Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn sơ sinh 21 ngày tuổi và biện pháp phòng trị bệnh tại xã Khánh Trung huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------

PHẠM THỊ HUYỀN TRANG
Tên đề tài:

TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON GIAI ĐOẠN
SƠ SINH - 21 NGÀY TUỔI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH
TẠI XÃ KHÁNH TRUNG, HUYỆN YÊN KHÁNH, TỈNH NINH BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành:

Sƣ phạm kỹ thuật nông nghiệp

Khoa :

Chăn nuôi thú y

Khóa học:

2011 – 2015

Thái Nguyên, năm 2015


Giảng viên hƣớng dẫn:TS. Nguyễn Thị Thúy Mỵ
Thái Nguyên, năm 2015


i
LỜI CẢM ƠN
Qua suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên, và sau gần 3 tháng thực tập tốt nghiệp tại xã Khánh Trung, huyện Yên
Khánh, tỉnh Ninh Bình, với sự cố gắng của bản thân và sự giúp đỡ nhiệt tình của
thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp.
Nhân dịp này em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám
hiệu trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi
thú y, các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy và dìu dắt em trong suốt thời
gian học tập và rèn luyện tại trường.
Em xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo xã cùng toàn thể cán bộ xã
Khánh Trung, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình, đã tiếp nhận và tạo điều
kiện giúp đỡ em trong quá trình thực tập tại xã.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn Cô giáo hướng dẫn TS. Nguyễn Thị
Thúy Mỵ đã quan tâm giúp đỡ em nhiệt tình trong suốt quá trình thực tập cũng
như hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, người
thân đã động viên tạo mọi điều kiện cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt thời
gian em học tập và trong thời gian thực tập vừa qua.


ii
LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình học tập
của sinh viên trước khi ra trường, nhằm giúp sinh viên củng cố, hệ thống hóa

iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con tại một số xóm điều tra ............34
Hình 4.2: Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con theo các lứa tuổi ............................36
Hình 4.3: Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con qua các tháng ....................................40
Hình 4.4: So sánh tỷ lệ khỏi bệnh của 2 loại thuốc Norfloxacin 5% và Colistin ............44


v
DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT

cs

: Cộng sự

LMLM

: Lở mồm long móng

SS

: Sơ sinh

TT

: Thể trọng

Fe

: Sắt

1.1. Đặt vấn đề .........................................................................................................1
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài .........................................................................2
1.3. Ý nghĩa của đề tài .............................................................................................2
1.3.1. Ý nghĩa khoa học ...........................................................................................2
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn ............................................................................................2
Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ...................................................................3
2.1. Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài ...............................................................3
2.1.1. Đặc điểm của lợn con theo mẹ.......................................................................3
2.1.2. Những hiểu biết về bệnh phân trắng lợn con .................................................8
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .....................................................20
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước ................................................................20
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ................................................................23
Phần 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU......25
3.1. Đối tượng nghiên cứu .....................................................................................25
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ......................................................................25
3.3. Nội dung nghiên cứu .......................................................................................25
3.4. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi ..........................................25
3.4.1 Phương pháp theo dõi và các chỉ tiêu ...........................................................25
3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu ............................................................................26


vii

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .......................................27
4.1. Công tác phu ̣c vu ̣ sản xuấ t ..............................................................................27
4.1.1. Công tác chăn nuôi.......................................................................................27
4.1.2. Công tác thú y ..............................................................................................29
4.1.3. Công tác khác ...............................................................................................32
4.2. Kế t quả thực hiện đề tài ..................................................................................34
4.2.1. Tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn con tại xã Khánh Trung, huyện Yên

phục. Nề n nông nghiê ̣p Viê ̣t Nam đang vững bước đi trên đôi chân của chính
mình đó là hai ngành trực thuộc cây và con. Cây là đa ̣i diê ̣n cho ngành trồ ng tro ̣t,
con đa ̣i diê ̣n cho ngành chăn nuôi.
Hòa theo sự phát triển của các ngành kinh tế thì hiện nay chăn nuôi cũng
là một trong các ngành đang có xu hướng phát triển đi lên

