BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trịnh Ngọc Thiện
CHÍNH QUYỀN ĐẠI VIỆT VÀ
QUÁ TRÌNH XÁC LẬP CHỦ QUYỀN
LÃNH THỔ PHÍA NAM
(THẾ KỶ XI – XVIII)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trịnh Ngọc Thiện
CHÍNH QUYỀN ĐẠI VIỆT VÀ
QUÁ TRÌNH XÁC LẬP CHỦ QUYỀN
LÃNH THỔ PHÍA NAM
(THẾ KỶ XI – XVIII)
Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số:
60 22 03 13
8
T
8
1.1. Chính quyền Đại Việt trong các thế kỷ XI - XVIII ........................................ 15
T
8
T
8
1.2. Vùng đất phía Nam của Đại Việt trong các thế kỷ XI – XVIII...................... 27
T
8
T
8
1.2.1. Vương quốc cổ Champa .......................................................................... 27
T
8
T
8
1.2.1. Vùng đất Nam Bộ .................................................................................... 32
T
8
2.2.2. Thế kỷ XVI - XVII .................................................................................. 68
T
8
T
8
Chương 3. QUÁ TRÌNH XÁC LẬP CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ CỦA
CHÍNH QUYỀN ĐẠI VIỆT TRÊN VÙNG ĐẤT NAM BỘ (thế kỷ XVI
– cuối thế kỷ XVIII) ........................................................................................ 85
T
8
8T
3.1. Quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ trên vùng đất Nam Bộ ........................ 85
T
8
T
8
3.1.1. Công cuộc di dân và khai phá vùng đất Nam Bộ .................................... 85
T
8
T
8
8T
PHỤ LỤC ………………………………………………………………………. 170
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việc xác lập, giữ vững và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có ý nghĩa quan trọng
đến sự tồn vong của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh thế giới hiện nay, việc bảo vệ
chủ quyền lãnh thổ đang là vấn đề nóng bỏng, ngày càng gay gắt khi mà mỗi quốc
gia đều cố gắng “giữ” và “giành” những vùng đất thuộc chủ quyền lãnh thổ của
mình.
Trong các thế kỷ XI-XVIII, khi các quốc gia phong kiến trong khu vực đang
cố gắng khẳng định sức mạnh và vị thế đối với lân bang, thì xung đột và chiến tranh
thôn tính là điều không tránh khỏi. Hậu quả của chiến tranh phong kiến là rất lớn,
nhiều xứ sở điêu tàn, nhiều vương triều sụp đổ, nhiều kho tàng bị cướp phá. Không
chỉ tù binh, của cải, mà đất đai đã trở thành chiến lợi phấm. Chiến lợi phẩm ngày
càng lớn theo quy mô của các cuộc chiến tranh, cuối cùng là cả một vùng đất rộng,
thậm chí cả một quốc gia, trở thành chiến lợi phẩm của đội quân thắng trận... Lịch
sử khu vực Đông Nam Á đã chứng kiến vương quốc chư hầu Chân Lạp đã tấn công
làm diệt vong đế quốc tông chủ Phù Nam, người Thái, người Khmer đã xâm chiếm
làm suy tàn các quốc gia cổ của ngườn Môn, vương quốc Ayuthay của người Thái
đã chiếm hết cao nguyên Cò Rạt của người Khmer và có tham vọng xâm chiếm toàn
bộ lãnh thổ của vương quốc Chân Lạp...Những cuộc chiến tranh phong kiến giữa
Chân Lạp với Champa, giữa Ayuthay với Chân Lạp, giữa Ayuthay với Lang Xang,
giữa các quốc gia hải đảo với nhau... diễn ra thường xuyên, như là một quy luật.
