Quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ của vương triều nguyễn đối với quần đảo hoàng sa trường sa - Pdf 35

Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành nghiên cứu này, bên cạnh những nổ
lực của bản thân, em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc đến Th.S Nguyễn Thị Lệ Thủy đã tận tình hướng
dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn đến:
- Ban giám hiệu trường Đại Học Phú Xuân, cùng các thầy cô giáo trong
khoa Xã hội - nhân văn, ngành Lịch sử, đã nhiệt tình dạy dỗ, dìu dắt, cung
cấp cho em nhiều kiến thức bổ ích.
- Thầy Trần Văn Quyến, đã giúp em sưu tầm các nguồn tài liệu đặc biệt giá
trị để hỗ trợ em hoàn thành bài nghiên cứu.
Là một bài nghiên cứu vì vậy sẽ không tránh khỏi những thiếu sót không
mong muốn vì vậy tôi xin được sự góp ý chân thành của tất cả những người
quan tâm đến.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn.
Sinh viên thực hiện:
Đinh Văn Kiên

1


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Biển và đảo Việt Nam nằm ở khoảng giao điểm của các luồng đường,
luồng hàng từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc, hội được nhiều thuận lợi cho
giao thương, cho tiếp xúc, hội nhập về kinh tế, về văn hóa, nhất là trong cách
mạng thương nghiệp, cách mạng công nghiệp, thời đại mà chủ nghĩa tư bản
phương Tây đang tìm đường bành trướng sang phương Đông.
Thế nhưng, biển và đảo trong hoàn cảnh đổi thay của thế giới, lại trở
thành mối nguy hiểm thường xuyên cho đất nước trước nguy cơ xâm lược và
thôn tính của kẻ thù cả ở phương Đông và phương Tây, ở cả phía Nam và phía

Với tất cả các tài liệu liên hệ về lịch sử, địa lý, tài nguyên...thuộc chủ
quyền của nhà nước Việt Nam trên hai quần đảo đó đã chứng minh được tính
pháp lý về chủ quyền của nhà nước Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa.
Thế nhưng, hiện nay vẫn có một số thế lực tìm mọi cách xuyên tạc sự
thật những chứng lý do lịch sử để lại để vi phạm chủ quyền trên hai quần đảo
này của Việt Nam.
Do vậy, với một lòng yêu quê hương đất nước sâu sắc, với ý thức bảo vệ
chủ quyền lãnh thổ, tôi đã chọn đề tài “Quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ
của vương triều Nguyễn đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường sa” làm đề tài
nghiên cứu lịch sử với mong muốn tái hiện lại quá trình xác lập chủ quyền lãnh
thổ đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của dân tộc ta.
Và cũng từ đó, thêm một lần nữa khẳng định một điều bất di bất dịch :
Hoàng Sa, Trường Sa mãi mãi là chủ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam.

3


2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam đã và đang trở thành một vần đề
hết sức nóng bỏng, có liên quan đến nhiều nước và thu hút được sự quan tâm
của nhiều quốc gia, nhiều học giả, giới nghiên cứu trên toàn thế giới.
Hàng loạt các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, nhà sử học
trong và ngoài nước đã được ấn hành xuất bản có liên quan đến hai quần đảo
này. Trong đó có nhiều công trình nghiên cứu của các học giả uy tín nổi tiếng
thế giới, đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này cả về
phương diện lịch sử và luật pháp quốc tế.
Nguyễn Nhã, Nguyễn Đình Đầu, Lê Minh Nghĩa, Từ Đặng Minh Thu,Vũ
Quang Việt (tổ chức thực hiện Đoàn Khắc Xuyên), “Hoàng Sa, Trường Sa là của
Việt Nam”, NXB Trẻ, 2008. Sách tập hợp một số bài nghiên cứu, bài báo và
những tư liệu mới của các nhà sử học và các nhà nghiên cứu, chứng minh chủ

biển Đông” của Trần Công Trực, nguyên trưởng ban Biên giới Chính phủ,
được trình bày tại hội thảo quốc tế về biển Đông, Hà Nội 2009. Hay Tham luận
của Tiến sĩ Lan Storey, viện nghiên cứu Đông Nam Á, với tiêu đề: “Những
chuyển biến gần đây trên biển Đông: Lý do để quan ngại” được trình bày tại
hội thảo quốc tế về biển Đông ở Hà Nội tháng 12/2009 v..v…
3. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục tiêu của đề tài
Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích, đánh giá về một số tài liệu liên hệ về lịch
sử, địa lý, tài nguyên... thuộc chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa, đề tài sẽ tập trung làm rõ quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ với
hai quần đảo trên của dân tộc ta trong lịch sử, cụ thể là thời vương triều Nguyễn.

