Đề bài: - Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về khủng hoảng kinh
tế?
-
Những biện pháp để khắc phục khủng hoảng kinh tế?
- Áp dụng vào nước ta hiện nay.
Bố cụ bài tiểu luận:
A. Lời mở đầu.
B. Nội dung chính:
I)
Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin về khủng hoảng kinh tế.
1) Khái niệm.
2) Nguyên nhân.
3) Hậu quả.
4) Tính chu kỳ của khủng hoảng kinh tế trong chủ nghĩa tư bản.
II)
Những biện pháp khắc phục khủn hoảng kinh tế.
III)
Áp dụng vào Việt Nam hiện nay.
C. Kết luận.
A. Lời mở đầu:
Khi sản xuất hàng hóa đơn CNTB ra đời với những ưu điểm vượt
riêng của CNTB. Nó giống như cái nhọt nổi lên bên ngoài báo hiệu cho
những ung nhọt bên trong CNTB. Cái nhọt này là căn bệnh nan y đối với
tất cả các nước CNTB, cứ 8 hay 12 năm nó lại như ma lực như một sức
mạnh nào đó tái phát thêm 1 lần.
Một trong những “con bệnh” đó là nước Anh, trong vòng 133 năm kể từ
1825 tới 1958 đã phải chịu 7 lần “phát bệnh” vào những năm 1825 –
1836, 1890 – 1900, 1907 – 1920, 1920 – 1929, 1929 – 1937, 1938 –
1949, 1949 – 1958...Mĩ là nước khủng hoảng nhiều lần thứ 2, sau chiến
tranh thế giới thứ 2 Mĩ rơi vào cuộc khủng hoảng lần thứ 9 với những
hậu quả to lớn, sản xuất công nghiệp giảm 5,3%, GDP giảm 2,2%, thất
nghiệp tăng 7,8%, lạm phát tăng 4,6%...
2) Nguyên nhân:
Nguyên nhân của khủng hoảng không đâu xa mà ngay trong lòng
chính các xã hội CNTB, ngay từ khi ra đời nó đã mang theo nhũng mâu
thuẫn đối kháng trong mình. Nguyên nhân trước hết có thể nhắc đến là
mâu thuẫn giữa tính kế hoạch trong nội bộ từng xí nghiệp với tính vô
chính phủ trong nền sản xuất hàng hóa. Trong các nền sản xuất với tính
vô chính phủ trong nền sản xuất hàng hóa. Trong các nền sản xuất khác
tình trạng sản xuất vô chính phủ vẫn diễn ra. Nhưng không ở đâu hay bất
cứ đâu nền sản xuất nào tính vô chính phủ lại có thể gây ra những hậu
quả to lớn như vậy. Các nhà TB vì mong muốn làm giàu, vì mong muốn
làm giàu, vì mong muốn những khoản lợi nhuận kếch xù mà đã liên tục
thay đổi máy móc để nâng cao năng suất lao động. Bằng mọi cách nhà
TB chỉ chạy theo sức hút của đồng tiền bất chấp hậu quả. Họ tổ chức
cho xí nghiệp của mình sản xuất một cách thuận lợi nhất, tìm cho mình
một món hàng đầu tư thu lợi nhuận cao nhất và như vậy khi tìm được
những miếng mồi béo bở nhà TB sẵn sàng chuyển tư bản của họ từ
ngành này qua ngành kia. Những món mồi ngon, những miếng mồi lợi
tiền mua hàng. Thừa hàng hóa – đó là hiện tượng khơi mào để khủng
hoảng xảy ra: các xí nghiệp buộc phải hạ giá hàng, chịu lỗ vốn và có khi
là mất trắng. Từng bước một như vậy sản xuất bị thu hẹp dần, các xí
nghiệp đóng cửa, công nhân thất nghiệp...