. Mô ̣t trong số đó là

ngành chăn nuôi lợn.
Song song với việc phát triển chăn nuôi thì dịch bệnh cũng nảy sinh
nhiều, một trong những dịch bệnh xảy ra là bệnh phân trắng lợn con giai đoạn
từ 1 - 3 tuần tuổi. Bệnh phân trắng là bệnh khá phổ biến, xuất hiện từ lâu trên
thế giới và ở Việt Nam, gây thiệt hại không nhỏ trong ngành chăn nuôi. Bệnh
chủ yếu do nhóm vi khuẩn đường ruột E.coli gây ra. Vi khuẩn E.coli tiết ra độc
tố nhiễm vào máu phá hủy nội mạc, thành mạch gây tăng tính thấm thành
mạch, từ đó gây phù thũng lợn đi lại chậm chạp, tiêu chảy, phân lỏng màu
trắng, lợn mất nước nhiều do tiêu chảy, khát nước dẫn đến rối loạn hấp thu và
trao đổi chất trong cơ thể, làm lợn gầy yếu hốc hác. Nếu không tác động kịp
thời tỷ lệ chết cao, gây thiệt hại lớn, bởi vậy việc nghiên cứu để tìm ra biện
pháp phòng trị bệnh thích hợp để đạt hiệu quả cao trong chăn nuôi lợn là một
vấn đề được nhiều người quan tâm.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, để hạn chế mức thấp nhất tỷ lệ lợn
nhiễm bệnh, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y - trường


2
Đại học Nông lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng
dẫn và cơ sở thực tập, em thực hiện đề tài: “Tình hình mắc bệnh phân trắng
lợn con giai đoạn sơ sinh - 21 ngày tuổi và biện pháp phòng trị bệnh tại xã
Khánh Trung, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình”

súc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh con
khỏe mạnh.
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [7] so với khối lượng sơ sinh thì khối
lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần,
lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50
ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần.
Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều
qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần. Có sự giảm này là
do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm
lượng Hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm. Thời gian bị giảm sinh
trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con.
Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm. Do lợn con sinh
trưởng nhanh nên quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng mạnh.
Ví dụ: Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 - 14 gam
protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy được
0,3 - 0,4 gam protein/1 kg khối lượng cơ thể.
Hơn nữa, để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượng nghĩa là
tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành. Vì vậy, cơ thể của lợn con chủ yếu là
nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để tạo ra 1 kg mỡ.


4
* Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa
Đặc điểm chung về giải phẫu cơ quan tiêu hóa của lợn: Miệng, hầu, thực
quản, dạ dày, ruột non, ruột già, hậu môn.
Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh, các
tuyến tiêu hóa phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hóa còn nhỏ,
thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần.
Dung tích bộ máy tiêu hóa tăng nhanh trong 60 ngày đầu: Dung tích dạ
dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi

thức ăn. Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạt động
thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hóa protein.
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [7] vì thiếu HCl tự do nên vi sinh vật
có điều kiện dễ dàng phát triển gây bệnh đường tiêu hóa, điển hình là bệnh phân
trắng lợn con. Do đó để hạn chế bệnh đường tiêu hóa có thể kích thích vách tế
bào dạ dày tiết ra HCl tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn
con. Nếu tập ăn sớm cho lợn con vào lúc 5 - 7 ngày tuổi thì HCl tự do có thể tiết
ra từ 14 ngày tuổi.
Enzym trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợn trước
20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hóa thực tế của dịch vị có enzym, sự tiêu hao
của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau,
thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh. Hơn nữa dịch vị thu được khi cho thức
ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự tiêu hóa nhanh hơn dịch vị thu được khi cho
uống sữa. Đây là cơ sở cho việc bổ sung sớm thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con.