5


3.2. Nhiệm vụ của đề tài
Đề tài tìm hiểu một cách khái quát về các điều kiện tự nhiên và thiên nhiên
của Hoàng Sa và Trường Sa. Quan trọng hơn là quá trình xác lập chủ quyền của
dân tộc Việt Nam qua các thời đại đặc biệt dưới thời vương triều Nguyễn.
Chúng tôi tập trung vào tìm hiểu các vấn đề sau:
- Thứ nhất: là đi sâu vào tìm hiểu các chính sách, hình thức, biện pháp
vương triều Nguyễn đã tiến hành để thực thi chủ quyền của nước ta trên hai
quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thông qua nhiều nguồn tư liệu khác nhau.
Thứ hai: định hướng giải pháp cho Việt Nam trong việc tranh chấp
Hoàng Sa và Trường Sa.
4. Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này, thì phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong việc tập
trung tìm hiểu hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, mà sợi chỉ đỏ đó là làm lộ
rõ việc xác lập chủ quyền của dân tộc ta đối với hai quần đảo Hoàng Sa,
Trường Sa đặc biệt thời vương triều Nguyễn (1802-1945) nhằm chống lại các

CHƯƠNG MỘT : NHỮNG TRANH CHẤP TRÊN HAI QUẦN ĐẢO
HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA
CHƯƠNG HAI: QUÁ TRÌNH XÁC LẬP CHỦ QUYỀN TRÊN HAI
QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA
CHƯƠNG BA : ĐỊNH HƯỚNG GIẢI PHÁP CHO HIỆN TẠI VÀ
TƯƠNG LAI
7


8


NỘI DUNG
CHƯƠNG MỘT: NHỮNG TRANH CHẤP TRÊN HAI QUẦN ĐẢO
HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA
1.1. Từ năm 1909 đến hết chiến tranh thế giới thứ hai
Ngày 6/6/1909: Phó vương Tổng đốc Lưỡng Quảng (gồm 2 tỉnh của
Trung Quốc là Quảng Đông và Quảng Tây) đã phái hai pháo thuyền nhỏ do
Đô đốc Lý Chuẩn chỉ huy, tiến hành một cuộc đổ bộ chớp nhoáng (24h) lên
vài đảo của Hoàng Sa. Pháp không có phản kháng nào.
Năm 1920: một công ty Nhật Bản, Mitsui – Bunssan Kaisha, sau khi liên
hệ hỏi nhà cầm quyền Pháp đã tiến hành khai phốt phát trên một số đảo.
Từ năm 1920: Pháp thực hiện việc kiểm soát trên biển và kiểm soát hải
quan đối với quần đảo Hoàng Sa.
Ngày 30/3/1921: Thống đốc quân sự Quảng Đông cho biết là Chính
phủ quân sự miền Nam đã quyết định sáp nhập về mặt hành chính quần đảo
Hoàng Sa vào Nhai Huyện (Đảo Hải Nam). Nước Pháp không phản
đối. (Tuy vậy, có một thực tế là Chính phủ Quảng Đông lúc đó không được
Chính quyền Trung ương Trung Quốc và các nước khác công nhận).
Từ năm 1925: việc nghiên cứu khoa học về quần đảo Hoàng Sa do một

Gòn đến đảo Trường Sa (gồm thông báo hạm La Malicieuse).
Sự chiếm hữu tiến hành theo nghi thức cổ xưa - đó là một văn bản được thảo
ra và các thuyền trưởng ký thành 11 bản. Mỗi đảo nhận một văn bản, được
đóng kín vào trong một cái trai rồi được gắn trong một trụ xi măng xây trên
mỗi đảo tại một điểm ấn định và cố định trên mặt đất, người ta kéo lên lá cờ
tam tài và thổi kèn trên từng hòn đảo.
10


Năm 1933: theo nghị định ngày 26/7, chính phủ Pháp công bố việc
chiếm hữu của Hải quân Pháp đối với quần đảo Trường Sa. Và theo nghị định
ngày 21/12 của cùng năm đó, thống đốc Nam Kỳ là J.Krautheimer sáp nhập
chính thức quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa.
Năm 1937: kỹ sư trưởng công chính Gauthier, nhân danh chính quyền
thuộc địa Pháp, thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khả năng xây dựng các công
trình biển và hàng không tại quần đảo Hoàng Sa và xây dựng một hải đăng
trên quần đảo này.
Năm 1938-1939: kết quả của chuyến nghiên cứu Gauthier được mở rộng.
Pháp phái các đơn vị cảnh vệ tới các đảo. Theo Nghị định ngày 15/6/1938. Jules
Brévié, Toàn quyền Đông Dương, (sau khi hoàng đế Bảo Đại ký dụ chuyển
quần đảo Hoàng Sa từ tỉnh Nam Ngãi sang tỉnh Thừa Thiên).
Ngày 5-5-1939 : Toàn quyền Đông Dương Jules Brévié, đã sửa đổi Nghị
định trước và thành lập hai đại lý trên quần đảo Hoàng Sa. Một tấm bia được
dựng lên trên đảo Hoàng Sa vào năm 1938 với dòng chữ “Cộng hòa PhápVương quốc An Nam-Quần đảo Hoàng Sa-1816-Đảo Pattle 1938”.
Trên quần đảo Hoàng Sa, có một hải đăng, một trạm khí tượng và một trạm
vô tuyến được đặt trên đảo Hoàng Sa. Các công việc đó cũng sẽ được tiến hành
đối với quần đảo Trường Sa, trên đảo Ba Bình (Itu Aba).
Năm 1939: ngày 31/3, chính phủ Nhật Bản tuyên bố sự kiểm soát của họ
trên quần đảoTrường Sa. Thông báo được chuyển tới Đại sứ Pháp bằng một
thông điệp khẳng định Nhật Bản là người đầu tiên thám hiểm quần đảo vào


12


Tháng 4/1949: Đổng lý văn phòng của Hoàng đế Bảo Đại, Hoàng thân
Bửu Lộc, tại một cuộc họp báo tại Sài Gòn đã công khai khẳng định lại các
quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tháng 4/1950: cùng với sự thất bại trong lục địa nên đồn lính do Trung
Hoa Dân Quốc đặt trên quần đảo Hoàng Sa phải rút lui. Đơn vị lính Pháp vẫn
được duy trì ở đảo Hoàng Sa. Ngày 14/10, chính phủ Pháp chính thức chuyển
giao cho chính phủ Bảo Đại quyền quản lý các đảo. Tổng trấn Trung phần đã
chủ tọa việc chuyển giao quyền hành ở quần đảo Hoàng Sa. Lúc này trên
quần đảo Trường Sa không có mặt lực lượng quân sự nào của Trung Quốc.
Năm 1951: Quần đảo Trường Sa trở thành đối tượng của các yêu sách
trên lĩnh vực ngoại giao. Tổng thống Philippin, Quirino, đòi các đảo đó cho
Philippin với lập luận tính kế cận.
Ngày 24/8/1951: Tân hoa xã tranh cãi về các quyền của Pháp và những tham
vọng của Philippin và những kiên quyết khẳng định quyền của Trung Quốc.
Ngày 7/9/1951: Thủ tướng và Bộ trưởng bộ ngoại giao của chính phủ
Bảo Đại trịnh trọng tuyên bố hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh
thổ Việt Nam. Không có Đại biểu nào bình luận về tuyên bố này.
Từ năm 1956, quần đảo Hoàng Sa đã bị quân đội của Trung Quốc chiếm
đóng ở phần phía Đông, và quân đội của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa
chiếm phần còn lại phía Tây.
Còn ở Trường Sa, ngày 15/3/1956, Thomas Cloma, một công dân
Philippin đã đổ bộ lên một số đảo của quần đảo Trường Sa. Với danh nghĩa tư
nhân, cùng với một số bạn, có ý đồ chiếm hữu một số đảo và đặt tên cho
chúng là “Đất tự do” bằng lập luận về quyền phát hiện và chiếm cứ. Ngày
15/5, ông ta thông báo cho Bộ trưởng ngoại giao nước mình.



