Chủ quyền của việt nam đối với hai quần đảo hoàng sa và trường sa luận văn ths luật - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ QUANG THÀNH

CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM
ĐỐI VỚI HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA
Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số: 50512

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2005


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ QUANG THÀNH
CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI
HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA

Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số: 50512

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Đỗ Hoà Bình,
Vụ Luật pháp và Điều ước quốc tế - Bộ Ngoại Giao

HÀ NỘI - 2005

8

1.2.2.

Vị trí địa lý.

1.3.
1.3.1.
1.3.2.

Tầm quan trọng của hai quần đảo.
Về kinh tế.
Về an ninh quốc phòng.

1.4.
1.4.1.

Tình hình tranh chấp hiện nay.
Quần đảo Hoàng Sa.

14

1.4.2.

Quần đảo Trường Sa.

15
16

CHƯƠNG 2: LUẬT PHÁP VÀ THỰC TIỄN QUỐC TẾ VỀ XÁC

17
18

2.2.2.
2.2.2.1.
2.2.2.2.

Các phương thức xác lập chủ quyền lãnh thổ.
Xác lập chủ quyền lãnh thổ do tác động của thiên nhiên.
Xác lập chủ quyền lãnh thổ do chuyển nhượng.

22
23
23

2.2.2.3.
2.2.2.4.

Xác lập chủ quyền lãnh thổ bằng xâm chiếm.
Xác lập chủ quyền lãnh thổ theo thời hiệu.

24
24

2.2.2.5.

Xác lập chủ quyền lãnh thổ do chiếm hữu.

2.3.


38
40
41

CHƯƠNG 3: LỊCH SỬ XÁC LẬP VÀ THỰC HIỆN CHỦ QUYỀN
CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI HAI QUẦN ĐẢO

43

3.1.

Giai đoạn từ thế kỷ XVII đến khi Pháp xâm lược Việt Nam.

43

3.2.
3.3.
3.4.

Giai đoạn Pháp đô hộ Việt Nam.
Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954.
Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975.

50
52
54

3.5.

Giai đoạn từ năm 1975 đến nay.

75
79
80

CHƯƠNG 5: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CHO
TRANH CHẤP ĐỐI VỚI HAI QUẦN ĐẢO

83

5.1.
5.2.
5.2.1.

Nguyên tắc giải quyết tranh chấp.
Phương hướng giải quyết tranh chấp.
Đàm phán hoà bình.

83
85

5.2.2.
5.2.3.

Về một số phương án đã được đề xuất.
Cơ chế Toà án quốc tế.

5.3.

Một số kiến nghị.


nhiều mặt có thể đạt được từ việc làm chủ được hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa, bất kỳ quốc gia nào ven bờ Biển Đông đều mong muốn thiết lập
được chủ quyền của mình trên hai quần đảo này.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, trong vùng Biển Đông đã và đang
tồn tại những tranh chấp về chủ quyền rất phức tạp và kéo dài. Tình hình
tranh chấp này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh, quốc phòng, sự
phát triển của Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến cả hoà bình, ổn định và phát
triển của toàn bộ khu vực.
Hơn bao giờ hết, vấn đề tranh chấp về chủ quyền đối với hai quần đảo,
đang là vấn đề "nóng, nhạy cảm" đối với Việt Nam và khu vực. Yêu cầu
chứng minh và khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo

1


Hoàng Sa và Trường Sa là phù hợp với thực tế lịch sử và luật pháp quốc tế đã
và đang được đặt ra hết sức cấp thiết. Chứng minh và khẳng định Việt Nam
đã xác lập và thực hiện chủ quyền như thế nào để vừa đảm bảo toàn vẹn lãnh
thổ quốc gia, đảm bảo an ninh, quốc phòng, kinh tế lại vừa đảm bảo được yêu
cầu hợp tác, hội nhập quốc tế, không để xảy ra hoặc làm xuất hiện những
nguy cơ xảy ra tranh chấp về lợi ích với các quốc gia hữu quan, thậm chí là
những nguy cơ gây xung đột vũ trang. Câu hỏi này thật sự không bao giờ là
dễ giải đáp, đòi hỏi phải có các giải pháp thích hợp và đặc biệt phải phù hợp
với thực tế lịch sử cũng như luật pháp và thực tiễn quốc tế.
Mặc dù vấn đề này đã được Việt Nam và các quốc gia hữu quan, quan
tâm giải quyết song do quan điểm, lập trường của các bên còn khác nhau quá
xa cho nên việc đưa ra được những phương hướng, giải pháp thích hợp và
được các bên hữu quan cùng chấp thuận luôn gặp rất nhiều khó khăn. Tranh
chấp chủ quyền đối với hai quần đảo tiếp tục tồn tại và nguy cơ xung đột tiềm
tàng xuất phát từ những tranh chấp này có thể gây những ảnh hưởng xấu đến

chứng minh quá trình xác lập và thực hiện chủ quyền của Việt Nam trên hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là phù hợp với thực tế lịch sử cũng như luật
pháp quốc tế.
- Phân tích và phê phán yêu sách và lập luận sai trái của các bên (Trung
Quốc, Philippine, Malaysia, Brunei và Đài Loan) tranh chấp chủ quyền đối
với hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam.
- Đề xuất các phương hướng và các giải pháp cho tranh chấp song
phương đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như những tranh chấp đa phương
đối với quần đảo Trường Sa.
4. Cơ sở lý luận và Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài:
- Cơ sở lý luận của đề tài là quan điểm, lập trường chính thức của Nhà
nước Việt Nam về chủ quyền lãnh thổ đối với hai quần đảo Hoàng Sa –
Trường Sa. Dựa trên cơ sở lý luận, các căn cứ pháp lý về xác lập chủ quyền
lãnh thổ trong những quy định của luật pháp và thực tiễn quốc tế.

3


- Phương pháp nghiên cứu của đề tài là phương pháp duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin, đặt cái chung trong cái
riêng để nghiên cứu, trên cơ sở so sánh, đánh giá tìm ra những hạt nhân tiến
bộ, những ưu điểm để áp dụng trong hệ thống lý luận nhằm chứng minh chủ
quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo. Ngoài ra, Luận
văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: phân tích, thống kê,
so sánh...
5. Những đóng góp của Luận văn:
- Góp phần củng cố lập trường pháp lý của Việt Nam khi tiến hành đấu
tranh đối ngoại trên trường quốc tế bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
- Đề xuất một số suy nghĩ, ý tưởng trong quá trình tìm kiếm giải pháp

nay. Từ đó, người phương Tây mới bắt đầu phân biệt quần đảo Paracel ở
phía Bắc với quần đảo ở phía Nam mà sau này đến thập niên 40 của thế kỷ
XX người Pháp mới đặt tên là Spratly để chỉ chung cho quần đảo Trường Sa.
Trung Quốc, một bên tham gia tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa đặt tên cho hai quần đảo này là “Tây Sa” và “Nam Sa”.
Một điều hết sức đặc biệt là có sự nhất quán hết sức rõ ràng giữa danh
xưng quần đảo tên Việt và tên phương Tây. Giám mục Tabert đã từng ghi chú
trên bản đồ “An Nam Đại Quốc Hoạ Đồ” với hàng chữ Paracel seu Cat Vang.
(seu: tiếng Latinh có nghĩa: hoặc là) [20,tr.2]. Ở Trung Quốc hay bất kỳ nước
nào khác đều không hề có các khái niệm này. Chỉ có ở Việt Nam mới chắc
chắn có tên gọi Cát Vàng hay Hoàng Sa để chỉ Paracel do người phương Tây
đặt tên. Điều này là một bằng chứng xác thực chỉ ra rằng ít nhất từ đầu thế kỷ
XIX, người phương Tây đã xác nhận Paracel là Cát Vàng, tức quần đảo
Hoàng Sa của Việt Nam. Một điểm khác biệt nữa cần phải nhấn mạnh là tên
gọi Hoàng Sa được người Việt đặt tên với mục đích xác lập chủ quyền, còn
người phương Tây và cả người Trung Quốc đặt tên xuất phát từ nhu cầu hàng

5


hải. Tên gọi Hoàng Sa do người Việt đặt còn đồng thời dùng để chỉ tên một tổ
chức do Nhà nước phong kiến Việt Nam thành lập nhằm khai thác và kiểm
soát, làm chủ các hải đảo mang tên Hoàng Sa hay Cát Vàng. Như vậy, đây
cũng có thể coi là một bằng chứng xác thực chứng minh việc xác lập chủ
quyền của người Việt trên các quần đảo này [20,tr.2].
1.1. Quần đảo Hoàng Sa.
1.1.1. Tên gọi và các bộ phận cấu thành.
Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam hay còn gọi là Tây Sa (theo cách gọi
của người Trung Quốc) hoặc Paracels theo cách gọi của người phương Tây.
Quần đảo Hoàng Sa nằm trong một phạm vi rộng khoảng 15.000km2 bao gồm