6
Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh
ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi trùng gây bệnh, khi lợn con
sinh ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi khuẩn có
lợi, chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh
đường tiêu hóa. Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn, vi khuẩn gây thối rữa ở lợn
con mới sinh.
* Đặc điểm của cơ năng điều tiết của lợn con
Theo nhóm tác giả Hội chăn nuôi Việt Nam (2000) [4] ở lợn con sơ sinh, tỷ
lệ nước trong cơ thể chiếm 82%. Vì có nhiều nước, nhiệt độ cơ thể giảm nhanh, 30
phút sau khi sinh lượng nước giảm 1,5 - 2 % kèm theo giảm thân nhiệt 5 - 100C,
lợn con bị lạnh, các chức năng hoạt động bị rối loạn dẫn đến dễ bị chết non.
Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não của
lợn con chưa phát triển hoàn thiện. Do đó việc điều tiết thân nhiệt và năng lực

chức năng của các tuyến chưa hoàn chỉnh. Ở lợn con lượng enzym tiêu hoá và
lượng HCl tiết ra còn ít, chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn
trao đổi chất, dẫn tới khả năng tiêu hoá kém, hấp thu kém. Trong giai đoạn này
mầm bệnh (Salmonella spp, E.coli…) dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường
tiêu hoá và gây bệnh.
Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể. Lượng kháng
thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ. Cho nên khả
năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng
thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ.


8
Theo Trần văn Phùng và cs (2004) [7] trong sữa đầu của lợn mẹ hàm
lượng protein rất cao. Những ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa
chiếm 18 - 19%, trong đó lượng  - globulin chiếm số lượng khá lớn (30 - 35%).
Nó có tác dụng tạo sức đề kháng. Cho nên sữa đầu có vai trò quan trọng đối với
khả năng miễn dịch của lợn con. Lợn con hấp thu lượng  - globulin bằng con
đường ẩm bào. Quá trình hấp thu nguyên vẹn nguyên tử  - globulin giảm đi rất
nhanh theo thời gian. Nó chỉ có khả năng hấp thu qua ruột non của lợn con rất tốt
trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men antitripsin làm
mất hoạt lực của men tripsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách tế bào vách ruột của
lợn con khá rộng. Cho nên 24 giờ sau khi được bú sữa đầu, hàm lượng  - globulin
trong máu lợn con đạt tới 20,3mg/100ml máu. Sau 24 giờ, lượng kháng men trong
sữa đầu giảm dần và khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con hẹp dần,
nên sự hấp thu  - globulin kém hơn, hàm lượng  - globulin trong máu lợn con
tăng lên chậm hơn. Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng 24mg/100ml máu (máu bình
thường của lợn trưởng thành có khoảng 65 mg/100ml máu). Do đó lợn con cần
được bú sữa đầu càng sớm càng tốt. Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20
- 25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể. Do đó những lợn con
không được bú sữa đầu thì sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao.

gây bệnh, chúng sản sinh ra độc tố (enterotoxin) phá hủy tổ chức thành ruột làm
thay đổi cân bằng quá trình thay đổi nước, điện giải. Nước không được hấp thu
từ ruột vào mà bị rút từ cơ thể vào ruột dẫn đến gây bệnh tiêu chảy.
Những nguyên nhân khác làm tăng mức độ nhiễm E.coli là vệ sinh
chuồng trại kém, bầu vú lợn mẹ bị nhiễm khuẩn, thức ăn nước uống không hợp