Ngày 18/1/1974: Đại sứ Đài Loan tại Sài Gòn bằng công hàm ngoại giao
đã khẳng định lại yêu sách của Trung Hoa Dân Quốc.
Ngày 19 và 20/1/1974: Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cho quân đội tàu
chiến bắn phá các đảo, đổ bộ lên các đảo phía Tây Hoàng Sa. Quân đội Việt
Nam Cộng Hòa bị thiệt hại nặng.
Ngay sau đó quan sát viên của Việt Nam cộng hòa ở Liên Hiệp Quốc
yêu cầu Hội đồng bảo an xem xét vấn đề này.
Qua thông điệp ngoại giao được gửi đến tất cả các nước ký các Hiệp
định Paris ngày 2-3-1973, chính quyền Sài Gòn nhắc lại sự đảm bảo toàn vẹn
lãnh thổ của Việt nam đã được công nhận. Và yêu cầu Hội đồng bảo an họp
một phiên đặc biệt.
Ngày 2/7/1974: Đoàn Đại biểu của Nam Việt Nam ra tuyên bố tại Hội
nghị của Liên hiệp quốc về luật biển nhằm khẳng định lại chủ quyền của Việt
Nam trên các quần đảo.
1.3. Từ năm 1975 đến nay
1975: Việt Nam hoàn toàn giải phóng.
Từ 1975 đến 1990: Việt Nam hợp tác toàn diện với Liên xô, Trung Quốc
đã ký với Mỹ Thông cáo chung ở Thượng Hải năm 1972; mâu thuẫn giữa
Trung Quốc và Liên Xô không giảm; Việt Nam và Trung Quốc xảy ra chiến
tranh năm 1979 khiến tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Hoàng Sa
và Trường Sa càng trở nên gay gắt.
Ngày 5/4/1975: Bộ Tư lệnh Hải quân chủ trương chuẩn bị chiến đấu giải
phóng quần đảo Trường Sa.

15


Ngày 10/9/1975: Bắc Kinh gửi công hàm cho Việt Nam khẳng định chủ
quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Trung

Tháng 12/1981: Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố sách trắng: “Quần
đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam”.
Ngày 12/11/1982: Chính phủ Việt Nam công bố đường cơ sở dùng để
tính chiều rộng lãnh hải.
Ngày 4/2/1982: Chính phủ Việt Nam thành lập huyện Hoàng Sa thuộc
tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng.
Ngày 9/12/1982: Chính phủ Việt Nam lập huyện Trường Sa. Đến ngày
28/12/1982, Chính phủ Việt Nam quyết định huyện Trường Sa được nhập
vào tỉnh Phú Khánh.
Từ ngày 4 đến 16/4/1984: đoàn đại biểu Quốc hội CHXHCNVN và
đoàn đại biểu tỉnh Phú Khánh thăm huyện Trường Sa. Thứ trưởng Bộ Thủy
sản Việt Nam Vũ Văn Trác đi khảo sát nghề cá tại huyện Trường Sa.
Ngày 25/4/1984: Ủy ban Địa danh Trung Quốc công bố tên mới cho các
đảo, bãi, đá trong Biển Đông trong đó có đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa của Việt Nam.
Ngày 6/5/1984: người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam phản đối việc
đặt tên của Trung Quốc.
Vào đầu năm 1985: Đại tướng Văn Tiến Dũng, Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng Việt Nam ra thăm quần đảo Trường Sa.
Năm 1986: ông Hồ Diệu Bang, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung
Quốc cùng Lưu Hoa Thanh, Trương Trọng Tiến đi thị sát Hoàng Sa.