Một trong các quy luật khắc nghiệt của chiến tranh phong kiến, đó là quy luật "ưu
để bảo toàn lãnh thổ, giành để củng cố và mở rộng). Luận văn đi sâu nghiên cứu
những tư liệu minh chứng và những hoạt động xác lập, chiếm hữu, bảo vệ chủ
quyền lãnh thổ trên vùng đất thuộc miền Trung và Nam bộ của nước Việt Nam
trong quá trình lịch sử.
Đề tài cũng đề cập và nghiên cứu vai trò của cộng đồng cư dân người Việt,
Hoa, Chăm, Khơme trong quá trình xác lập và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ phía nam
của Đại Việt. Đặc biệt là vai trò quan trọng của chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng
Trong trong việc thực thi và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ đất nước trên vùng đất Nam
bộ ngày nay. Bên cạnh đó là ý thức về chủ quyền lãnh thổ trên biển và hải đảo của
chính quyền chúa Nguyễn.
8
Phạm vi nghiên cứu của đề tài “Chính quyền Đại Việt và quá trình xác lập
chủ quyền lãnh thổ phía nam (thế kỷ XI-XVIII)” được nghiên cứu mở đầu từ thời kỳ
vương triều nhà Lý của Đại Việt, sau đó lần lượt trải qua các triều đại Trần, Hồ, Lê
sơ và thời kỳ đất nước bị chia cắt thành Đàng Trong – Đàng Ngoài. Nội dung
nghiên cứu tập trung vào những hoạt động và vai trò của nhà nước Đại Việt trong
hai lĩnh vực là quân sự và ngoại giao, gắn liền với việc xác lập chủ quyền và bảo vệ
lãnh thổ phía nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu được sử dụng là phương pháp nghiên cứu lịch sử theo
quan điểm duy vật lịch sử.Đây là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong luận
văn, nhất là phần nghiên cứu diễn tiến quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ phía
nam của Đại Việt từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVIII theo trình tự thời gian, trong những
hoàn cảnh không gian, hoàn cảnh cụ thể nhất định.
Tác giả đặt vai trò sưu tầm sử liệu lên hàng đầu, cố gắng sưu tầm đầy đủ các
tư liệu, tiếp cận các tài liệu gốc. Tác giả dựa vào thư tịch, tài liệu tham khảo của các
công trình đã nghiên cứu đã có trước, các tổng mục sách báo, sách dẫn, tạp chí. Bên
cạnh đó việc khảo chứng, xử lý, đánh giá tư liệu cũng được đặc biệt quan tâm.
ghi chép các sự kiện lịch sử của dân tộc từ thời Hồng Bàng cho đến hết đời Lê Thái
Tổ. Trong tác phẩm, có nhiều ghi chép về mối bang giao của Đại Việt với các quốc
gia trong khu vực, trong đó có mối quan hệ với Chiêm Thành và Chân Lạp trên
nhiều lĩnh vực, cung cấp nhiều thông tin về quá trình xác lập, thực thi và bảo vệ chủ
quyền lãnh thổ phía Nam của chính quyền Đại Việt (trên lãnh thổ cũ của Champa)
qua các triều đại Lý, Trần, Hồ và Lê sơ.
Những ghi chép, nghiên cứu của Lê Qúy Đôn trong “Phủ biên tạp lục” cũng
là những tư liệu quý đối với việc nghiên cứu vấn đề. Trong quyển I, Lê Qúy Đôn đã
trình bày về lịch sử khẩn hoang, khai phá và khôi phục hai vùng đất Thuận Hóa và
Quảng Nam, cũng như về tổ chức bộ máy chính quyền, hệ thống thuế khóa, quan
lại, binh lính… ở hai vùng đất này dưới thời các chúa Nguyễn. Đặc biệt, những ghi
10
chép trong Phủ biên tạp lục cung cấp cho chúng ta những thông tin, tư liệu quý giá
về hoạt động khẳng định chủ quyền lãnh thổ của chính quyền chúa Nguyễn trên 2
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Bộ Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn, gồm hai phần: Đại
Nam thực lục tiền biên và Đại Nam thực lục chính biên. Trong đó, phần thư nhấtghi
chép giai đoạn lịch sử từ khi Nguyễn Hoàng vào Nam (1558) đến đời chúa Nguyễn
Phúc Thuần (1777). Bộ sách là một tập hợp các ghi chép dưới dạng biên niên về
những sự việc cụ thể, những lời nói, việc làm của vua, lời tâu trình của quần thần,
việc nội trị, ngoại giao; trong đó có quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ của chính
quyền Đàng Trong trên vùng đất cũ của Champa (từ Phú Yên trở vào Bình Thuận),
vùng đất Nam bộ và những hoạt động xác lập chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa.
Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức là tập sách lịch sử-địa lý tập
hợp những ghi chép, nghiên cứu về cương vực, địa giới, quá trình khai hoang phát
triển của vùng Gia Định từ buổi hoang sơ cho đến thời kỳ nhà Nguyễn. Những ghi
chép, nghiên cứu của Trịnh Hoài Đức cung cấp những tư liệu quý về việc khẩn
của mình, tác giả đã có phần nói về sự mở mang lãnh thổ, xác lập chủ quyền trên
vùng đất phía nam qua các đời Lý, Trần, Hồ, Lê sơ. Đây là một công trình nghiên
cứu quan trọng, cung cấp những tư liệu quý về cương vực lãnh thổ của nước ta qua
các đời.
Cuốn “Việt sử xứ Đàng Trong” của Phan Khoang, là một công trình nghiên
cứu về vùng đất phía Nam của Đại Việt, về vương quốc Champa và quốc gia Chân
Lạp, về vùng đất Đàng Trong của các chúa Nguyễn. Tác giả đã dành một phần nói
về cuộc Nam tiến của Đại Việt từ thời Nguyễn Hoàng, công cuộc khai phá vùng đất
Đàng Trong, về quá trình chiếm đất Champa, lấn đất Thủy Chân Lạp, mở đất Gia
Định, về nhân vật Mạc Cửu và vùng đất Hà Tiên. Đây là một công trình cung cấp
nhiều tư liệu quý, quan trọng về một giai đoạn lịch sử nhiều biến động của nước ta.
Công trình nghiên cứu Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ của tác giả Huỳnh
Lứa đã cung cấp cho người nghiên cứu nhiều tư liệu về công cuộc chuyển cư, quá
trình khai phá của di dân người Việt tại vùng đất Nam Bộ, về phương thức khẩn
hoang, các khu vực khai phá, thành quả khai phá, tình hình sản xuất nông nghiệp,
những biến đổi bước đầu về mặt kinh tế-xã hội của Nam bộ sau hai thế kỷ khai phá
(Chương II). Công trình nghiên cứu đã góp phần dựng lại quá trình di dân, khai phá
12
vùng đất Nam Bộ của lưu dân người Việt, người Hoa, người Khmer trong thời kỳ
các chúa Nguyễn (thế kỷ XVII, XVIII).
Cuốn “Lịch Sử Champa” của giáo sư Lương Ninh là một công trình nghiên
cứu về lịch sử của nước Champa (hay Chiêm Thành), một quốc gia láng giềng ở
phía Nam của Đại Việt. Trong công trình của mình, tác giả trình bày về lịch sử nước
Champa từ lúc hình thành qua các giai đoạn phát triển, khủng hoảng (Chương 7),
những mối quan hệ bang giao, những cuộc xung đột, tranh giành lãnh thổ với nước
láng giềng Đại Việt và cuối cùng được sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt, người Chăm
trở thành một dân tộc thành phần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
“Xứ Đàng Trong- Lịch sử kinh tế -xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18”, Luận án
Nay) và tác phẩm Nam Bộ Đất và Người (gồm 9 tập) của Hội khoa học Lịch sử Tp
Hồ Chí Minh.
Ngoài ra còn nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu có liên quan đến quá
trình mở rộng, xã lập chủ quyền lãnh thổ phía Nam của Đại Việt như “Góp phần tìm
hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII, XVIII, XIX” của Huỳnh Lứa; “Lịch sử khẩn
hoang miền Nam” và “Tìm hiểu đất Hậu Giang và lịch sử đất An Giang”… của nhà
văn Sơn Nam; “Vùng đất cổ miền Đông Nam bộ” của Vương Liêm, Lược sử vùng
đất Nam bộ của Vũ Minh Giang,Hội thảo chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn
trong lịch sử Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX,Hội thảo Nam Bộ và Nam
Trung Bộ những vấn đề lịch sử thế kỉ XVII - XIX, các tạp chí chuyên ngành như
Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí Sử - Địa, Tạp chí Xưa và Nay, Tạp chí Nghiên
cứu Kinh tế, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á,…cũng là nguồn tư liệu đã đề cập
trong nhiều mức độ về vấn đề mà luận văn nghiên cứu, cung cấp những tư liệu quan
trọng và những kiến giải khoa học cho việc tìm hiểu về quá trình xác lập chủ quyền
lãnh thổ phía Nam của chính quyền Đại Việt trong các thế kỷ XI - XVIII.
Quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ phía Nam của chính quyền Đại Việt
trong các thế kỷ XVI – XVIII đã được nhiều tác giả quan tâm, trình bày trên nhiều
phương diện, từng thời kỳ khác nhau. Tuy nhiên, một công trình nghiên cứu chuyên
sâu và có hệ thống về quá trình này vẫn là rất cần thiết. Tác giả luận văn này mong
muốn thực hiện và đóng góp được điều đó.
14
6. Bố cục luận văn
Luận văn ngoài phần Mở đầu và Kết luận, có 3 chương:
Chương 1. CHÍNH QUYỀN ĐẠI VIỆT VÀ VÙNG ĐẤT PHÍA NAM TRONG
CÁC THẾ KỶ XI – XVIII
1.1. Chính quyền Đại Việt trong các thế kỷ XI – XVIII
1.2. Vùng đất phía Nam của Đại Việt trong các thế kỷ XI – XVIII
bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ xây dựng, phát triển và bảo vệ quốc gia quân
chủ độc lập thống nhất. Nước Đại Việt dần phát triển và hưng thịnh, trở thành một
nước hùng mạnh trong khu vực.
Thời Lý (1009 - 1225) - Trần (1226 - 1400) tiếp tục sự nghiệp đã được định
hướng từ các triều đại trước. Một quốc gia độc lập, tự chủ với chế độ quân chủ
trung ương tập quyền mạnh đang dần chuyển hóa sang tính chất phong kiến quý tộc
được bảo vệ, củng cố và phát triển. Năm 1010, Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra
Thăng Long, góp phần thúc đẩy quá trình mở mang đất nước tiến dần vào phía
Nam, xuống các vùng đất bằng phẳng; chuyển từ miền núi xuống vùng đồng bằng
trù phú. Bộ máy chính quyền có nhiều thay đổi theo hướng chặt chẽ. Quân đội được
tổ chức và trang bị tốt. Hệ thống pháp luật ngày càng tãng cường và hoàn thiện.
Năm 1054, vua Lý Thánh Tông đổi tên nước là Đại Việt.
Cuối thế kỉ XIV, triều đại nhà Trần bắt đầu suy yếu, các vị vua lúc này
không còn được anh minh như thuở đầu, đời sống nhân dân khổ cực vì quan lại
tham nhũng, lộng hành. Tháng 3 năm 1400, Hồ Quý Ly sau một quá trình chuẩn bị
lực lượng, nhờ vào quan hệ ngoại thích với vua Trần, đã giành ngôi vua, tự lập
hoàng đế. Triều Hồ được dựng lên. Hồ Quý Ly đổi gọi nước ta là Đại Ngu. Tồn tại
chưa đầy 7 năm, cuộc kháng chiến của nhà Hồ chống quân xâm lược bị thất bại,
nước ta lại rơi vào ách đô hộ của chế độ phong kiến nhà Minh.
Bước sang thế kỉ XV tình hình nước ta có nhiều chuyển biến lớn, nhất là sau
thắng lợi của Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống ách đô hộ của nhà Minh (1427),
16
giành lại nền độc lập cho đất nước. Đây cũng là giai đoạn đánh dấu sự hoàn chỉnh
và phát triển đến đỉnh cao của nhà nước phong kiến Đại Việt.
Từ cuối thế kỉ XV - đầu thế kỉ XVI, dưới các triều vua Uy Mục, Tương Dực,
triều đình phong kiến nhà Lê suy yếu nhanh chóng. Vua quan sao nhãng việc triều
chính, xây dựng cung điện, lăng tẩm liên miên. Thiên tai, mất mùa, nạn đói thường
xuyên diễn ra, đè lên những người nông dân khốn khổ. Quan lại ra sức tung hoành,
đã bị Trịnh Kiểm bí mật thủ tiêu, và luôn tìm cách hãm hại người con còn lại là
Nguyễn Hoàng. Trước âm mưu của Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng đã nhiều lần tìm
cách vận động để được vào Nam giữ chức trấn thủ Thuận Hóa, với hi vọng sẽ vừa
tránh được âm mưu sát hại của Trịnh Kiểm, vừa có thể âm thầm chuẩn bị lực lượng
cho riêng mình, chờ cơ hội để giành lại quyền lực.
Tháng 11 năm 1558, Nguyễn Hoàng vào nhậm chức trấn thủ Thuận Hóa.
Đến năm 1579 thì kiêm luôn chức Trấn thủ Quảng Nam. Nguyễn Hoàng vừa quan
tâm việc xây dựng, củng cố lực lượng cho riêng mình nhưng vẫn giữ lệ hàng năm ra
Bắc triều bạp thuế, sổ sách, báo cáo tình hình ở vùng Thuận Quảng. Trịnh Kiểm
vẫn không ngừng mọi thủ đoạn để hãm hại Nguyễn Hoàng nhưng không thành.
Năm 1613, trước khi chết, Nguyễn Hoàng đã cho gọi hoàng tử thứ 6, đang làm trấn
thủ Quảng Nam là Nguyễn Phúc Nguyên, và căn dặn cố gắng bảo vệ dòng họ của
mình, tiếp tục gây dựng cơ đồ riêng. Sau khi nối nghiệp cha, Nguyễn Phúc Nguyên
đã tiếp tục củng cố chính quyền, tách khỏi sự phụ thuộc vào họ Trịnh, chỉ nộp thuế
hàng năm. Năm 1623, Nguyễn Phúc Nguyên tuyệt giao với họ Trịnh, không chịu
nộp thuế nữa. Lấy cớ đó, năm 1627, họ Trịnh mang quân vào tấn công Thuận Hóa,
cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn bùng nổ.
Cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn kéo dài suốt từ năm 1627 đến năm 1672
với bảy trận chiến lớn diễn ra vào các năm: 1627, 1633, 1643, 1648, 1655-1660,
1661-1662 và 1672. Cuộc chiến không mang lại thắng lợi cho bên nào, hai bên đã
lấy sông Gianh làm ranh giới chia cắt Đàng Trong và Đàng Ngoài. Từ đó nước ta
rơi vào tình trạng bị chia cắt lãnh thổ trong suốt 100 năm. Cả chính quyền ở Đàng
Ngoài và Đàng Trong sau đó đã ra sức xây dựng bộ máy chính quyền riêng của
mình.
