Nghiên cứu khoa học Trách nhiệm xã hội của các nhà hàng thức ăn nhanh trên địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội - Pdf 35

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN................................................................................................................i
MỤC LỤC....................................................................................................................ii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU........................................................................................iv
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ.................................................................................v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT......................................................................................vi
MỞ ĐẦU......................................................................................................................1
KẾT LUẬN56
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................58
PHỤ LỤC...................................................................................................................vii


DANH MỤC BẢNG, BIỂU

STT

Số bảng,
biểu

Tên bảng, biểu

Trang

1

Bảng 1.1.

Mức độ quan tâm của các bên liên quan đến việc thực
hiện Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

12


Bảng 2.3.

Kết quả khảo sát về mức độ hài lòng của khách hàng
đối với các tiêu chí thực hiện trách nhiệm xã hội của
Nhà hàng Lotteria Trung Hòa

36


DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

STT

Số sơ đồ,
hình vẽ

Tên sơ đồ, hình vẽ

1

Hình 1.1.

Mô hình “kim tự tháp” CSR của Carroll

10

2

Hình 1.2.

26

6

Hình 2.4.

Nhân viên Bami Bread hào hứng đi phát bánh từ thiện
trong đêm

30

7

Hình 2.5.

Nhân viên Bami Bread đang phát bánh cho người vô
gia cư

30

8

Hình 2.6.

Cam kết của Lotteria về sử dụng nguyên liệu có xuất
xứ rõ ràng

34

9


Nghiên cứu khoa học

2

TNXH

Trách nhiệm xã hội

3

CSR (Corporate Social
Responsibility)

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

4

DN

Doanh nghiệp

5

NV

Nhân viên

6


Việt Nam đã xuất hiện hàng loạt thương hiệu và chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh lớn
như: KFC, Lotteria, BBQ, Burger King, Jollibee, McDonald’s, Carl’s Jr, Dunkin’
Donuts and Baskin -Robbins, Popeyes Louisiana Kitchen, Subway Restaurants và
Starbucks Corp… Mỗi một thương hiệu lại có từ vài cửa hàng cho tới hàng trăm cửa
hàng trên khắp cả nước. Trong đó, Lotteria (Hàn Quốc) được coi là "anh cả" với hơn
160 cửa hàng, theo sau là KFC (Mỹ) đã mở 140 cửa hàng và đứng thứ 3 là Jollibee


6
(Philippines) với hơn 30 cửa hàng. Burger King dù chỉ mới vào Việt Nam từ cuối năm
2012, nhưng thương hiệu này đến nay đã có gần 20 cửa hàng tại 3 thành phố lớn là Hà
Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh. Sau Burger King, Subway cũng ráo riết đầu tư hệ
thống cửa tiệm, định vị thương hiệu.
Cùng với số lượng phát triển của các nhà hàng thức ăn nhanh thì việc thực hiện
trách nhiệm xã hội tại đây cũng trở nên “muôn hình vạn trạng”. Bởi lẽ, các cửa hàng
được phân ra theo nhiều loại hình cũng như các tiêu chí khác nhau. Chẳng hạn như
việc thực hiện trách nhiệm xã hội ở những nhà hàng bình dân sẽ không thể so sánh
được với các chuỗi nhà hàng thương hiệu lớn nên việc theo dõi hay tìm hiểu vẫn còn
một số hạn chế. Đây là vấn đề không chỉ của các cơ quan quản lý kinh doanh, của
cộng đồng xã hội mà còn của cả những sinh viên ngành Khách sạn – Du lịch như
chúng em.
Từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn nêu trên, cùng với mong muốn phát triển việc
thực hiện trách nhiệm xã hội tại các nhà hàng, nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài:
“Trách nhiệm xã hội của các nhà hàng thức ăn nhanh trên địa bàn quận Cầu
Giấy, Hà Nội”. Qua nghiên cứu đề tài, chúng em hy vọng từ việc tìm hiểu thực trạng,
chúng em có thể rút ra được những bài học quý báu để ngành dịch vụ được phát triển
hơn trong thời gian tới.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là từ thực trạng việc thực hiện trách nhiệm xã hội
tại các cửa hàng thức ăn nhanh, đúc rút được một số giải pháp để góp phần phát triển

- Phạm vi về không gian: Đề tài giới hạn nghiên cứu việc thực hiện trách nhiệm
xã hội tại các nhà hàng thức ăn nhanh trên địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội.
- Phạm vi về thời gian: Đề tài giới hạn sử dụng dữ liệu nghiên cứu thực trạng
việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các nhà hàng thức ăn nhanh trên địa bàn quận
Cầu Giấy đến năm 2015 và định hướng giải pháp đến năm 2020.
4. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Các nhà nghiên cứu nước ta luôn dành sự quan tâm cho việc tổng kết thực tiễn;
nghiên cứu những công trình trong và ngoài nước. Trong những nghiên cứu về trách
nhiệm xã hội thì nghiên cứu tình hình thực tiễn và rút ra bài học cho các doanh nghiệp
tại Việt Nam được chú trọng. Tuy nhiên, do bản chất của trách nhiệm xã hội là một
phạm trù khá rộng lớn nên một là các công trình nghiên cứu mang tính hệ thống và
toàn diện; Hai là hầu hết tập trung vào trách nhiệm xã hội cho doanh nghiệp hoặc hoạt
động kinh doanh của nhà hàng do tính giới hạn của chủ đề và đối tượng nghiên cứu.
Trong đó, điển hình phải kể đến một số công trình nghiên cứu khoa học (NCKH) sau
đây:
Tại Việt Nam, có thể kể đến một số sách, bài báo tiêu biểu nghiên cứu về CSR
như:


8
– TS Lê Thanh Hà (2006), Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong vấn đề tiền
lương, Báo Lao động xã hội, số 290, ngày 15/05/2006.
Tác giả muốn đề cập tới vai trò của tiền lương như: các mức lương vừa thể hiện
vị trí, công việc vừa thể hiện sự chia sẻ lợi ích giữa các tổ chức, các doanh nghiệp và
người lao động vừa thể hiện sự phát triển nghề nghiệp của mỗi cá nhân người lao
động.
– Hoàng Long (2007), Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp – Động lực cho sự phát
triển, Báo Thương Mại, số 26/2007.
Tác giả chứng minh tầm quan trọng của CSR trong doanh nghiệp tới sự phát triển
xã hội: chú ý phát triển cơ sở hạ tầng cứng và mềm, giao thông vận tải, nhất là các

dịch vụ của nhà hàng thức ăn nhanh. Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu chỉ đề cập
đến một khía cạnh nội dung hoặc không còn tính thời sự. Nói cách khác, cho đến nay
chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu chuyên về việc thực hiện trách
nhiệm xã hội cho một đối tượng cụ thể. Chính vì vậy, đề tài NCKH của chúng em có
tính mới, không trùng lặp với các công trình nghiên cứu trước đó, cần thiết được
nghiên cứu.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài sử dụng 2 nhóm phương pháp nghiên cứu:
5.1. Nhóm phương pháp thu thập dữ liệu

5.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp là dữ liệu do người khác thu thập, sử dụng cho các mục dích có
thể là khác với mục đích nghiên cứu của chúng ta. Dữ liệu thứ cấp có thể là dữ liệu
chưa xử lý (còn gọi là dữ liệu thô) hoặc dữ liệu đã xử lý. Như vậy, dữ liệu thứ cấp
không phải do người nghiên cứu trực tiếp thu thập.
Các dữ liệu thứ cấp trong đề tài được nhóm nghiên cứu thu thập từ các nguồn:

− Giáo trình, sách, công trình NCKH khác: thu thập và kế thừa một số vấn đề lý luận
liên quan về trách nhiệm xã hội.
− Website: thu thập các dữ liệu thực trạng từ các bài viết và một số đề tài nghiên cứu về
trách nhiệm xã hội và nhà hàng trên Internet.
5.1.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp là dữ liệu chưa sẵn có, lần đầu được thu thập và sử dụng cho mục
đích nghiên cứu chính đề tài này. Để thu thập dữ liệu sơ cấp cho đề tài này, nhóm
nghiên cứu đã sử dụng phương pháp khảo sát đối với các khách hàng; các cá nhân đã
từng sử dụng dịch vụ và các nhân viên đã và đang làm việc tại các cửa hàng thức ăn
nhanh tại địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội nhằm thu thập ý kiến về việc thực hiện trách
nhiệm xã hội của các nhà hàng tại đây. Nhóm đã thực hiện thông qua các hình thức:
khảo sát trực tuyến (khảo sát qua mạng Internet thông qua biểu mẫu online) và khảo
sát thực tế.