+ Đảo Quang Hoà là đảo lớn nhất trong nhóm đảo Lưỡi Liềm. Chung
quanh đảo là bãi cát màu vàng, vành san hô bao quanh đảo lan ra rất xa khỏi
bìa đảo. Cạnh đảo có những hòn đảo nhỏ, nối với nhau bằng những bãi cát
vàng trải dài. Nhiều tài liệu địa lý ghi lại và chia đảo Quang Hoà thành hai
đảo là Quang Hoà Đông và Quang Hoà Tây. Tổng diện tích của đảo khoảng
57 ha.
+ Đảo Quang Ảnh là nơi nhô lên cao nhất so với mực nước biển trong
nhóm đảo Lưỡi Liềm. Đảo mang tên một vị đội trưởng đội Hoàng Sa là Trần
Quang Ảnh, được vua Gia Long sai ra đảo để đo đạc thuỷ trình vào năm
1815. Đảo có hình bầu dục, hơi tròn, có diện tích khoảng 3ha [20,tr.10].
+ Trong nhóm đảo Lưỡi Liềm ngoài năm đảo chính nêu trên còn có
một số đảo nhỏ khác đó là: đảo Ba Ba; đảo Lưỡi Liềm; đá Hải Sâm; đảo Đá
Lồi.
B: Nhóm An Vĩnh (Amphitrite Group).
Nhóm đảo An Vĩnh bao gồm các đảo tương đối lớn, cao trên mặt nước
biển nhất của quần đảo Hoàng Sa và cũng là các đảo san hô lớn nhất ở Biển
Đông.
+ Đảo Phú Lâm là đảo lớn nhất trong nhóm đảo An Vĩnh, bề dài
khoảng 3.700m và ngang khoảng 2.800m. Trên đảo nhiều cây cối nên gọi là
Phú Lâm. Đảo có cầu tàu lớn, sân bay, đài kiểm báo, và nhiều phương tiện
quân sự khác. Ngoài đảo lớn nhất là Phú Lâm, nhóm An Vĩnh còn có nhiều
các đảo, bãi khác như: Đảo Bắc (North Island); Đảo Nam (South Island); Đảo
giữa (Midle Island); Đảo đá (Rocky Island); Cồn Cát Tây (West Sand) [20,
tr.10].

+ Cụm đảo Linh Côn.
Cụm đảo Linh Côn nằm về phía cực Đông của quần đảo Hoàng Sa, các
đảo thuộc nhóm này chỉ là những mỏm san hô, nhấp nhô trên mặt nước biển.

7

sự thuộc Bộ Tổng Tham Mưu nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
quần đảo Trường Sa có thể chia làm 8 cụm đảo chính theo chiều từ Bắc
xuống Nam như sau:
Cụm 1: Cụm đảo Song Tử.

8


Bao gồm 2 đảo, hai bãi nổi, hai đá. Thông thường chúng ta vẫn biết đến
hai đảo chính của cụm này với tên gọi là đảo Song Tử Đông và đảo Song Tử
Tây. Hai đảo này như sinh đôi, nằm ở cực Bắc của quần đảo Trường Sa. Trên
đảo có cây cối, với độ cao trung bình, có nhiều phân chim (nguyên liệu làm
phân bón). Đảo Song Tử Đông hình dạng hơi tròn, có diện tích khoảng
0,225km2 . Năm 1963, Việt Nam Cộng Hoà có dựng tại đây một tấm bia chủ
quyền. Năm 1968, Philippine đã cho quân chiếm đóng đảo này một cách trái
phép. Đảo Song Tử Tây hiện do Việt Nam giữ, có hình dạng lưỡi liềm, diện
tích khoảng 0,21km2 , trên đảo có nước ngọt, hiện vẫn còn một trạm rađa từ
thời Việt Nam Cộng Hoà dựng ở đây. Cụm đảo Song Tử này còn có Đá Bắc
và Đá Nam và hai bãi cạn đó là bãi Đinh Ba và bãi Núi Cầu.
Cụm 2: Cụm đảo Thị Tứ.
Nằm ở phía Nam đảo Song Tử, cụm đảo này gồm có đảo Thị Tứ và
một số bãi đá khác. Đảo Thị Tứ nằm ở phía Đông Bắc của quần đảo Trường
Sa, do san hô tạo thành lẫn với cát trắng và đá vôi. Đảo hình bầu dục, bề
ngang 550m, dài 700m, diện tích khoảng 0,382 km2, có giếng nước ngọt. Trên
đảo có cây mù u, cây bàng, nhiều cây leo chằng chịt. Chung quanh đảo có rất
nhiều rong biển và các bãi đá ngầm. Quanh đảo có nhiều cá, đồn đột, rong
biển [20, tr.14].
- Phía Bắc đảo Thị Tứ gồm đá Hoài An, đá Tri Lễ, đá Trâm Đức, đá Vĩnh
Hảo, đá Cái Vung .
- Phía Nam đảo Thị Tứ là đá Xu Bi, cách đảo Thị Tứ chừng 14 hải lý (đã bị

Nằm ở phía Nam của cụm đảo Nam Yết, cụm đảo Sinh Tồn bao gồm
các vị trí sau đây: Đảo Sinh Tồn, đá Sinh Tồn Đông, đá Nhạn Gia, đá Bình
Khê, đá Ken Nan, đá Tư Nghĩa, đá Bình Sơn, đá Bãi Khung, đá An Bình...
Cụm 6: Cụm đảo Trường Sa.
Nằm ở phía Nam và Tây Nam cụm đảo Sinh Tồn, trải dài theo chiều
ngang. Là một quần thể bao gồm nhiều bãi, đảo và các thực thể khác, cụm
đảo Trường Sa nằm ở phía Đông, kế cận các bãi, đá thuộc thềm lục địa Việt
Nam như bãi Phúc Tần, Huyền Trân, Tư Chính..... Đảo Trường Sa là đảo lớn
nhất, có dạng hình tam giác cân mà cạnh đáy hơi lệch về phía Bắc. Cạnh đáy
của tam giác cân đó dài khoảng 350m, mỗi cạnh bên dài 450m, cao độ ở phía
Bắc là 3,5m phía Nam là 2,1m so với mặt nước biển lúc nước lớn. Ngoài các
đảo, đá, bãi kể trên còn có đảo Trường Sa Đông, đảo Phan Vinh [20,tr.19].
Cụm 7: Cụm đảo An Bang.
Nằm ở phía Nam cụm đảo Trường Sa, đảo An Bang có hình dạng giống
như hình cái túi, đáy nằm ở phía Đông còn miệng thì thắt lại ở phía Tây. Đảo

10


tương đối dài và nhỏ, dài đến hơn 200m nhưng rộng chỉ khoảng 20m và cao
hơn so với mặt nước biển là khoảng 2m.
Cụm 8: Cụm đảo Bình Nguyên.
Cụm đảo này nằm ở hướng Đông bao gồm có hai đảo là đảo Bình
Nguyên và đảo Vĩnh Viễn. Xung quanh hai đảo này còn có một số đá, bãi và
một số vị trí khác.
1.2.2. Vị trí địa lý.
Quần đảo Trường Sa trải dài từ vĩ độ 602B tới 110 28B, từ kinh độ 1120
Đ đến 1150 Đ. Cách Vũng Tàu 270 hải lý, cách đảo Phú Quốc 240 hải lý, cách
Cam Ranh (Khánh Hoà) 250 hải lý. Các đảo, vị trí thường xuyên nổi trên mặt
nước có diện tích khoảng 11km2 [20,tr.12].

