LUẬN VĂN: Tình hình thực hiện luật thuế GTGT tại một số doanh nghiệp Kinh doanh Thương mại trên địa bàn quận Hoàn Kiếm - Hà Nội - Pdf 11


LUẬN VĂN:
Tình hình thực hiện luật thuế GTGT tại
một số doanh nghiệp Kinh doanh -
Thương mại trên địa bàn quận Hoàn
Kiếm - Hà Nội Lời mở đầu


chương I
những lý luận chung về thuế giá trị gia tăng
I- sơ lược về thuế nhà nước
1-Khái niệm về thuế
Thuế là một phạm trù lịch sử, nó phát sinh tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời,
tồn tại và triển của nhà nước.Có thể khẳng định rằng , dưới bất kỳ một chế độ xã hội nào
khi đã có nhà nước thì phải có thuế. Sự xuất hiện của nhà nước đòi hỏi phải có cơ sở vật
chất để đảm bảođiều kiện cho nhà nước tồn tại và thực hiện các chức năng của mình.Nhà
nước dùng quyền lực chính trị của mình để ban hành những qui định pháp luật cần thiết
nhằm làm công cụ phân phối lại một phần của cải xã hội và hình thành quỹ tiền tệ tập
trung của nhà nước. Đồng thời, sự xuất hiện của sản phẩm thặng dư trong xã hội cũng là
cơ sở chủ yếu tạo khả năng và nguồn thu để thuế tồn tại và phát triển. Như vậy, thuế ra
đời là một tất yếu khách quan xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chức năng của nhà nước.
Nhà nước sử dụng thế như một công cụ quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thuế
không những là nguồn thu quan trọng chủ yếu của ngân sách nhà nước mà còn có ảnh
hưởng to lớn đến công cuộc phát triển kinh tế.
Nhiệm vụ chính trị của mỗi nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử, đặc điểm cuẩ
phương thhức sản xuất, kết cấu giai cấp là những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến vai trò,
nội dung và đặc điểm của thuế khoá. Bản chất của thuế tuỳ thuộc vào bản chất nhà nước
sinh ra nó. Trước thời kỳ phong kiến, hình thái ban đầu của thuế chỉ là hiện vật và ngày
công lao động, kể từ chủ nghĩa tư sản cho đến nay, thuế đã dần chuyển sang hình thái phổ
biến là tiền tệ và các sắc thuế khác nhau cũng không ngừng được hoàn thiện. Tuy nhiên,
hệ thống thuế được coi là phù hợp không thể chỉ nhìn vào số lượng các sắc thuế nhiều
hay ít, và mục tiêu đơn thuần về động viên tài chính mà được phân tích một cách cụ tể
toàn diện mối quan hệ chặt chẽ với yêu cầu phát triển kinh tế lành mạnh, với đời sống xã
hội không đối lập với quyền lợi và khả năng đóng góp của nhân dân. Do đó, cơ cấu và
nội dung cẩ hệ thống và từng sắc thuế phải được nghiên cứu, sửa đổi bổ sung cải tiến và


Thuế bao giờ cũng chứa đựng các yếu tố thuộc về kinh tế, xã hội. Tuy là biện pháp
tài chínhcủa nhà nước mang tính chất bất buộc, song sự bắt buộc đó luôn luôn được xác
lập trên nền tảng của các vấn đề kinh tế, xã hội của người làm nghĩa vụ đóng thuế. Việc
xác lập một hệ thống thuế với các loại thuế xuất khác nhau trước hết bắt nguồn từ sự chi
tiêu của nhu cầu nhà nước, song trong thực tế mức độ động viên qua thuế bao giờ cũng
chịu sự ràng buộc của các yếu tố kinh tế, xã hôị của một quốc gia trong từng giai đoạn
lịch sử.
Thuế là một khoản đóng góp không mang hoàn trả trực tiếp.
3-Phân loại thuế:
Tuỳ theo mục đích yêu cầu của việc xem xét, đánh giá, phân tích và phân loại các
sắc thuế mà có các cách phân loại sau:
3.1 Phân loại theo tính chất chuyển giao thuế.
*Thuế trực thu: Là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế đồng thời là người chịu
thuế.
Ví dụ: Thuế thu nhập doanh nghiệp ,thuế thu nhập cá nhân
*Thuế gián thu: là loại thuế đánh vào người tiêu dùng thông qua giá cả hàng hoá và
dịch vụ, đồng thời người chịu thuế gián thu và người nộp thuế không đồng nhất.
Ví dụ: Thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu
3.2 Phân loại theo đối tượng tính thuế:
*Thuế đánh vào nsản xuất kinh doanh và dịch vụ.
Ví dụ: Thuế doanh thu
Thuế đánh vào sản phẩm hàng hoá:
Ví dụ: thuế tiêu thụ đặc biệt
*Thuế đánh vào thu nhập :
Ví dụ :thuế thu nhập doanh nghiệp
*Thuế đánh vào việc sử dụng tài sản của nhà nước.

