lặp lại sau 24 giờ nếu cần.
+ Bệnh khác: 1,5ml/10kg khối lượng cơ thể.
* Men tiêu hoá Lactobac - C
Lactopac - C do công ty Bayer sản xuất.
Thành phần: Dạng bột trong 100g có:
Lactobacillus 8 x 10
9
CFU
Enterococcus 8 x 10
9
CFU
Amylase 900 units
Protease 5500 units
Vit C 2,0 gam
Lactose 48 gam
Sodium 1,5 gam
Potassium 1,3 gam
Phụ liệu bổ sung vừa đủ 100 gam
Công dụng:
Tạo môi trường tối ưu giúp cho sự sinh trưởng và hoạt động của vi khuẩn
có lợi trong đường ruột.
Gia tăng sản xuất axit lactic, ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh.
Duy trì tỷ lệ thích hợp giữa Natri và Kali, thay thế lượng muối bị mất (đặc
biệt khi bị tiêu chảy) và duy trì cân bằng hấp thu muối.
24
CHƢƠNG 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tƣơng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Lợn con theo mẹ từ 1 đến 21 ngày tuổi mắc bệnh phân trắng tại xã Phiêng
Khoài
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Mỗi bản điều tra tiến hành phỏng vấn 20 hộ nông dân và phỏng vấn ngẫu nhiên.
3.4.2. Phương pháp thu thập tài liệu
3.4.2.1. Thu thập tài liệu thứ cấp
- Các số liệu về tổng quan địa bàn nghiên cứu.
- Quy mô, cơ cấu và biến động đàn lợn qua các năm.
- Kết quả sản xuất các ngành kinh tế và ngành chăn nuôi qua các năm.
- Diễn biến bệnh dịch và kết quả tiêm phòng chống dịch bệnh cho đàn
lợn qua các năm.
Các số liệu trên được thu thập thông qua việc sao chép số liệu tại phòng
thống kê của xã, sao chép số liệu của cán bộ thú y xã.
3.4.2.2. Thu thập tài liệu sơ cấp
- Các số liệu về tình hình chung của hộ, kết quả sản xuất trồng trọt,
chăn nuôi và sản xuất khác của hộ, số lượng gia súc, gia cầm chăn nuôi trong
hộ; tình hình tiêm phòng và dịch bệnh, kết quả điều trị bệnh đặc biệt là bệnh
phân trắng lợn con, vốn và đầu tư vốn cho sản xuất của hộ; sử dụng lao động
trong hộ; cách tổ chức sản xuất, tình hình tiêu thụ sản phẩm, các khó khăn
vướng mắc của hộ; sự giúp đỡ, hỗ trợ từ phía chính quyền các cấp đối với hộ;
các ý nhận xét và kiến nghị của hộ… Số liệu sơ cấp được thu thập bằng phiếu
điều tra với các câu hỏi điều tra phỏng vấn và mẫu biểu được chuẩn bị trước
theo mục đích nghiên cứu.
3.4.3. Phương pháp mô tả
- Xác định tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con.
- Xác định tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo độ tuổi.
Xác định nội dung này, chúng tôi tiến hành chọn những lô đồng đều về
ngày đẻ, lứa đẻ, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng và theo dõi số con mắc bệnh qua
1, 2 và 3 tuần tuổi. Những con mắc bệnh được chuẩn đoán dựa vào triệu chứng
lâm sàng, mổ khám gia súc chết và quan sát bệnh tích.
3.4.4. Phân lô thí nghiệm một số phác đồ điều trị
Lô 1: Thí nghiệm phác đồ điều trị 1
- Phác đồ điều trị 1 như sau: