Nguyễn nhã quá trình xác lập chủ quyền tại hai quần đảo hoàng sa và trường sa (bản vni chỉnh sửa) - Pdf 35

i

PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam từ nhiều
thế kỷ nay. Quần đảo này có tầm quan trọng đặc biệt về mặt chiến lược
(nằm trên thủy đạo và đường bay quốc tế) cũng như có tiềm năng quan trọng
về kinh tế (dầu khí, các sản vật khác) và hiện đang bò xâm phạm bởi nhiều
nước như Trung Quốc (bao gồm Đài Loan), Philippines, MaLaysia,
Brunei khiến trở thành điểm nóng chính trò của khu vực.
Nghiên cứu đề tài này không những là do nhu cầu của giới nghiên cứu khoa
học mà còn đáp ứng được nhu cầu thực tiễn đối với quốc dân cũng như các nhà
lãnh đạo, nhất là cho cuộc đấu tranh chính trò và ngoại giao bảo vệ chủ quyền
của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngoài ra, bản thân người nghiên cứu vốn quan tâm đến vấn đề này từ hơn
25 năm nay, muốn có cơ hội để hệ thống hoá, tổng hợp tất cả các tài liệu và
tìm hiểu đầy đủ, thấu đáo việc xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa.
Công trình nghiên cứu nhằm mục đích :
1. Cung cấp tư liệu một cách tổng hợp, hệ thống và cặn kẽ về quá trình xác lập
chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Từ đó


ii

rút ra những luận điểm vững chắc minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
2 Cũng từø đó, giúp cho việc phản bác những luận điểm biện minh cho sự xâm
phạm của các nước ngoài đối với chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa, hầu thấy được thực chất của tình trạng xâm phạm chủ
quyền để xây dựng các đối sách lâu dài bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên

quyền của nhà nước Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường
Sa. Trong đó có bộ chính sử Đại Nam Thực Lục Tiền Biên [96],
[195], Chính Biên [97], [98], [99] , [100], [101] ,{102],
[199], [200], [203], [204], [205], [206] cũng như Quốc Triều
Chính Biên Toát Yếu [104], [210] và bộ đòa chí như Đại Nam
Nhất Thống Chí [103], [209], Hoàng Việt Đòa Dư Chí [135],


iv

[194]. Đặc biệt Khâm Đònh Đại Nam Hội Điển Sự Lệ (Minh
Mạng) [93], [201], Châu Bản Triều Nguyễn (triều Minh Mạng
& Thiệu Trò) [5], [6], [7], [8], [9], [196], [197], [198] đã
đề cập đến việc dựng bia chủ quyền đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bằng
chứng hùng hồn Hoàng Sa được vua và triều đình Việt Nam quan tâm và
bảo vệ chủ quyền đối với Hoàng Sa ở bậc quyền lực tối cao (điều này khác
hẳn với Trung Quốc cũng như các nước khác không hề có chứng tích xác lập và
bảo vệ chủ quyền trong suốt các triều đại phong kiến).
Ngoài nhà nước Việt Nam, các nhà nghiên cứu nước ta cũng đã quan tâm,
ghi chép các hoạt động của đội Hoàng Sa, Bắc Hải như Lê Q Đôn
trong Phủ Biên Tạp Lục, Phan Huy Chú trong Dư Đòa Chí (Lòch
Triều Hiến Chương Loại Chí), Nguyễn Thông trong sách Việt Sử
Cương Giám Khảo Lược (quyển 4, năm 1877)..., [207]
Cũng trong thời gian chưa có sự xâm phạm chủ quyền ở Hoàng Sa, nhiều
tác giả trong đó có cả người Trung Quốc và các nhà nghiên cứu Phương
Tây cũng đã đề cập đến Hoàng Sa hoặc đến việc xác lập chủ quyền đối với
Hoàng Sa của các nhà cầm quyền Việt Nam như Giám Mục Taberd
[185], [186] Gutzlaff [157], quan trọng là những người Pháp từng
hoạt động giúp Nguyễn nh tức Vua Gia Long như Dayot, Chaigneau