- Mức thuế: là số thuế phải nộp cho ngân sách nhà nước căn cứ vào giá tính thuế và
thuế suất.
4.5 Giá tính thuế :
là giá cả hàng hoá , dịch vụ ,tài sản, súc vật làm căn cứ tính thuế .
Ví dụ: Giá tính thuế của một chiếc máy giặt LG -Sel là giá bán của cửa hàng hay giá
mua của khách hàng .
4.6 Chế độ miễn, giảm thuế :
Là số thuế được qui định phải huy động vào ngân sách nhà nước cho phép để lại
cho người nộp toàn bộ hay một phần để sử dụng trong một thời gian nhất định nhằm tạo
điều kiện thuận lợi hay khuyến khích phát triển kinh tế .
4.7 Thủ tục nộp thuế:
Bao gồm những qui định về trách nhiệm và cách thức nộp thuế của đối tượng nộp
thuế trước cơ quan hữu quan. Thủ tục nộp thuế là căn cứ pháp lý để thực hiện nộp thuế
đúng, đủ ,kịp thời.
4.8 Xử lý các trường hợp vi phạm :
Tuỳ theo mức độ nặng nhẹ về việc vi phạm các qui định của luật thuế ban hành mà
bị cảnh cáo, phạt tiền hay bị truy tố trước pháp luật
5-Vai trò của thuế nhà nước :
5.1 Thuế là công cụ tạo lập lên nguồn thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước, vì:
-Thuế là một khoản đóng góp mang tính chất pháp lệnh của Nhà nước đối với các tổ
chức , cá nhân trong xã hội.
-Thuế là một khoản thu mang tính tương đối ổn định.
-Thuế không hoàn trả trực tiếp cho người nộp mà thông qua quá trình thưc hiện các
chức năng của mình.

chóng hàn gắn vết thương chiến tranh. Thuế doanh thu được áp dụng ở Pháp từ năm
1917. Thời kỳ đầu ,thuế doanh thu chỉ đánh ở giai đoạn cuối cùng của quá trình lưu thông
hàng hoá với thuế suất thấp.Đầu năm 1920 ,thuế doanh thu được diều chỉnh,đánh vào
từng khâu của quá trình sản xuất. Qua thực tế, cách đánh thuế này đã bộc lộ rõ nhược
điểmđó là thuế tính chồng chéo, trùng lặp.
Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, thuế doanh thu vẫn tồn tại những nhược điểm trên.
Để đã ban hành loại thuế mới có tên gọi: "Taxe Sur La Valeur ajoutéa ( viết tắt là TVA ),
theo tiêng anh là: "Value Added Tax" (viết tắt là VAT), theo tiếng việt là "thuế giá trị gia
tăng". Đến năm 1966, trong xu hướng cải thiện hệ thống thuế "đơn giản, hiện đại" nói
chung ở Châu Âu, TVA được ban hành chính thức để thay thế một số sắc thuế gián thu.
Năm 1986, TVA được áp dụng rộng rãi đối với tất cả các ngành nghề sản xuất, lưu thông
hàng hoá, dịch vụ, nhằm đáp ứng hai mục tiêu quan trọng: bảo đảm số thu kịp thời,
thường xuyên cho ngân sách nhà nước, và khắc phục thu thuế trùng lặp của thuế doanh
thu.
ở thời điểm này, thuế GTGT đã nhanh chóng được áp dụng rộng rãi trên thế giới, có
khoảng 130/210 quốc gia áp dụng thuế GTGT và trở thành nguồn thu quan trọng cho
nhiều nước .
ở miền Nam Việt Nam trước 1975 chính quyền Sài Gòn cũng đã ban hành luật thuế
GTGT trùng với thơì điểm cải cach thuế năm 1972. Ngày 05/07/1993, được chính phủ
cho phép, Bộ Tài Chính đã có quyết định số 486TC/QĐ/TCT ban hành thuế giá trị gia
tăng để thực hiện thí điểm như: công ty dệt Hà Đông, công ty dệt kim Đông Xuân, nhà
máy dệt Đông á, nhà máy đường Biên Hoà, nhà máy xi măng Bỉm Sơn,
Tuy nhiên, việc thực hiện thí điểm đã không mang lại kết quả do hoạt động sản
xuất kimh doanh của các doanh nghiệp trong xã hội có mối quan hệ chặt chẽ lẫn nhau, từ
quá trình cung cấp nguyên vật liệu đến quá trình tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy, VAT không
thể thực hiện riêng rẽ ở một số khâu hay một số doanh nghiệp.
Để góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế sao cho phù hợp với sự vận động