các nhà khoa học Việt Nam đã xác định được 18 họ hải sản với 32 giống và
37 loài. Bằng ngư cụ là câu văng, đã xác định được 9 họ hải sản, 13 giống và
14 loài cá trong đó có các loài cá có giá trị kinh tế cao như: Cá ngừ mắt to, cá
thu ngàng...Theo các tài liệu nghiên cứu của phái đoàn Naga thuộc Viện Đại
Học California (Mỹ), vùng biển quanh quần đảo Trường Sa là nơi tập trung
nhiều loài cá với mật độ rất cao [Theo 34].
Cùng với tài nguyên hải sản, vùng biển quanh hai quần đảo là nơi có
trữ lượng san hô cực lớn, có thể dùng để sản xuất ra các sản phẩm mỹ nghệ
xuất khẩu mang lại lợi ích kinh tế cao.
Trên các nhóm đảo ở xa đường xích đạo, có nhiều cây cối rậm rạp. Các
đảo và các vị trí khác trong hai quần đảo là nơi cư trú lý tưởng cho các loài
chim biển về làm tổ, sống và sinh sản, cũng là địa điểm rất lý tưởng cho các
loài rùa biển làm tổ, đẻ trứng. Phân chim từ lâu đời, tích tụ lại hoà trộn với
san hô phong hoá, tạo nên một loại phốt phát vôi mà qua khảo sát đã xác định
được đó là loại phốt phát có chất lượng cao tương đương với loại phốtphát vôi
xuất hiện ở Pêru vì trong đó có chứa nhiều chất đồng hoá, cây trồng rất dễ hấp
thụ [Theo 35].
Như vậy, có thể thấy tầm quan trọng về kinh tế trong khu vực xung
quanh hai quần đảo là rất lớn song hầu hết các nhà quan sát, nghiên cứu quốc
tế đều nhận xét rằng “những lực đẩy chính hướng về biển Biển Đông là vị trí
chiến lược hết sức quan trọng của hai quần đảo này” [Theo 35].
1.3.2. Về an ninh quốc phòng.
Không có một vùng biển nào trên thế giới lại có tầm quan trọng như
Biển Đông.
Nằm ở trung tâm Biển Đông, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là
một trong những khu vực có nhiều tuyến đường biển nhất trên thế giới. Trên
các tuyến đường biển của Châu Á có hai điểm trọng yếu: Thứ nhất là eo biển

12


Trong thời đại khoa học kỹ thuật quân sự phát triển như hiện nay, nếu
một quốc gia khác chiếm hữu được hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì
có thể kiểm soát được toàn bộ bờ biển Việt Nam. Đó sẽ là “một trong những
mối đe doạ nghiêm trọng nhất đối với việc phòng thủ và toàn vẹn lãnh thổ”

13


của Việt Nam [18,tr.6]. Việc chiếm hữu được hai quần đảo không những kiểm
soát được toàn bộ tuyến đường ra vào Vịnh Bắc Bộ mà còn phong toả toàn bộ
tuyến giao thông đường bộ, đường sắt huyết mạch nối liền Nam - Bắc của
Việt Nam do các tuyến giao thông này đều nằm sát bờ biển. Mặt khác, từ hai
quần đảo này còn có thể làm bàn đạp cho không quân và hải quân tấn công vào
đất liền.
Mặc dù có vai trò to lớn về kinh tế và chiến lược như vậy nhưng chủ
quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này không hoàn toàn xuất phát từ vị
trí địa lý và tầm quan trọng của hai quần đảo. Chủ quyền của Việt Nam đối
với hai quần đảo dựa trên những bằng chứng lịch sử, pháp lý rõ ràng phù hợp
với luật pháp và thực tiễn quốc tế. Để làm rõ ràng hơn vấn đề này, chương 2
của luận văn sẽ phân tích kỹ càng hơn về vấn đề xác lập và thực hiện chủ
quyền lãnh thổ trong luật pháp và thực tiễn quốc tế.
1.4. Tình hình tranh chấp hiện nay.
1.4.1. Quần đảo Hoàng Sa.
Việt Nam xác lập và thực thi chủ quyền của mình đối với quần đảo
Hoàng Sa (bãi Cát Vàng) từ thế kỷ XVII. Cho đến cuối thế kỷ XIX, chủ
quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa không hề gặp bất kỳ một sự
phản đối từ bất kỳ quốc gia nào trong khu vực.
Đến tận đầu thế kỷ XX, trước hành động của Nhật chiếm đóng đảo
Đông Sa, Trung Quốc vội vã ra chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa của Việt
Nam mà họ gọi là “Tây Sa” (1909) và sau đó sáp nhập vào đảo Hải Nam