Nguyên nhân cuối cùng cũng là nguyên nhân sâu xa nhất: đó là
mâu thuẫn giữa tính xã hội cao độ của lực lượng sản xuất với hình thức
chiếm hữu tư nhân TBCN. Phân công lao động xã hội phát triển hết sức
rộng rãi khiến cho việc sản xuất không còn là hành động cá nhân, phân
tán nữa mà trở thành một sợi dây chuyền xã hội thống nhất. Tư liệu sản
xuất nằm rong tay chủ tư bản nhưng chính xã hội CNTB lại làm cho tư
liệu sản xuất có tính xã hội, sản xuất cũng mang hành động sản xuất xã
hội và sản phẩm cũng là sản phẩm xã hội. Nhưng tính chất chỉ là tính
chất, thực tế lại không bao giờ như vậy bởi một khi tư liệu sản xuất còn
mang tính tư nhân thì tất cả các sản phẩm sản xuất vẫn còn phải phục vụ
chế độ chiếm hữu tư nhân. Phân tích cho thấy mâu thuẫn cơ vản của
phương thức sản xuất CNTB là mâu thuẫn giữa sản xuất có tính chất xã
hội và chiếm hữu có tính chất tư nhân TBCN. Đó là mâu thuẫn cơ bản,
không thể tách rời khỏi xã hội TB mà ngay từ khi ra đời nó đã mang sẵn
mâu thuẫn này cơ bản này trong nội tại của nó.
3) Hậu quả
Khủng hoảng kinh tế xảy ra là lúc mâu thuẫn bùng nổ, LLSX nổi
dậy chống lại quân hệ sản xuất TBCN. Tuy nhiên khủng hoảng chỉ giải
quyết mâu thuẫn tạm thời bởi nó chỉ có tác dụng cân bằng sản xuất trong
phạm vi giới hạn của nó, và mặt khác nó cũng chưa đủ mạnh mẽ để giải
quyết tận gốc mâu thuẫn đã ngấm sâu vào máu thịt CNTB Khủng hoảng
chỉ như con song ập đến làm lắng đọng mâu thuẫn tạm thời rồi từ từ đi,
ra xa và lặng lẽ chờ một cơ hội khác lại ập đến.
“Cơn sóng” khủng hoảng mỗi lần rút ra xa lại để lại những hậu
lợi nhuận 12 công ty toán cầu của Mĩ tăng từ 11% năm 1970 sau khủng
hoảng là 41% ( năm 1975).
Tuy nhiên cùng với quá trình tích tụ và tập trung tư bản là việc gia
tăng khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn và mâu thuẫn giữa TB và
người lao động ngày càng tăng. Đó là hậu quả thứ 3 của khủng hoảng.
Một khi mà tư liệu sản xuất tập trung hết vào tay các ông chủ tư bản thì
việc bóc lột và bần cùng hóa công nhân càng diễn ra ráo riết hơn, mạnh
mẽ hơn. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ thì 75% GDP toàn cầu nằm
trong 20% dân số thuộc nhóm giàu còn 20% dân số thuộc nhóm nghèo
chỉ có 1,5% GDP toàn cầu. Hiện nay con số đó có thể hơn. Trong khi có
hàng nghìn người đang chịu cảnh đói rét thì các công chủ tư bản lại có
thể chi cho những khoản ăn chơi tốn kém không có mục đích với chi phí
lên tới hàng triệu USD. Thực tế ở các nước tư bản lớn cho thấy trung
bình một ngày nhà tư bản có thể kiếm được trên dưới 1 triệu USD thì
công nhân nghèo chỉ có thể kiếm được xấp xỉ 2 USD. Khoảng cách
chênh lệch quá lớn ấy dường như không thể xóa và nó tạo điều kiện
mạnh mẽ cho hậu quả cuối cùng của các cuộc khủng hoảng diễn ra
nhanh chóng hơn.
Hậu quả cuối cùng là làm cho mâu thuẫn cơ bản của TBCN ngày
càng gay gắt hơn. Trong khi lực lượng sản xuất ngày càng mang tính xã
hội thì quan hệ sản xuất vẫn không thay đổi, vẫn là quan hệ chiếm hữu
tư liệu sản xuất . Khi khủng hoảng xảy ra đông đảo quần chúng nhân
dân lao động càng điêu đứng, càng có ý thức đấu tranh để thoát nghèo
khổ và đó là tiêu diệt chế độ TB. Còn giai cấp TB và nhà nước tư bản thì
lại bất lực trước những tai họa mà do mình tạo ra. Vì vậy khủng hoảng
làm cho đấu tranh giai cấp diễn ra mạnh mẽ hơn. Mặt khác khủng hoảng
lại đem đến sự tập trung tư liệu sản xuất vào tay tư bản càng cao nên
-Khủng hoảng: là giai đoạn khởi điểm của chu kỳ kinh tế
mới. Ở giai đoạn này, hàng hóa ế thừa, ứ đọng, giá cả giảm
mạnh, sản xuất đình trệ, xí nghiệp đóng cửa, công nhân thất
nghiệp hàng loạt, tiền công hạ xuống. Tư bản mất khả năng
thanh toán các khoản nợ, phá sản, lực lượng sản xuất bị phá hoại
nghiêm trọng. Đây là giai đoạn mà các mâu thuẫn biểu hiện
thành xung đột dữ dội.