l’Indochine từ năm 1929 đến 1931 [146 -152] đưa ra những bằng chứng
chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, trách cứ chính quyền Pháp đã quá
lơ là trong việc xác nhận và bảo vệ chủ quyền ở đảo Hoàng Sa, đến nỗi đã
bò dự thẩm Barbet ra lệnh khám xét ban đêm để buộc nhà báo phải nộp cho toà
các hồ sơ liên quan đến Hoàng Sa. Chính vì vậy đã có tác động, chính
quyền Pháp, vào những năm sau đó đã tái xác nhận chủ quyền ở Hoàng Sa
(Paracel) và Trường Sa (Spratly) với những hành động cụ thể như
khảo sát, cắm cọc, thiết lập hải đăng, đài khí tượng và trại lính (vào những
năm đầu thập niên 30). Trong những năm này có nhiều công trình nghiên
cứu đòa lý Hoàng Sa.
Trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ hai và chiến tranh kháng chiến
chống Pháp, ít ai quan tâm nghiên cứu đến Hoàng Sa.
Sau năm 1954, theo hiệp đònh Genève, Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về
chính quyền Sàigòn kiểm soát. Năm 1956, khi quân đội viễn chinh Pháp
rút khỏi Việt Nam, Philippines lên tiếng đòi chủ quyền của mình ở quần
đảo Trường Sa. Năm 1956, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc
chiếm đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa và sau đó Đài Loan chiếm
đảo Itu Aba, vấn đề tranh chấp chủ quyền được đặt ra gay gắt, từ đó nhiều


vii

bài nghiên cứu đã được đăng báo. Nổi bật hơn cả là hai công trình nghiên cứu
về chủ quyền của Hoàng Sa tương đối có hệ thống và dầy công sưu tầm. Đó
là công trình ra đời vào năm 1971, L’affaire des ýles Paracels et Spratly
devant le droit International, 298 trang đánh máy, luận án tiến só đệ tam
cấp của ông Lê Thành Khê, tại Institut International d’Etudes et de
Recherches Diplomatiques [161]. Công trình này đi sâu về mặt công pháp
quốc tế, chủ yếu theo luật pháp quốc tế của thế giới tư bản chủ nghóa và những
án lệ của toà án quốc tế La Haye. Tác giả trên chưa có điều kiện đi sâu vào

đặc biệt sau cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc tháng 2 năm 1979.
Tháng 9 năm 1979, Bộ Ngoại Giao nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ
Nghóa Việt Nam công bố tài liệu “chủ quyền của Việt Nam đối với quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Tháng 1 năm 1982, Bộ Ngoại Giao
nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghóa Việt Nam lại công bố cuốn sách
trắng “quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, lãnh thổ Việt
Nam”. Tháng 4 năm 1988, Bộ Ngoại Giao nước Cộng hoà Xã Hội


ix

Chủ Nghóa Việt Nam lại công bố tài liệu: “ Các quần đảo Hoàng Sa,
Trường Sa và luật pháp quốc tế”. Mẫn Khánh Dương Kỵ và Trần
Xuân Cầu viết bài “Từ Bãi Cát Vàng đến Hoàng Sa và Trường Sa,
lãnh thổ Việt Nam” trong Sử Học số 2 (nhà xuất bản Đại Hc và
Trung Học Chuyên Nghiệp) [79] đã đưa ra một vài thông tin mới, cách
tiếp cận mới qua thực đòa tại cù lao Ré.
Cuốn “Hoàng Sa, quần đảo Việt Nam” 90 trang của Văn Trọng
[134] là đúc kết cô đọng và chú trọng về phần tranh chấp chủ quyền với
Trung Quốc thêm một số hình ảnh, như bia chủ quyền của Việt Nam trên
quần đảo Hoàng Sa chụp năm 1938, trên quần đảo Trường Sa chụp năm
1961.
Gần đây có một số đề tài nghiên cứu khoa học cấp quốc gia về Hoàng Sa,
Trường Sa đang được tiến hành. Trong đó có đề tài như "Hợp Đồng
Nghiên Cứu Khoa Học Về Lòch Sử Chủ Quyền của Việt Nam ở hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa", mã số BĐHĐ 01 - 01 do
PTS Nguyễn Quang Ngọc (ĐHTH Hà Nội) chủ trì đã báo cáo
tổng kết ngày 30/4/1995 và Hội Thảo Quốc Gia “Luận cứ Khoa
Học Lòch Sử, Đòa Lý và Pháp Lý chủ quyền Việt Nam trên hai quần