Việt Nam.
1.4.2. Quần đảo Trường Sa.
+ Cho đến năm 1933, cũng như quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường
Sa là phần lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam mà không có bất kỳ một sự
tranh chấp của bất kỳ quốc gia nào. Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện chủ
quyền quốc gia và quản lý hành chính trên 21 đảo và vị trí trong quần đảo
Trường Sa.
Tranh chấp về chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa là tranh chấp đa
phương giữa 5 nước, 6 bên liên quan.
+ Trung Quốc và Đài Loan đòi chủ quyền đối với khoảng 80% phần
diện tích Biển Đông trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo
đường hình chữ U (đường lưỡi bò) mà Trung Quốc đơn phương tuyên bố vào
năm 1947 và được vẽ lại trong Bản đồ Nam Hải Chư Đảo năm 1950. Từ năm
1988, Trung Quốc đã chiếm 9 bãi ngầm thuộc quần đảo Trường Sa. Đài Loan
đang chiếm đóng đảo Ba Bình (đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa). Đây

15


là hành vi trái với luật pháp và thực tiễn quốc tế, xâm phạm nghiêm trọng chủ
quyền lãnh thổ của Việt Nam.
+ Philippin đòi chủ quyền đối với tất cả các vị trí kể cả chìm và nổi
trong khu vực biển mà họ gọi là “Kalayan” (vùng đất tự do). Vùng biển này
bao gồm hầu hết khu vực quần đảo Trường Sa. Thomas Cloma một công dân
Philipine đã tuyên bố chiếm hữu vào năm 1950. Cho đến nay, Philipine chiếm
giữ 8 đảo và vị trí trong khu vực quần đảo Trường Sa.
+ Malaysia đòi thực hiện quyền quản lý đối với 5 vị trí trong khu vực
quần đảo Trường Sa.
+Brunei đòi hỏi vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý bao gồm đá
Luisa ở phía Nam quần đảo Trường Sa. Tuy nhiên, Brunei là quốc gia duy

gồm: Vùng nước nội địa, vùng nước biên giới, vùng nước lịch sử, nội thủy,
lãnh hải.
-Vùng lòng đất.
Là phần đất nằm dưới lòng đất và vùng nước thuộc chủ quyền hoàn
toàn, tuyệt đối của quốc gia. Luật pháp quốc tế mặc nhiên thừa nhận vùng
lòng đất của quốc gia được kéo dài đến tận tâm trái đất [30,tr.138].
-Vùng trời.
Là khoảng không gian nằm trên vùng đất và vùng nước của quốc gia.
Trong khoảng không gian này, quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt.
Như vậy, tổng thể hoàn chỉnh của lãnh thổ một quốc gia bao gồm:
Vùng đất, vùng nước, vùng trời và vùng lòng đất.
2.1.2. Chủ quyền lãnh thổ.
Mỗi quốc gia có chủ quyền hoàn toàn, riêng biệt và tuyệt đối đối với
lãnh thổ của mình. “Chủ quyền đó gọi là quyền tối cao của quốc gia đối với
lãnh thổ hay còn gọi là chủ quyền lãnh thổ” [30,tr.139].
Luật pháp quốc tế hiện đại ghi nhận quyền tối cao của quốc gia đối với
lãnh thổ trong mối quan hệ tổng thể lôgic biện chứng giữa những yếu tố tự
nhiên với những yếu tố có liên quan mật thiết khác như chế độ chính trị, kinh
tế, văn hoá, lịch sử.... của cộng đồng một quốc gia với cộng đồng quốc tế
[30,tr.139]. Với ý nghĩa là thộc tính không thể tách rời và vốn có của một quốc

gia, chủ quyền lãnh thổ được thể hiện trên hai phương diện cơ bản.

17


-Phương diện quyền lực.
Đây chính là sự tồn tại, sự khẳng định và sự phát triển của hệ thống các
cơ quan Nhà nước trong hoạt động nhằm thực hiện quyền lực bao trùm lên tất
cả các lĩnh vực của đời sống quốc gia. Quyền lực này mang tính hoàn toàn và