Sau một thời gian phục hồi, nữa cuối thế kỉ XVIII, chế độ phong kiến họ Trịnh
và họ Nguyễn lâm vào con đường khủng hoảng, suy vong. Quan lại ăn chơi sa đọa,
nhũng nhiễu, bóc lột nhân dân. Nội bộ triều đình diễn ra cảnh tranh giành quyền lực
18
19
Khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố vững chắc. Thời kỳ này, nhà Trần đã cho
hợp các lộ nhỏ lại, chia cả nước thành 12 lộ. Bộ máy nhà nước được tổ chức giống
Nhà Lý nhưng quy củ và chặt chẽ hơn, hoàn thiện hơn với cơ cấu các cơ quan chức
năng như Bộ, Các, Sảnh, Cục…, trong đó quý tộc họ Trần nắm những chức vụ quan
trọng nhất.
Đến năm 1466, bộ máy chính quyền ở triều đình gồm có đã gần như hoàn
chỉnh với 6 Bộ: Bộ Lễ, Bộ Lại, Bộ Công, Bộ Hộ, Bộ Binh và Bộ Hình. Bên cạnh 6
Bộ là sáu Khoa tương ứng, có nhiệm vụ kiểm soát hoạt động của 6 Bộ. Cũng trong
năm 1466, vua Lê Thánh Tông đã cho lập ra 6 Tự bao gồm: Địa Lý Tự, Thái
Thường Tự, Quang Lộc Tự, Thái Bộc Tự, Hồng Lô Tự, Thường Bảo Tự. Ngoài ra
còn có các cõ quan giúp việc khác nhý Hàn Lâm Viện, Ðông Các, Trung Thý Giám,
Bí Thý Giám, Hoàng Môn Ðĩnh. Bên cạnh ðó vua Lê Thánh Tông còn lập ra một số
cơ quan chuyên môn không lệ thuộc vào 6 Bộ và 6 Tự, bao gồm: Thông chính ty,
Quốc Tử giám, Quốc Sử viện.
Đến tháng 6 năm 1466, niên hiệu Quang Thuận thứ 7, vua Lê Thánh Tông đã
chia cả nước ra làm 12 đạo (12 thừa tuyên), bao gồm: Thanh Hóa, Nghệ An, Thanh
Hóa, Thiên Trường, Quốc Oai, Hưng Hóa, Nam Sách, Bắc Giang, An Bang, Tuyên
Quang, Thái Nguyên và Lạng Sơn. Và phủ Trung Đô (phủ Phụng Thiên).
Năm 1490, Lê Thánh Tông đã hoàn thành bản đồ Thừa Tuyên đạo (bản đồ
Hồng Đức), xác định trong cả nước có 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 20 hương, 36
phường, 6851 xã, 322 thôn, 637 trang, 40 sách, 40 động, 30 nguyên, 30 trưởng. Tập
bản đồ đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong công cuộc quản lý đất
nước của nhà nước phong kiến Đại Việt. Thể hiện sự phát triển vững mạnh của nhà
nước Đại Việt.
Thời kỳ đất nước bị chia cắt, bộ máy chính quyền ở Đàng Ngoài có nhiều
chuyển biến mạnh mẽ, nhất là trong bộ máy chính quyền nhà nước. Vua Lê chỉ còn
là hư danh, quyền lực trong nước thực sự nằm trong tay chính quyền của các chúa
Trần Thái Tôn cho soạn thảo bộ Quốc triều Hình luật. Năm 1341, vua Trần Dụ
Tông lại cho biên soạn Hình thư. Đến thời Lê sơ, luật pháp ngày càng hoàn chỉnh
nhờ tăng cường những điều luật mới. Dựa trên cơ sở tham khảo hệ thống pháp luật
thời Lý - Trần cùng những điều lệ đã ban hành trước đó, năm 1483, bộ Luật Hồng
Đức ra đời. Đây được xem là bộ luật hoàn chỉnh nhất, tiến bộ nhất của phong kiến
21
Đại Việt và cũng biểu hiện rõ nét nhất tính chất giai cấp và quyền lực của nhà nước
đối với nhân dân.