- Phương pháp thống kê: Nhóm nghiên cứu tiến hành xử lý số liệu từ phiếu khảo
sát thu về để đánh giá ý kiến của các cá nhân đã và đang sử dụng dịch vụ tại các cửa
hàng thức ăn nhanh trên địa bàn quận Cầu Giấy.
- Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp các dữ liệu lý luận và thực tiễn về việc thực
hiện trách nhiệm xã hội tại các nhà hàng nói chung và các nhà hàng đồ ăn nahnh nói
riêng qua các nguồn thông tin đã nêu.
- Phương pháp so sánh: Dùng phương pháp so sánh để đối chiếu giữa việc thực
hiện trách nhiệm xã hội của các nhà hàng thức ăn nhanh trong phạm vi quận với phạm
vi thành phố, trong nước và nước ngoài.
- Phương pháp phân tích: Phân tích dữ liệu các bảng, biểu; Nội dung về việc
thực hiện trách nhiệm xã hội tại các nhà hàng thức ăn nhanh trên quận Cầu Giấy.


11
- Phương pháp đánh giá: Sau khi có được kết quả phân tích, tiến hành đánh giá
việc thực hiện trách nhiệm xã hội tại các nhà hàng thức ăn nhanh trên quận Cầu Giấy.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung
chính của đề tài được kết cấu làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm xã hội trong kinh doanh
nhà hàng thức ăn nhanh.
Chương 2: Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của các nhà hàng thức ăn
nhanh trên địa bàn quận Cầu giấy, Hà Nội.
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện trách
nhiệm xã hội của các nhà hàng thức ăn nhanh trên địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội.


12
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
TRONG KINH DOANH NHÀ HÀNG THỨC ĂN NHANH

TNXH của nhà hàng chính là sự kết hợp hài hòa giữa việc thực hiện các quy định của


13
luật pháp về lao động, bảo vệ môi trường, bảo vệ người tiêu dùng với yêu cầu của đối
tác, của khách hàng, giữa lợi ích của nhà hàng với lợi ích của xã hội, giữa lợi ích của
người lao động và người sử dụng lao động,...

1.1.2. Nhà hàng thức ăn nhanh
1.1.2.1. Khái niệm nhà hàng thức ăn nhanh
Để có thể khái quát được khái niệm nhà hàng thức ăn nhanh, trước hết chúng ta
cần tìm hiểu: Nhà hàng là gì? Và thức ăn nhanh là gì?
Nhà hàng (NH) hiểu một cách đơn giản là một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ
ăn uống và các dịch vụ bổ sung khác nhằm mục đích thu lợi nhuận. NH là nơi mà thực
khách đến để ăn uống, thưởng thức ẩm thực, thưởng thức các dịch vụ đi kèm khác.
Vậy có phải bất kỳ nơi nào kinh doanh dịch vụ ăn uống thì được gọi là nhà hàng?
Không hẳn vậy. Theo Thông tư liên bộ số 27/LB-TCDL ngày 10/01/1996 của Tổng
cục du lịch, Bộ thương mại quy định về điều kiện kinh doanh tại cơ sở lưu trú du lịch
và nhà hàng ăn uống thì: Nhà hàng ăn uống là nơi kinh doanh các món ăn, đồ uống có
chất lượng cao, có trang thiết bị và chất lượng phục vụ tốt, đáp ứng được mọi đối
tượng khách, và là các cơ sở kinh doanh có mức vốn pháp định theo quy định của từng
loại hình doanh nghiệp.
Thức ăn nhanh (tiếng Anh gọi là fast food), là thuật ngữ chỉ thức ăn có thể được
chế biến và phục vụ cho người ăn rất nhanh chóng. Trong khi bất kỳ bữa ăn với ít thời
gian chuẩn bị có thể được coi là thức ăn nhanh, thông thường thuật ngữ này nói đến
thực phẩm được bán tại một nhà hàng hoặc cửa hàng với các thành phần làm nóng
trước hoặc được nấu sẵn, và phục vụ cho khách hàng trong một hình thức đóng gói
mang đi. Thuật ngữ fast food đã được công nhận trong từ điển tiếng Anh Merriam Webster năm 1951.
Từ những khái niệm trên, ta có thể khái quát lại: Nhà hàng thức ăn nhanh là loại
nhà hàng phục vụ những món ăn, đồ uống với mức chất lượng cao một cách nhanh