Ré do PTS Nguyễn Quang Ngọc, PTS Vũ Văn Quân thực hiện đã
phát hiện các nguồn tư liệu ở dòng họ, làng xã có liên quan đến hoạt động của
các đội Hoàng Sa qua các thời kỳ Chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn dưới
triều Nguyễn.
Trong Hội Thảo Quốc gia 18/1/1996 trên, gồm 15 bản báo cáo đóng
góp đáng kể về việc nghiên cứu lòch sử tranh chấp Hoàng Sa với Trung
Quốc cũng như tư liệu về phía Trung Quốc, từ tìm hiểu hệ thống bản đồ của
Trung Quốc của Nguyễn Quang Ngọc để chứng minh cho đến 1909 bản
đồ Trung Quốc chưa bao giờ vẽ đến Hoàng Sa đến quan điểm của Trung
Quốc về Hoàng Sa - Trường Sa của Hoàng Ngọc Bảo, quan điểm của
Đài Loan về Hoàng Sa - Trường Sa của Nguyễn Huy Quy hay tìm
hiểu về bộ sưu tập tư liệu Hoàng Sa của Hàn Chấn Hoa (Trung
Quốc) chủ biên do Phạm Kim Hùng phụ trách. Ngoài ra vấn đề pháp
luật quốc tế về thủ đắc lãnh thổ của Nguyễn Đăng Dũng hoặc án lệ đảo


xii

Clipperton của Đinh Ngọc Linh hoặc xây dựng hệ quản trò tư liệu Hoàng
Sa - Trường Sa bằng máy tính của Nguyễn Quốc Toản.
Một số công trình khác cũng được công bố như vấn đề Hoàng Sa - Trường
Sa trong quan hệ Việt Trung trong cuốn "Sự Thật về những lần xuất
quân của Trung Quốc và quan hệ Việt Trung" do nhà xuất bản Đà Nẵng
in năm 1996 hay có tác giả tổng hợp lại những tài liệu đã công bố in thành
sách như ông Nguyễn Q. Thắng. Một số luận án phó tiến só, tiến só có liên
quan đến Hoàng Sa và Trường Sa hay Biển Đông như luận án cuả
PTS Trần Công Trục ở Việt Nam, của TS Nguyễn Hồng Thao
ở Pháp (1996), của PTS Đỗ Hòa Bình ở Liên Xô cũng đã được bảo
vệ, song chủ yếu về vấn đề pháp lý của Hoàng Sa và Trường Sa hay
Biển Đông .

trình bày những luận điểm, luận cứ, luận chứng về chủ quyền của Việt Nam
trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa .


xiv

Trọng tâm nghiên cứu của đề tài là quá trình xác lập chủ quyền Việt Nam
về mặt lòch sử trong thời kỳ chưa có xâm phạm của các nước ngoài và khi đề
cập đến sự xâm phạm của các nước ngoài trong bối cảnh sự xâm phạm chủ
quyền Việt Nam của Trung Quốc là chủ yếu và đưa ra những luận điểm
phản bác đối với những biện minh xâm phạm chủ quyền Việt Nam của
Trung Quốc vì chỉ có nước này mới thực sự quan tâm đến các luận điểm về
lòch sử. Từ đó đưa ra những đối sách lâu dài về việc bảo vệ chủ quyền của
Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
4. PHNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ
CÁC NGUỒN TÀI LIỆU SỬ DỤNG
Phương pháp chủ yếu được sử dụng là phương pháp nghiên cứu lòch sử theo
quan điểm duy vật lòch sử. Người nghiê n cứu vận dụng phương pháp luận lòch
sử và phương pháp nghiên cứu lòch sử cụ thể cùng phương pháp lôgích.
Công tác sưu tầm sử liệu được đặt lên hàng đầu, làm thế nào sưu tầm đầy đủ,
phát hiện những tư liệu mới, tiếp cận đến các tài liệu gốc, tài liệu bậc một. Tác
giả trước hết dựa vào các sách về thư tòch, những tài liệu tham khảo của các
công trình nghiên cứu đã có trước, các tổng mục sách báo, sách dẫn. Tác giả
còn đọc trực tiếp từng trang những tài liệu có khả năng đề cập đến Hoàng
Sa vàTrường Sa.