17


Tháng 5/1987: Đô đốc Giáp Văn Cường, Tư lệnh Hải quân Việt Nam ra
thăm quần đảo Trường Sa.
Từ 16/5 đến 6/6/1987: hải quân Trung Quốc tập trận tại vùng biển
Trường Sa.
Ngày 10/11/1987: hải quân Trung Quốc đổ bộ lên đá Louisa.

vẫn tiếp tục tranh chấp với Việt Nam ở Trường Sa.
Tháng 8/1990: Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng đề nghị tiến hành khai
thác chung khu vực quần đảo Trường Sa.
Ngày 1/2/1991: Trung Quốc xây dựng nhiều hải đăng trên các bãi đá
ngầm mới chiếm được trong quần đảo Trường Sa.
Ngày 4/7/1991: tại KuaLa Lumpur tổ chức một hội thảo không chính
thức về giải quyết các tranh chấp trên vùng Biển Đông, Trung Quốc có cử
đoàn cán bộ tham gia, người phát ngôn Bắc Kinh tuyên bố việc tham gia như
thế không có nghĩa là Trung Quốc đã thay đổi lập trường và nói: “Trung
Quốc chủ trương giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa bình, Trung
Quốc sẵn sàng cùng các nước liên quan thảo luận con đường và phương pháp
cùng khai thác”.
Ngày 10/11/1991: các nhà lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc ký tại Bắc
Kinh thông báo chung về bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.
Ngày 25/2/1992: Quốc hội Trung Quốc công bố luật lãnh hải và vùng
tiếp giáp Trung Quốc, quy định lãnh hải rộng 12 hải lý và lãnh thổ Trung
Quốc giữa bốn quần đảo Đông, Tây, Nam, Trung Sa và đảo Điếu Ngư. Việt
Nam đã lên tiếng công khai phản đối sự kiện này.

19


Năm 1994: Việt Nam phản đối Trung Quốc đã xâm phạm thềm lục địa
và vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam khi Trung Quốc ký với Công ty
Crestones (Mỹ) cho phép thăm dò khai thác dầu mà Trung Quốc gọi là hợp
đồng Vạn An Bắc 21.
Năm 2002: Trung Quốc và ASEAN ký tuyên bố chung DOC.
2007: Trung Quốc thành lập huyện Tam sa bao gồm cả quần dảo Hoàng
Sa và Trường Sa.
16/8/2009: Trung Quốc diễn tập quân sự quy mô lớn trên biển Đông

Trường Sa; trên bản đồ thường ghi”I de Pracell”như bản đồ Bartholomen
Velho (1560), bản đồ Fernao Vaz Dourado (1590), bản đồVan Langren
(1595)…
Người Pháp, Anh gọi là Paracel vào thế kỷ XVII, XVIII trên các bản đồ
hàng hải.
Người Trung Hoa thường gọi là Nam Hải, song cũng tùy theo từng thời
kỳ lịch sử người Trung Hoa đã tên gọi khác nhau như biển Giao Chỉ (Giao
Chỉ Dương).
Các nhà hàng hải Phương Tây từ thế kỷ XVI thường gọi là biển Champa
(Ciampa), hay biển Trung Hoa hay Nam Trung Hoa. Cũng như người ta
thường gọi biển kế cận Ấn Độ là Ấn Độ Dương. Song chẳng bao giờ Ấn Độ
21


Dương là của Ấn Độ cũng như Biển Trung Hoa là của Trung Hoa cả. Đúng
ra, Biển Đông bao quanh hầu hết các nước Đông Nam Á như Việt Nam,
Philippines, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Campuchia,
nên phải gọi là Biển Đông Nam Á mới đúng.
Người Pháp gọi là Archipel des ýles Spratly, người Anh, Mỹ gọi là
Spratley Islands hay Spratlies. Trung Quốc gọi là Nansha (Nam Sa) hay Nan
Wei quần đảo, Philippines gọi là Kalayaan. Nhật gọi là Shinnan Guto.
2.1.2 Quần đảo Hoàng Sa
Quần đảo Hoàng Sa nằm trong một phạm vi rộng khoảng 15.000km2 , giữa
kinh tuyến 111 độ Đông đến 1130 Đông, khoảng 95 hải lý (1 hải lý = 1,853 km),
từ 17o05’ xuống 15o,45’ vĩ Bắc, khoảng 90 hải lý; xung quanh là vùng biển có
độ sâu hơn 1000m, song giữa các đảo có độ sâu thường dưới 100m.
Quần đảo Hoàng Sa nằm ngang bờ biển các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên,
Quảng Nam và một phần Quảng Ngãi.
Về khoảng cách với đất liền, quần đảo Hoàng Sa nằm gần đất liền Việt
Nam hơn cả:

Phía Tây nhóm đảo Linh Côn, còn có Đá Tháp (Pyramid Island), bãi
Thủy Tề (Neptuna Bank); phía Nam, tây Nam còn có bãi Quảng Nghĩa
(Jehangir Bank), bãi Châu Nhai (Bremen Bank)…
Ngoài ra ở cực Nam còn có đảo Tri Tôn (Triton Island, Zhongjian dao,
1110 12kinh Đông, 150 46 vĩ Bắc). Đây là hòn đảo đơn độc, ít người lui tới,
nhưng rất nhiều hải sản, san hô đủ màu.

23


2.1.3. Quần đảo Trường Sa
Quần đảo Trường Sa cách quần đảo Hoàng Sa hiện nay tính đến đảo gần
nhất vào khoảng 350 hải lý, đảo xa nhất 500 hải lý, cách Vũng Tàu 305 hải lý,
Cam Ranh 250 hải lý, đảo Phú Quốc 240 hải lý, cách Bình Thuận (Phan
Thiết) 270 hải lý.
Quần đảo trải dài từ vĩ độ 60 2 vĩ Bắc tới 110 28 vĩ Bắc, từ kinh độ 1120
Đông đến 1150 Đông trong vùng biển chiếm khoảng 160.000km2 180.000km2 . Biển tuy rộng nhưng diện tích các đảo, đá, bãi nổi lên khỏi mặt
nước lại rất ít, chỉ tổng cộng khoảng 11 km2.
Về số lượng đảo theo thống kê của Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Thao (Vụ
Biển thuộc Ban Biên Giới Chính Phủ) năm 1988 bao gồm 137 đảo, đá, bãi
không kể 5 bãi ngầm thuộc thềm lục địa Việt Nam (gồm bãi Phúc Tần,
Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Nguyên, Tứ Chính).
Theo thống kê của Pháp năm 1933 gồm 9 đơn vị chính và các đảo, đá,
bãi phụ cận. Philippines đã liệt kê một danh sách 53 đơn vị gồm hòn đảo và
cù lao trong một khu vực 976 dặm vuông. Căn cứ vào hải đồ vẽ năm 1979
của Cục Bản Đồ Quân Sự Bộ Tổng Tham Mưu (Cộng Hoà Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam), quần đảo Trường Sa có thể chia làm 9 cụm chính kể từ Bắc
xuống Nam: Đảo Song Tử Đông, đảo Song Tử Tây; phía Nam cụm Song Tử,
gồm đảo Thị Tứ và các bãi đá; Phía Nam đảo Thị Tứ là đá Xu Bi (Subi Reef,
Zhu Bi Jiao, Zamora Reef (Philipin)), cách đảo Thị Tứ chừng 14 hải lý (đã bị

Những khảo sát về thảo mộc của La Fontaine, vào thập niên 40, 50 tại
Hoàng Sa đã đi đến kết luận rõ ràng rằng không có loại thảo mộc nào là tại
chỗ cả, tất cả từ vùng đất liền du nhập bằng nhiều cách. Cũng theo sự phân
tích một cách khoa học của H. Fontaine và Lê Văn Hội trong "Contribution à
la connaissance de la flore des ýles Paracels" (Khảo cứu Niên San Khoa Học
Đại học Đường - Annales de la faculté des Sciences, Sàigòn 1957, pp 133 137), thì mỗi thảo mộc hiện có ở Hoàng Sa đều tìm thấy ở Việt Nam nhất là ở
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status