10
vệ sinh, E.coli xâm nhập theo đường miệng vào cơ thể. Ngoài ra, trong dịch vị
thiếu HCl tự do cũng là nguyên nhân gây bệnh ở đường tiêu hóa.
Lợn con không được bú sữa đầu dẫn đến sức đề kháng yếu làm tăng khả
năng cảm nhiễm bệnh, thời tiết nóng, lạnh đột ngột, độ ẩm môi trường cao cũng
làm lợn con dễ mắc bệnh phân trắng lợn con.
Sử An Ninh và cs (1981) [6] cho biết: Nguồn gốc sinh bệnh lợn con phân
trắng có liên quan đến phản ứng thích nghi của cơ thể lợn với yếu tố stress, biểu
hiện thông qua sự biến động về hàm lượng một số thành phần trong máu: Đường
huyết, cholesteron, kẽm, kali, natri....
Chăm sóc lợn mẹ (đặc biệt là thời gian mang thai) không đúng kỹ thuật:
Thức ăn, nước uống không hợp vệ sinh, khẩu phần không đủ dinh dưỡng, thiếu
các yếu tố đa lượng, vi lượng làm cho lợn con sinh ra còi cọc, thiếu sắt, Vitamin
B12... khiến cơ thể lợn suy yếu do thiếu máu, khả năng chống đỡ với các môi
trường kém nên dễ mắc bệnh.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1995) [13] sắt là yếu tố vi lượng rất cần thiết cho
sinh trưởng và khă năng chống đỡ bệnh tật, ở động vật 1/2 lượng sắt cho cơ thể
nằm ở hemoglobin, một lượng ít nằm ở myoglobin và một số enzym. Trong quá
trình mang thai hoặc sữa đầu của lợn mẹ không đáp ứng đủ nhu cầu về sắt dễ
sinh bần huyết ở lợn con, dẫn đến cơ thể suy nhược, không hấp thu được dinh
dưỡng, giảm sức đề kháng và dễ mắc bệnh.
Mặt khác, lượng sữa mẹ giảm dần và đến ngày thứ 20 giảm đột ngột,
trong khi đó nhu cầu về dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng cao. Đến

- Môi trường Maconkey: Khuẩn lạc có màu đỏ hồng.


12
- Môi trường Brilliiant - Gren - Ager: Khuẩn lạc có màu vàng chanh.
- Môi trường EMB (Eosin - Methylen - Blue): Khuẩn lạc có màu đen tím.
- Môi trường Muller Kauffman: Vi khuẩn không mọc.
- Môi trường thạch SS (Salmonella - Shigella): E.coli có khuẩn lạc màu đỏ.
- Môi trường Endo: E.coli có khuẩn lạc màu đỏ.
- Đặc tính sinh hóa: E.coli lên men sinh hơi từ các loại đường fructoze,
glucoze, galactoze, lactoze, mannit, dextroze. Lên men không chắc chắn các loại
đường dulcitol, saccharose.
Các phản ứng khác: H2S, VP, urea: âm tính.
MR, Indol: Dương tính.
Sữa đông sau 24 - 72 giờ ở 370C.
Gelatin, huyết thanh đông, lòng trắng trứng đông.
E.coli có khả năng khử Nitrat thành Nitrit, khử Cacbocyl trong môi
trường Lysinedecacboxylase.
- Cấu trúc kháng nguyên
Kháng nguyên của vi khuẩn E.coli rất phức tạp bao gồm các loại kháng
nguyên: O, H và K.
+ Kháng nguyên O:
Đây là thân của vi khuẩn và được coi là yếu tố độc lực của vi khuẩn,
kháng nguyên O được coi là một nội độc tố có thể tìm thấy ở màng ngoài vỏ bọc
vi khuẩn và thường xuyên được giải phóng vào môi trường nuôi cấy. Kháng
nguyên O có đặc tính như sau: Chịu được nhiệt độ (không bị phá huỷ khi đun ở
nhiệt độ 1000C/2 giờ), chịu được chất cồn, axit HCl 1N trong 2 giờ, bị phá huỷ
bởi formol 0,5%.