xv

Về các nguồn tài liệu được sử dụng, luận án quan tâm đến các nguồn tư liệu

- Phần kết quả nghiên cứu gồm 3 chương.
- Phần kết luận.
sau cùng là danh mục công trình của tác giả, tài liệu tham khảo, chú thích,
hình ảnh và phụ lục (xem mục lục).
6. SỰ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN Á N .
Luận án là công trình tổng hợp, có hệ thống, có tính đúc kết một cách mới mẻ
những công trình nghiên cứu, những tư liệu đã được phát hiện từ trước đến nay,
vừa đầy đủ nhất , với một số tư liệu mới và những luận cứ, luận chứng xác
đáng góp phần đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và
Trường Sa.


xvii

Với những kinh nghiệm tập hợp trên qui mô lớn những tư liệu trong và ngoài
nước hồi biên tập Tập San Sử Đòa số 29, đặc khảo về Hoàng Sa và
Trường Sa, người nghiên cứu đã nỗ lực, có những khám phá mới về mặt tư
liệu chưa có ai đề cập tới như tài liệu của chính người Trung Quốc , Thích
Đại Sán trong Hải Ngoại Ký Sự [116] đã cho biết Chúa Nguyễn
sai thuyền khai thác các sản vật từ các tàu bò đắm ở Vạn Lý Trường Sa tức
Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam hoặc phát hiện thêm đoạn văn
thứ 2 rất dài viết về việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo
Hoàng Sa ở thời Vua Minh Mạng trong cuốn sách rất quan trọng có tính
cách luật lệ của triều Nguyễn. Đó là Khâm Đònh Đại Nam Hội
Điển Sựï Lệ, cùng tài liệu vẽ sơ đồ các thuyền buồm đóng theo truyền thống
ở Cù Lao Ré được sử dụng đi biển, trong đóù có Hoàng Sa, Trường Sa
còn lưu giữ trong dân gian tại thôn Đông, xã Lý Hải, Huyện Đảo Lý
Sơn tức Cù Lao Ré khi xưa, do ông Nguyễn Hạp vẽ [38].
Luận án cũng đã trình bày việc Việt Nam quản hạt từ đầu thế kỷ
XVII quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Quảng Ngãi khi

Tác giả còn phân tích về giá trò pháp lý của sự xác lập chủ quyền của Việt
Nam tại quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa. Tác giả đưa ra luận
điểm, luận cứ và luận chứng về sự chiếm hữu thật sự, hoà bình

và thực thi

chủ quyền một cách liên tục, tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tác
giả phản bác lại những luận điểm sai trái biện minh cho sự xâm phạm của nước
ngoài như của Trung Quốc về sự phát hiện sớm nhất, kinh doanh sớm nhất,
quản hạt sớm nhất hoặc luận điểm vô chủ và đòa lý kế cận của các nước khác ở
Đông Nam Á. Tác giả cũng gián tiếp phản bác lại những phản bác của
Trung Quốc về tư liệu Việt Nam hay các luận điểm của chính quyền Việt
Nam.

CHƯƠNG 1

VỊ TRÍ, ĐỊA LÝ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ
NHIÊN CỦA QUẦN ĐẢO HOÀNG SA &
TRƯỜNG SA .
1.1 .TÊN GỌI VÀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ CỦA
QUẦN ĐẢO HOÀNG SA & TRƯỜNG
SA.