Tiếp cận theo mô hình “kim tự tháp” của A. Carroll (1999)
Mô hình “kim tự tháp” của A. Carroll (1999) có tính toàn diện và được sử dụng

rộng rãi nhất.
TRÁCH NHIỆM TỪ THIỆN
(Philanthropic Responsibilities)
TRÁCH NHIỆM ĐẠO ĐỨC
(Ethical Responsibilities)
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
(Legal Responsibilities)
TRÁCH NHIỆM KINH TẾ
(Economic Responsibilities)
(Nguồn: Carroll Archie - 1999)
Hình 1.1. Mô hình “kim tự tháp” CSR của Carroll
Theo mô hình trên, TNXH bao gồm trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý,
trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm từ thiện. Ranh giới giữa các tầng trong “kim tự
tháp” là luôn chồng lấn, tác động bành trướng lẫn nhau. Việc tuân thủ quy định pháp
luật chắc chắn đưa đến các chi phí kinh tế cho doanh nghiệp. Và quy tắc đạo đức xã


15
hội ngoài luật luôn mở rộng (theo trình độ phát triển của xã hội), tạo áp lực lên hệ
thống pháp luật, bắt buộc các nhà làm luật phải luôn bám sát thực tiễn xã hội [tr 58, 1].

1.2.1.2

Tiếp cận theo đối tượng tác động của Trách nhiệm Xã hội
Theo Matten và Moon, các đối tượng tham gia, ảnh hưởng và hưởng lợi của việc

thực thi TNXH doanh nghiệp có thể bao gồm: Cổ đông/ chủ sở hữu doanh nghiệp,

16
* Các số từ 1 đến 5 chỉ thứ tự quan tâm của từng bên liên quan đến các nội dung
của việc thực hiện TNXH của doanh nghiệp.
Người lao
động

Các cơ
quan
quản lý

Chủ sở
hữu

Khách
hàng

Trách nhiệm Kinh tế

1

4

2

3

5

Trách nhiệm Pháp lý


1

5

Nội dung

Cộng
đồng

(Nguồn: Carroll và Buchholtz, 2003)

1.2.1.3

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp theo cách tiếp cận chuỗi giá trị
Theo cách tiếp cận này, Michael Porter và Kramer và các nhà nghiên cứu đã xây

dựng chiến lược thực hiện TNXH của doanh nghiệp theo cách ứng xử của doanh
nghiệp gắn liền với những yêu cầu thực thi TNXH bắt buộc và tự nguyện. Nó có thể
trở thành một bộ phận trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp nếu doanh
nghiệp thực sự quan tâm, hiểu được vai trò của TNXH trong thực hiện các chiến lược,
mục tiêu của doanh nghiệp.
Bảng 1.2. Trách nhiệm xã hội theo cách tiếp cận chuỗi giá trị
Chuỗi giá trị

Các vấn đề liên quan đến TNXH

Các hoạt động hỗ trợ
Cơ sở hạ tầng DN (các mối
quan hệ về tài chính, kế hoạch,
đầu tư)

dụng các lao động trẻ em,…); Sử dụng các nguồn nguyên liệu
đặc biệt (lông thú,..); Tối đa hóa nguồn lực tự nhiên


17
Tác nghiệp trực tiếp
Logistic mua (nhập kho
nguyên liệu và quản lý kho, cơ
sở dữ liệu, dịch vụ,...)

Ảnh hưởng của việc vận chuyển (hiệu ứng nhà kính, tắc
nghẽn đường…)

Vận hành (tạo sản phẩm,
dịch vụ…)

Bức xạ và chất thải; Ảnh hưởng đến sinh thái và đa dạng
sinh học; Sử dụng năng lượng và nước sạch; Điều kiện an
toàn trong lao động và quan hệ với người lao động; Nguồn
vật liệu nguy hiểm

Logistic bán (nhận đơn
hàng, phân phối sản phẩm, dịch
vụ)
Marketing và bán (bán,
khuyến mại, quảng cáo, …)
Dịch vụ sau khi bán (hỗ trợ
khách hàng; giải quyết các phàn
nàn của khách; sửa chữa, thay
thế, …)

1.2.2.2

Trách nhiệm pháp lý
Trách nhiệm pháp lý hay trách nhiệm tuân thủ pháp luật chính là một phần của

bản “khế ước” giữa doanh nghiệp và xã hội. Nhà nước có trách nhiệm “mã hóa” các
quy tắc xã hội, đạo đức vào văn bản luật, để doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu kinh tế
trong khuôn khổ đó một cách công bằng và đáp ứng được các chuẩn mực và giá trị cơ


18
bản mà xã hội mong đợi ở họ. Trách nhiệm kinh tế và pháp lý là hai bộ phận cơ bản,
không thể thiếu của CSR.

1.2.2.3

Trách nhiệm đạo đức
Trách nhiệm đạo đức là những quy tắc, giá trị được xã hội chấp nhận nhưng chưa

được “mã hóa” vào văn bản luật. Thông thường, luật pháp chỉ có thể đi sau để phản
ánh các thay đổi trong các quy tắc ứng xử xã hội vốn luôn mới. Hơn nữa, trong đạo
đức xã hội luôn tồn tại những khoảng “xám”, đúng - sai không rõ ràng; mà khi các
cuộc tranh luận trong xã hội chưa ngã ngũ, chúng chưa thể được cụ thể hóa vào luật.
Cho nên, tuân thủ pháp luật chỉ được coi là sự đáp ứng những đòi hỏi, chuẩn mực tối
thiểu mà xã hội đặt ra. Doanh nghiệp còn cần phải thực hiện cả các cam kết ngoài luật.
Trách nhiệm đạo đức là tự nguyện, nhưng lại chính là trung tâm của CSR.

1.2.2.4

Trách nhiệm từ thiện

Trong điều kiện bình thường tính, ổn định và cân bằng của sự tổng hợp các lực
này sẽ dẫn đến là kết quả người lao động yên tâm và làm việc ổn định trong nhà hàng
với vị trí và thu nhập của mình. Khi lực hút của nhà hàng thắng lực đẩy từ nhà hàng và
lực hút từ bên ngoài thì người lao động sẽ ở lại làm việc cho nhà hàng. Lực hút ở các
nhà hàng càng vượt trội thì người lao động càng gắn bó với nhà hàng. Ngược lại, sự
chênh lệch càng ít thì khả năng giữ người lao động ở lại doanh nghiệp càng khó khăn.
Để cân bằng các lực tác động lên người lao động, các nhà hàng cần nhìn nhận đó là sự
tổng hợp của rất nhiều yếu tố tác động như: thu nhập, môi trường làm việc, các chế độ
đãi ngộ, cơ hội thăng tiến, cách thức giao tiếp và ứng xử của cá nhân, của ban lãnh đạo
đối với người lao động,... Nhận thức được tầm quan trọng cũng như lợi ích to lớn,
trong kinh doanh nhà hàng cần thực hiện tốt trách nhiệm đối với người lao động. Trách
nhiệm này được thể hiện ở nhiều mặt như: sử dụng lao động đúng pháp luật, đảm bảo
điều kiện làm việc tốt, đảm bảo vệ sinh an toàn lao động, trả lương thỏa đáng công
bằng. Quan tâm đến người lao động cả về vật chất lẫn tinh thần thông qua chế độ
lương, thưởng, phúc lợi và bảo hiểm thỏa đáng, tạo môi trường làm việc lành mạnh và
vừa sức, có trách nhiệm phát triển đào tạo cho nhân viên, đảm bảo an toàn vệ sinh
trong lao động và không lạm dụng lao động trẻ em, tôn trọng quyền bình đẳng nam, nữ
dựa trên công bằng về năng lực của mỗi người trong tuyển dụng, trả lương và tạo cơ
hội thăng tiến; không phân biệt đối xử về mặt sắc tộc, với người bị khuyết tật, với quá
khứ của người lao động.