Về quân sự: Quân sự là một lĩnh vực quan trọng đối với mỗi triều đại phong
kiến, là công cụ để duy trì ổn định trong nước, bảo vệ đất nước khi giặc ngoại xâm.
Các triều đại phong kiến ở nước ta trong giai đoạn này chú trọng quan tâm và xây
dựng cho mình một lực lượng quân đội mạnh, để có thể bảo vệ biên cương, lãnh thổ
của đất nước. Quân đội còn là công cụ để nhà nước duy trì và bảo vệ quyền lợi của
mình, đàn áp lại những cuộc nổi loạn trong dân chúng. Trải qua các triều đại, lực
lượng quân đội của các triều đại ngày càng được tổ chức có quy mô, hoàn chỉnh
trong công tác huấn luyện và trang bị vũ khí.
Thời Lý, quân đội được chia làm 4 bộ phận, bao gồm: Thiên tử quân, quân các
Lộ, quân vương hầu và dân binh. Để xây dựng quân đội nhà Lý thực hiện chế độ
nhân đinh trong khắp cả nước, thực hiện chính sách “Ngụ binh ư nông”. Quân đội
gồm đủ cả bốn binh chủng: bộ binh, thủy binh, tượng binh và kị binh, trong đó bộ
binh và thủy binh có số lượng đông nhất.
Thời Nhà Trần, quân đội gồm hai bộ phận: cấm quân và quân các lộ. Cấm
quân là lực lượng vũ trang thường trực, có nhiệm vụ bảo vệ hoàng đế, bảo vệ kinh
thành và triều đình trung ương. Quân các lộ là lực lượng vũ trang ở địa phương, có
nhiệm vụ bảo vệ chính quyền và trật tự xã hội ở các địa phương. Ngoài cấm quân và
quân các lộ là lực lượng vũ trang của nhà nước, dưới thời Lý, Trần còn có lực lượng
vũ trang tư nhân, do các bậc Vương tước và Hầu tước tuyển chọn, huấn luyện và chỉ
huy. Ở các làng xã, nhân dân còn có lực lượng bán vũ trang do họ tổ chức, đó là các
tiến đánh tới cả kinh thành Thăng Long (trong các năm 1361, 1366, 1371, 1377,
1378, 1380, 1382, 1389). Bên cạnh đó là các cuộc xung đột với Ai Lao ở biên giới
phía Tây, Tây-Nam. Nhà Trần đã năm lần đem quân đánh vào Ai Lao
(1290,1291,1294, 1334 và 1335), đánh dẹp các cuộc chống đối của người Ai Lao.
Những cuộc dùng binh của chính quyền phong kiến Đại Việt đều nhằm mục đích
bảo vệ sự bình yên của đất nước, nhất là ở những vùng biên cương giáp với các
nước láng giềng.
Dưới thời Lê sơ nhà nước độc quyền tổ chức huấn luyện quân đội và huấn
luyện lực lượng vũ trang, độc quyền sản xuất và quản lý vũ khí. Đây chính là điểm
khác biệt so với các triều đại trước của Đại Việt. Thời vua Lê Thái Tổ, nhà nước đã
23
quy định rõ số ngạch cho từng đạo quân và lệnh cho các tướng lĩnh, quân sĩ trong 5
đạo. Vua chia số quân làm 5 phiên: một phiên tại ngũ, bốn phiên về nhà sản xuất
nông nghiệp theo chính sách “Động ư binh, tịnh ư nông”. Thời Lê Thánh Tông
(1460-1497), quân đội có lúc lên tới 16 vạn quân, nhưng không phải là số quân
thường trực, mà chỉ là quân sự được huy động cho nhiệm vụ nhất thời. Tất cả quân
đội thời Lê được chia cho 5 phủ cai quản, đó là Trung quân, Bắc quân, Đông quân,
Tây quân và Nam quân, mỗi phủ quản lí hoạt động của lực lượng vũ trang ở hai hay
ba đơn vị hành chính lớn.Lực lượng quân đội hùng mạnh là cơ sở để nhà nước trấn
áp lại các cuộc nổi loạn và nhất là bảo vệ bình yên ở vùng biên cương, đặc biệt là
vùng lãnh thổ biên giới phía nam.