xx

Trước đây trong một thời gian dài, người Việt và người Phương Tây đều
tưởng ở giữa Biển Đông chỉ có một quần đảo dài, đều gọi một tên chung, rất
nhất quán. Người Việt gọi là Bãi Cát Vàng (
hay Cồn Vàng hoặc Hoàng Sa (

rõ ràng và chính xác vò trí của quần đảo Paracel như hiện nay, người
Phương Tây mới bắt đầu phân biệt quần đảo Paracel ở phiá Bắc với quần
đảo ở phía Nam mà sau này đến thập niên 40 trong thế kỷ XX người
Pháp mới gọi là Spratly(1.1) chỉ chung cho quần đảo Trường Sa .
Còn đối với người Việt, từ đầu thế kỷ XVIII đã kiểm soát vùng Biển
Đông tới tận Hà Tiên, như Lê Quý Đôn trong Phủ Biên Tạp Lục
đã cho biết Đội Bắc Hải trực thuộc Đội Hoàng Sa đã phụ trách riêng
các đảo phía Nam của Bắc Hải và tới tận Côn Lôn, Hà Tiên. Tuy
sang thế kỷ XIX, đã thấy đòa danh Vạn Lý Trường Sa ở phía Nam
ghi cùng với Hoàng Sa ở phía Bắc trong Đại Nam Nhất Thống Toàn
Đồ, song vẫn chưa phân biệt thật rõ rệt mà vẫn chỉ chung một quần thể.
Ngay thời Ngô Đình Diệm năm 1956 cũng thể hiện khái niệm “hai quần
đảo là một” khi trong văn bản ghi Hoàng Sa chỉ cả hai quần đảo Paracel
và Spratley.


xxii

Một điều hết sức đặc biệt là có sự nhất quán hết sức rõ ràng giữa danh xưng
quần đảo tên Việt và tên Phương Tây, khi Giám Mục Taberd ghi rất rõ
ràng ở bản đồ An Nam Đại Quốc Họa Đồ với hàng chữ: Paracel seu
Cát Vàng . (Tiếng Latinh seu = hoặc là). Cũng chính Giám mục
Taberd đã viết Paracels được người Việt gọi là Cát Vàng trong cuốn
Univers, Histoire et Description de Tous Les Peuples, de Leurs Religions,
Moeurs et Coutumes (1833). Điều này không hề có ở Trung Quốc cũng
như bất cứ nước nào khác. Chỉ ở Việt Nam mới chắc chắn Cát Vàng hay
Hoàng Sa chính là Paracel do Phương Tây đặt tên.Chính điều này là
bằng chứng rất rõ ràng người Phương Tây ít ra từ đầu thế kỷ XIX đã
xác nhận Paracel chính là Cát ( Kát) Vàng tức Hoàng Sa của Việt
Nam.

thành nền văn hóa hàng hải của dân Việt nói riêng và của dân Đông Nam


xxiv

Á nói chung, có những sắc thái hoàn toàn khác với văn hoá lục đòa Trung
Hoa. Một số lý thuyết được tóm tắt như sau:
Chrester Norman cho rằng nền Văn Minh Hòa Bình được tạo dựng
trong thời gian lục đòa Sunda bò ngập nước. Khi đó Vònh Bắc Bộ và
Vònh Thái Lan lúc trước là hai vùng đồng bằng trũng. Lý thuyết Norman
cho rằng một số dân Đông Nam Á khởi sự trước hết bằng cuộc sống ở duyên
hải, sau này hội nhập với dân cư vùng cao nguyên, nhưng rồi lại trở về vùng
đồng bằng gần biển, sau nữa phát triển về hàng hải (“The Hoabinhian and
After: Subsistence Patterns in Southeast Asia during the Late Pleistocene
and Early Periods”,World Archaecology 2, No.3, 1971, pp 300-320).
[107]
Wilheim G.Solheim cho rằng 6000 năm trước, dân Đông Nam Á
đã mạo hiểm ra khơi. Gió bão và hải lưu của Biển Đông và Thái Bình
Dương đã cuốn trôi một số người tới Nhật Bản, trong khi các nhóm khác bò
quét sang Philippines, Indonesia, Malaysia. Tiếp theo, những toán dân
chúng di chuyển tới các đảo ở ngoài khơi Thái Bình Dương và sang
Madagascar.
Cũng theo Solheim, Biển Đông thời cổ còn là nơi phát sinh những đường
hàng hải giao tiếp với các nơi ở dọc biển Á Châu, Âu Châu, Phi Châu và


xxv

cả Mỹ Châu nữa. Solheim lý luận rằng chỉ có sự kiện Đông Nam Á giữ
vai trò trung tâm phân tán như trục một cái bánh xe tỏa nan hoa ra khắp nơi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status