1.3.2 Trách nhiệm đối với khách hàng
Trong kinh doanh nhà hàng thức ăn nhanh, thực hiện trách nhiệm đối với khách
hàng có nghĩa là nhà hàng đảm bảo lợi ích và an toàn cho khách hàng. Điều này có
nghĩa là nhà hàng cung cấp các thông tin chính xác, trung thực về sản phẩm của nhà
hàng, phải cam kết cung cấp cho khách hàng những sản phẩm có chất lượng cao, đúng
tiêu chuẩn và quy định, chất lượng phải tương xứng với giá cả sản phẩm, không gây


20

mua bán, trao đổi hàng hóa…

1.4 Lợi ích của các nhà hàng thức ăn nhanh từ việc thực hiện Trách nhiệm xã hội


21
- Nâng cao năng lực nguồn nhân lực: Thể hiện qua trình độ nguồn nhân lực và năng
suất lao động được nâng cao. Những nhà hàng có chế độ lương, thưởng hợp lý, công
bằng, môi trường làm việc an toàn, sạch sẽ, có nhiều cơ hội đào tạo, thăng tiến cùng

-

chế độ phúc lợi, bảo hiểm xã hội, y tế tốt sẽ thu hút và giữ chân nhân viên tốt.
Nâng cao hiệu quả quản lý quá trình và cung ứng: Nội dung không thể thiếu trong
thực hiện TNXH là có hệ thống quản trị chất lượng dịch vụ (nội bộ hoặc quốc tế) phù
hợp; có các quy trình sản xuất và cung ứng dịch vụ hiệu quả với trình độ công nghệ
hiện đại; cùng với việc cải tiến công tác hậu cần kinh doanh, cải thiện chất lượng cơ sở
vật chất sẽ tạo ra môi trường làm việc tốt, làm tăng năng suất lao động và hiệu quả

-

kinh doanh.
Nâng cao chất lượng và giá cả dịch vụ: Nguồn lao động có năng lực, trách nhiệm và
hệ thống quản trị chất lượng hiệu quả là yếu tố quyết định năng suất và chất lượng
dịch vụ. Từ việc tăng năng suất, đảm bảo và nâng cao chất lượng dịch vụ, các nhà

-

hàng sẽ có điều kiện thuận lợi trong việc định giá linh hoạt và hấp dẫn.
Đảm bảo tốt hiệu suất các quá trình cốt lõi: Các quá trình cốt lõi trong các nhà hàng

thiện cảm và tiếng vang lớn giúp cho hiệu suất truyền thông tăng cao; đồng thời nhà

-

hàng sẽ có điều kiện thuận lợi hơn trong thiết lập mạng lưới phân phối.
Mở rộng thị phần và gia tăng mức tăng trưởng thị phần: Với uy tín thương hiệu được
khẳng định, có sức lôi cuốn, gây được thiện cảm với đối tác và người tiêu dùng; chú
trọng quan hệ công chúng và thực hiện tốt các nghĩa vụ xã hội; cùng với chất lượng dịch
vụ đảm bảo, giá cả cạnh tranh sẽ giúp các nhà hàng có nhiều cơ hội vươn ra thị trường

-

quốc tế, mở rộng thị phần và duy trì được mức tăng trưởng thị phần.
Tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận: Mục tiêu xuyên suốt, cốt lõi của mọi nhà hàng là
nâng cao lợi nhuận. TNXH giúp cho lượng bán tăng lên; quy mô thị trường, quy mô sản
xuất mở rộng; từ đó tăng doanh thu. Hơn nữa, các quá trình cốt lõi có hiệu suất cao, chi