phải bất kỳ một sự xác lập chủ quyền lãnh thổ nào cũng đều phải tuân theo tất
cả các nguyên tắc của luật pháp quốc tế. Những nguyên tắc cơ bản của luật
pháp quốc tế sau có liên quan trực tiếp tới vấn đề “xác lập chủ quyền lãnh
thổ”
- Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia.
Chủ quyền là thuộc tính chính trị pháp lý không thể tách rời của quốc
gia bao gồm hai nội dung chủ yếu: Quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi
lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong các quan hệ đối ngoại.
- Nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực.
Nguyên tắc này được hình thành trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa
phát xít và đã được khẳng định trong Hiến chương của Liên hợp quốc. Thời
gian đầu nguyên tắc này thể hiện mong muốn của các dân tộc trong việc thiết
lập một trật tự quốc tế công bằng sau chiến tranh. Sau này, với sự phát triển
của các mối quan hệ quốc tế, việc sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực
trong các quan hệ quốc tế đã không còn là mối hiểm hoạ thường trực nữa và
nguyên tắc này chuyển sang một hình thái khác đó là vấn đề sử dụng vũ lực
và đe doạ sử dụng vũ lực trong các quan hệ phi vũ trang. Định ước Henxinki
năm 1975 quy định rằng các quốc gia tham gia sẽ “khước từ sử dụng mọi biện
pháp mang tính cưỡng bức đối với quốc gia, thành viên khác, khước từ tiến
hành hành vi cưỡng bức về kinh tế” [30,tr.35]. Như vậy, khái niệm vũ lực theo
luật quốc tế hiện đại, đã được mở rộng để biểu hiện sử dụng cả các sức mạnh
quân sự, kinh tế... hay đe doạ sử dụng các sức mạnh đó.
- Nguyên tắc giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế.
Sự hình thành và phát triển của nguyên tắc giải quyết hoà bình các
tranh chấp quốc tế gắn liền với nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử

19


dụng vũ lực [30,tr.38]. Nói cách khác, nguyên tắc này là hệ quả tất yếu của


nghĩa trước đây, để xác định một lãnh thổ thuộc quốc gia nào trước hết phải
xét đến ý chí, nguyện vọng của nhân dân sống trên lãnh thổ đó. “Sự phù hợp
giữa quyền tối cao về lãnh thổ với ý chí của nhân dân là cơ sở pháp lý cao
nhất trong việc xác lập chủ quyền lãnh thổ....... Trong mọi trường hợp, khi có
tranh chấp giữa các danh nghĩa pháp lý trước đây với quyền dân tộc tự quyết
thì hiệu lực pháp lý của quyền dân tộc tự quyết sẽ được công nhận. Để lập
luận, bảo vệ cho các quyền của mình về lãnh thổ, một quốc gia có thể dựa
trên một danh nghĩa pháp lý đã có từ lâu nhưng chỉ ở mức độ danh nghĩa đó
không trái với quyền dân tộc tự quyết. Đây là kết quả của việc công nhận
quyền dân tộc tự quyết là một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế”
[Theo 31,tr.11]. Như vậy, rõ ràng là học thuyết pháp lý quốc tế xã hội chủ

nghĩa cũ trong vấn đề xác lập chủ quyền lãnh thổ đã đặt nguyên tắc “dân tộc
tự quyết” lên trên hết. Song như vậy, không có nghĩa là học thuyết pháp lý
quốc tế xã hội chủ nghĩa cũ đã bác bỏ hoàn toàn các phương thức xác lập chủ
quyền lãnh thổ trong học thuyết và thực tiễn quốc tế. Trong khi luật pháp
quốc tế thực định không có những quy phạm pháp lý cụ thể để điều chỉnh vấn
đề xác lập chủ quyền lãnh thổ thì không thể không xem xét những phương
thức xác lập chủ quyền chủ quyền lãnh thổ trong học thuyết và thực tiễn luật
pháp quốc tế. Bởi theo điều 38 Quy chế Toà án quốc tế, học thuyết luật pháp
quốc tế và các tiền lệ được coi là nguồn bổ trợ của luật pháp quốc tế. Hơn
nữa, chủ quyền lãnh thổ là một phạm trù lịch sử, được hình thành và phát
triển qua nhiều giai đoạn. Các tranh chấp giữa các quốc gia về lãnh thổ đều
xuất phát từ thời xa xưa mà theo nguyên tắc luật đương đại, không thể bỏ qua
được. Đương nhiên, khi sử dụng những phương thức xác lập chủ quyền lãnh
thổ cần phải lấy nguyên tắc “dân tộc tự quyết” làm nền tảng. Liên quan đến
vấn đề này, Giáo sư người Nga, B.M Climenco viết: “Nguyên tắc dân tộc tự
quyết không loại trừ những phương thức xác lập chủ quyền lãnh thổ khác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status