sống được khoảng vài tháng, các chất sát trùng thông thường như axit Phenic,
formol… có thể diệt E.coli trong 5 phút. E.coli đề kháng với sự sấy khô chúng
có độ nhạy cảm cao với nhiều loại kháng sinh.
Theo Bùi Thị Tho và cs (1995) [14] khi nghiên cứu về tính mẫn cảm và
tính kháng thuốc của E.coli được phân lập từ các ổ lợn con bị bệnh phân trắng ở
nước ta đã cho biết, hiện nay những thuốc có tác dụng tốt trong điều trị bệnh
phân trắng lợn con do E.coli gây ra gồm Norfloxacin, Furazolidon, Trimetho
Brom và Colistin, còn các thuốc Streptomycin, Sunphonamid ít có tác dụng với
E.coli vì tỷ lệ E.coli kháng lại chúng cao từ 70 - 80%. Theo các tác giả, những
thuốc này đã dùng để điều trị thường xuyên, đôi khi dùng sai nguyên tắc.
* Đường nhiễm bệnh
Lợn con nhiễm bệnh chủ yếu là do ăn uống. Khi bị nhiễm E.coli phát triển
nhanh chóng trong đường ruột, chúng tự huỷ hoại và giải phóng ra các độc tố,
độc tố này xâm nhập vào dòng Limpho do đó máu bị nhiễm độc và con vật chết.
Từ khi mới sinh ra hệ sinh vật phát triển trong đường tiêu hoá rất đa dạng, tỷ lệ
số lượng vi trùng rất khác nhau ở các đoạn ruột khác nhau.
* Qúa trình sinh bệnh
Theo Nguyễn Hữu Vũ (2000) [16] đối với lợn con khoẻ mạnh vi trùng
E.coli và vi trùng khác chỉ cư trú ở đoạn ruột già và phần cuối của ruột non, phần
đầu, phần giữa hầu như không có vi trùng. Chỉ có rất ít liên cầu khuẩn, tụ cầu
khuẩn, Lactobacilus.
Quá trình sinh bệnh liên quan đến nhiều đặc điểm sinh lý của cơ thể lợn
con, hệ thống thần kinh của lợn con hoạt động với chức năng chưa thành thục.
Việc điều khiển thần kinh hầu như bằng phản xạ không điều kiện. Ngoài ra có
những đặc điểm đáng chú ý như: Độ toan của dịch vị dạ dày thấp, độ thẩm thấu


15
của biểu bì thành ruột cao, chức năng điều tiết của gan kém, chức năng thu nhận
của tế bào nội võng quá dễ dàng. Sự thu nhận quá dễ dàng qua hàng rào bảo vệ

- Thể bệnh kéo dài: Lợn 20 ngày tuổi bệnh kéo dài 7 - 10 ngày, lợn vẫn bú
nhưng bú kém dần đi, phân màu trắng đục, trắng hơi vàng. Những lợn đã được 40 50 ngày tuổi thì khi ỉa phân trắng hoạt động vẫn bình thường, ăn bú đi lại nhanh
nhẹn, phân hơi nhão với màu trắng xám, nếu bệnh kéo dài lợn còi cọc chậm lớn.
* Bệnh tích
Lợn chết do hiện tượng mất nước nghiêm trọng nên khi quan sát thấy xác
con vật gầy còm, da khô thô, lông bẩn, da lông xám không bóng như con lợn
khoẻ mạnh, khi mổ khám thấy gan màu nâu đen và sưng túi mật, trong chứa
nhiều dịch mật loãng, lá lách không sưng, bóc lớp vỏ thấy xuất huyết, rạch dạ
dày thấy trong dạ dày chứa những cục sữa chưa tiêu. Quan sát niêm mạc thành
dạ dày thấy những nốt đen trên thành do những đám nhồi máu gây nên. Ruột
non thì trương nhão giãn to và xuất huyết niêm mạc ruột bị hoại tử từng đám.
Trong ruột già có thể thấy từng đám máu, viêm ruột là hiện tượng phổ biến,
viêm thành ruột, xuất huyết ở màng treo, dạ dày chứa một ít sữa bị đông đặc,
vón, cá biệt có máu, mùi tanh, ruột có chứa phân màu vàng hay xám, hạch
màng treo ruột sưng.
* Chẩn đoán bệnh
Bệnh lợn con ỉa phân trắng là căn bệnh phổ biến trong chăn nuôi lợn tập
trung hay chăn nuôi nông hộ. Bệnh xảy ra giai đoạn lợn con theo mẹ do rất nhiều
nguyên nhân gây ra, có thể do virus như Coronavirus, Rostavirus hoặc do vi
khuẩn như E.coli, Salmonella, Clostridium, hoặc cũng có thể do nguyên sinh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status