-

phí chung trên một đơn vị sản phẩm giảm, từ đó lợi nhuận cũng tăng lên.
Nâng cao vị thế tài chính: Vị thế tài chính của doanh nghiệp được khẳng định qua lợi
nhuận, dòng tiền mặt, tỉ lệ vốn vay, mức dự trữ, hiệu suất lợi tức, chi phí... trong tương
quan so sánh với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Như vậy, một khi TNXH được thực
hiện tốt thì về lâu dài sẽ có tác động rất lớn và rất tích cực tới vị thế tài chính của nhà
hàng.


23
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC
NHÀ HÀNG THỨC ĂN NHANH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY, HÀ NỘI



24
Việt Nam nhưng số lượng các nhà hàng nước ngoài đang tăng ngày càng nhanh qua
các năm, với quy mô ngày càng lớn và hiện đại. Các nhà hàng nước ngoài có đặc điểm
được đầu tư với chi phí lớn, do đó hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật của nhà hàng
thường sang trọng, tiện nghi hơn so với các nhà hàng Việt Nam. Địa điểm phân bố
cũng được lựa chọn kỹ càng, tập trung nhiều ở trung tâm quận, quanh các trường học
hoặc trên các tuyến đường lớn đông đúc của quận. Đây chính là lợi thế thu hút nhiều
khách hàng đến với các nhà hàng thức ăn nhanh có chủ sở hữu nước ngoài hơn, đặc
biệt là đối với đối tượng khách hàng có mức thu nhập cao.

2.2 Phân tích thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của các nhà hàng thức ăn
nhanh trên địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội
2.2.1 Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của các nhà hàng thức ăn nhanh có chủ
sở hữu Việt Nam
Nhà hàng thức ăn nhanh có chủ sở hữu Việt Nam chiếm số lượng lớn trên tổng số
nhà hàng thức ăn nhanh trên địa bàn quận Cầu Giấy. Tuy nhiên, do phạm vi nghiên
cứu đề tài có hạn, nhóm nghiên cứu xin được chọn mẫu hai cơ sở sau thuộc chuỗi Nhà
hàng bánh mì Bami Bread để thực hiện nghiên cứu: Nhà hàng bánh mì Bami
Bread cơ sở 4: Số 6 Nguyễn Thị Định, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội và
Nhà hàng bánh mì Bami Bread cơ sở 5: Số 208 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa
Tân, quận Cầu Giấy, Hà Nội.

2.2.1.1 Thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động
Bằng phương pháp khảo sát mẫu thông qua phiếu khảo sát trực tiếp, nhóm
nghiên cứu đã tiến hành điều tra 20 nhân viên đang làm việc tại hai nhà hàng thuộc
chuỗi nhà hàng Bánh mì Bami Bread trên địa bàn quận Cầu Giấy, trong đó có: 3 nhân
viên quản lý, 8 nhân viên bán hàng và 9 nhân viên giao hàng.
Dựa theo nội dung thực hiện trách nhiệm xã hội đối nội (thực hiện trách nhiệm

0

0

0

33,33

Mức lương

Các khoản
thưởng

Các khoản phụ
cấp, trợ cấp

Môi trường
làm việc
66,67

100

100

100

66,67

0


0

37,5

0

12,5

22,22

22,22

0

11,11

11,11

77,78

66,67

100

88,89

77,78

0


Không Rất hài
Không Rất hài
Hài lòng
Hài lòng
Hài lòng
Hài lòng
lòng
hài lòng lòng
hài lòng lòng
hài lòng lòng

Nhân viên quản lý

khảo sát về mức độ hài lòng của nhân viên đối với các tiêu chí thực hiện TNXH của Nhà hàng Bami Bread

Thời gian làm
việc

Tiêu chí khảo
sát

(Đơn vị: %)

25

Bảng 2.1 cho thấy tỉ lệ nhân viên của Bami Bread hài lòng về thời gian làm việc,

mức lương, thưởng, trợ cấp và phụ cấp là khá cao. Mức lương được tính cụ thể như



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status