-Tiêu điều: đặc điểm của giai đoạn này là sản xuất ở trạng
thái trì trệ, không còn tiếp tục đi xuống nhưng cũng không tăng
lên, thương nghiệp vẫn đình đốn, hàng hóa được đêm bán hạ
giá, tư bản để rỗi nhiều vì không có nơi đầu tư. Trong giai đoạn
ày để thoát khỏi tình trạng bế tắc, các nhà tư bản còn trụ lại
được tìm cách giảm chi phí bằng cách hạ thấp tiền công, tăng
cường độ và thời gian lao động của công nhân, đổi mới tư bản
cố định làm cho sản xuất vẫn còn có lời trong tình hình hạ giá.
Việc đổi mới tư bản cố định làm tăng nhu cầu về tư liệu sản xuất
và tư liệu tiêu dùng, tạo điều kiện cho sự phục hồi chung của
nền kinh tế.
-Phục hồi: là giai đoạn mà các xí nghiệp được khôi phục
và mở rộng sản xuất. Công nhân lại được thu hút vào làm việc;
mức sản xuất đạt đến quy mô cũ, vật giá tăng lên, lợi nhuận của
tư bản do đó cũng tăng lên.
-Hưng thịnh: là giai đoạn sản xuất phát triển vượt quá
điểm cao nhất của chu kỳ trước đạt được. Nhu cầu và khả năng
tiêu thụ hàng hóa tăng, xí nghiệp được mở rộng và xây dựng
thêm. Nhu cầu tín dụng tăng, ngân hàng tung tiền cho vay, năng
lực sản xuất lại vượt quá sức mua của xã hội. Do đó, lại tạo điều
kiện cho một cuộc khủng hoảng kinh tế mới
lượng sản xuất.
Quan hệ cung cầu là quan hệ giữa người bán và người
mua, những người sản xuất và những người tiêu dùng là những
quan hệ có vai trò quan trọng trọng kinh tế hàng hóa.Không phải
chỉ ở giá cả ảnh hưởng tới cung cầu, mà ảnh hưởng tới việc xác
định giá cả trên thị trường.Khi cung lớn hơn cầu người bán phải
giảm giá cả, giá cả có thể thấp hơn giá trị.
Giữa cung và cầu về hàng hóa phải có sự thích ứng cần
thiết khách quan về hình thái hiện vật và hình thái giá trị. Do
vậy quan hệ cung cầu điều tiết được sự chênh lệch giữa giá cả
thị trường và giá trị thị trường. Sự lên xuống của giá cả thị
trường lại điều tiết quan hệ cung cầu, làm cho nền sản xuất có
được những tỉ lệ tương đối.Trước khi đạt tới sự tương đối thì xã
hội lãng phí rất nhiều sức lực và của cải.Vì vậy xã hội đòi hỏi
phải có sự kiểm tra, điều tiết, định hướng, một cách có ý thức
với sự vận động của cơ chế thị trường.
Các nhà tư bản ra sức tìm lối thoát bằng cách giảm bớt chi
phí sản xuất dù có bán hàng hóa với giá thấp vẫn thu được lợi
nhuận. Họ ra sức tăng cường bóc lột công nhân lợi dụng tình
hình thất nghiệp để hạ thấp tiền lương, kéo dài ngày lao động
nâng cao cường độ lao động. Biện pháp quan trọng là áp dụng
kỹ thuật để cải tiến bằng cách đổi mới hàng loạt máy móc thiết
bị.
Ngoài các
II. Liên hệ với Việt Nam hiện nay
Việt Nam là một nước định hướng XHCN, may mắn
không xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế chu kì như các nước
phát triển trên thế giới. Nhưng do nước ta đi lên yuwf một nền