Trong giai đoạn đầu quân đội thường xuyên được cả Đàng Trong và Đàng
Ngoài sử dụng vào mục đích tiến hành các cuộc chiến tranh, phân chia quyền lợi
giữa hai thế lực phong kiến đối lập: họ Trịnh ở Đàng Ngoài và họ Nguyễn ở Đàng
Trong. Những cuộc chiến tranh phong kiến liên miên đã khiến cho chính sách “ngụ
binh ư nông” trước kia không còn tác dụng.
Quân đội ở Đàng Ngoài được tổ chức thành hai bộ phận chính: quân túc vệ và
ngoại binh.
Đàng Ngoài, xây dựng được một chính quyền riêng, đồng thời tiến hành can thiệp,
giúp Chân Lạp chống lại âm mưu xâm chiếm của Xiêm. Từ đó tạo điều kiện mở
mang bờ cõi, bảo vệ vùng biên cương và lãnh thổ của đất nước.
Về kinh tế: Ngay sau khi đất nước thoát khỏi ách đô hộ của phong kiến
phương Bắc, các triều đại đã thực hiện nhiều chính sách nhằm khôi phục, phát triển
nền kinh tế, chăm lo đến đời sống của nhân dân. Thực hiện các chính sách khai
hoang, chăm lo đê điều… nhờ đó mà đời sống của nhân dân được cải thiện.
Nhà Lý đã thực hiện nhiều chính sách về ruộng đất như: đối với ruộng đất
công, nhà nước thực hiện các chính sách: chế độ thực phong-thực ấp, chế độ thác
đao điền, quốc khố, quan điền và tịch điền. Trong nông nghiệp nhà Lý thực hiện
chính sách “trọng nông và dĩ nông vi bản”, nhờ đó mà kinh tế nông nghiệp của
nước ta dưới thời Lý khá phát đạt, đời sống nhân dân ngày càng được ổn định. Nền
kinh tế công thương nghiệp cũng có nhiều chuyển biến tiến bộ, nhưng chưa phát
triển mạnh. Việc buôn bán với thương nhân nước ngoài còn hạn chế, chủ yếu buôn
bán với những thương nhân Trung Quốc ở dọc các vùng biên giới và một số bến
25
cảng nhỏ. Bên cạnh đó sự phát triển của kinh tế thủ công nghiệp cũng góp phần vào
việc cung cấp hàng hóa dùng cho việc trao đổi buôn bán.
Thời Trần, chế độ ruộng đất không có nhiều thay đổi so với thời Lý. Giai
đoạn này, các ruộng thực ấp xuất hiện ngày càng nhiều, chính sách khai hoang, lập
ấp được khuyến khích thực hiện.Các ngành nghề thủ công nghiệp có điều kiện phát
triển mạnh mẽ, xuất hiện nhiều làng nghề nổi tiếng, với các nghề như: làm gốm,
nghề dệt, đúc chuông, tạc tượng, làm đồ thủ công mĩ nghệ… Thuyền bè sử dụng
trong buôn bán ngày càng nhiều và được cải tiến.
Thời Lê sơ, trong nông nghiệp nhà nước thực hiện các chính sách như chính
sách quân điền, chính sách lộc điền, lập quốc khố và đồn điền, chính sách khuyến
nông, đê điều được xây dựng và tu bổ, kênh đào được khơi ngòi, nạo vét. Hàng năm
tất cả quân lính, thợ thủ công của nhà nước và phu dịch trong hoàng cung thay nhau