của nhà doanh nghiệp, nên chi phí quản lý có phần thấp hơn thuế trực thu .
1.1.2 Những điểm khác nhau:
- Thuế GTGT chỉ đánh vào giá trị tăng thêm của sản phẩm ở từng khâu sản xuất
,lưu thông. Nhưng thuế doanh thu lại đánh trên toàn bộ doanh thu của sản phẩm, qua mỗi
lần chuyển dịch từ sản xuất đến lưu thông.
- Thuế GTGT có khấu trừ thuế ở các giai đoạn trước. Thuế doanh thu không khấu
trừ thuế đã nộp ở giai đoạn trước.
- Tổng số thuế GTGT thu đối với từng sản phẩm không phụ thuộc sự tổ chức và
phân chia các chu kỳ kinh tế. Sản phẩm hàng hoá càng trải qua nhiều công đoạn sản xuất,
lưu thông thì tổng số thuế thu đối với từng sản phẩm từ khâu đầu đến khâu cuối cùng mà
người tiêu dùng phải chịu càng cao.
- Thuế GTGT thường có ít thuế suất hơn thuế doanh thu nên có phần đơn giản, rõ
ràng, dễ thực hiện hơn thuế doanh thu.
Qua hai năm thực hiện, luật thuế GTGT đã bộc lộ rõ những ưu điểm của mình. Về
cơ bản đã phát huy các mặt tích cực đối với đời sống kinh tế xã hội, góp phần khuyến
khích đầu tư, ổn định sản xuất kinh doanh, góp phần khuyến khích xuất khẩu, bảo hộ sản
xuất trong nước, nâng cao hạch toán kinh doanh của doanh nghiệp và trình độ quản lý
của ngành thuế
Cụ thể :
- Thuế GTGT khắc phục được việc thu trùng lắp của thuế doanh thu. Đối với hàng
xuất khẩu không phải nộp thuế GTGT mà còn được khấu trừ hoặc hoàn trả lại số thuế
GTGT đầu vào, tạo điều kiện để hạ giá bán, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường
Quốc tế, góp phần đẩy mạnh xuất khẩu.
- Hạn chế được việc thất thu thuế do thuế GTGT được thu tập trung ngay từ đầu mà
thu thuế ở khâu sau còn kiểm tra được việc tính thuế, nộp thuế ở khâu trước, đảm bảo
động viên số thu quan trọng và tương đối ổn định cho ngân sách nhà nước.
- Tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hoá có hoá

GTGT.
Cụ thể:
2.1.1 Doanh nghiệp Nhà Nước.
2.1.2 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo luật
đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
2.1.3 Doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần thành lập và hoạt
động theo luật pháp Việt Nam.
2.1.4 Công ty nước ngoài và tổ chức nước ngoài hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ
Việt Nam không theo luật đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
2.1.5 Các tổ chức kinh tế của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội chính trị của đơn vị sự
nghiệp
2.1.6 Những ngưòi kinh doanh độc lập, hộ gia đình các cá nhân hợp tác kinh doanh
nhưng không hình pháp nhân kinh doanh.
2.2 Đối tượng tính thuế (chịu thuế):
Theo quy định tại điều 2 Luật thuế GTGT và điều 2 Nghị định số 79/2000/NĐ - CP
ngày 29/12/2000: Tất cả các hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất - kinh doanh và mgười
tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT, loại trừ 26 loại hàng hoá, dịch vụ
không thuộc diện chịu thuế GTGT được quy định tại điều 4 của luật này.
3. Căn cứ tính thuế GTGT:
Theo điều 6 luật thuế G TGT thì căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất
3.1 Giá tính thuế:
3.1.1 Khái niệm:
Giá tính thuế là một căn cứ quan trọng để xác định số thuế GTGT khác phải nộp,
giá tính thuế GTGT là giá bán chưa có thuế GTGT được ghi trên hoá đơn bán hàng của
người bán hàng, người cung cấp dịch hoặc người nhập khẩu.
3.1.2 Cách xác định giá tính thuế GTGT của hàng hoá dịch vụ:
Theo quy định tại điều 7 luật thuế GTGT và điều 6 nghị định số 79/2000/NĐ - CP

công, tiền nhiên liệu động lực, vật liệu phụ, các chi phí khác để gia công.
Đối với hàng hoá, dịch vụ mang tính đặc thù dùng các chứng từ như tem, bưu
chính, vé cước vận tải, vé sổ xố kiến thiết, giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT, thuế
GTGT được tính như sau:
Giá chưa
có thuế
GTGT
Giá thanh toán (tiền tem, tiền bán
vé)
1 + % thuế suất của hàng hoá, dịch
vụ đó

Giá chưa có thuế GTGT là giá để tính thuế GTGT phải nộp. Giá tính thuế đối với
các loại hàng hoá, dịch vụ theo quy định bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm
ngoài giá hàng hoá, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh được hưởng (trừ các khoản phụ thu
theo chế độ của Nhà nước không tính vào doanh thu của cơ sở kinh doanh).
Đối với hoạt động vận tải, bốc xếp giá tính thuế GTGT là giá cước vận tải bốc xếp
chưa có thuế GTGT. Nếu đơn vị vận tải có hoạt động vận tải quốc tế thì doanh thu vận tải
quốc tế lại là đối tượng chịu thuế GTGT.
Đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ hưởng tiền công hoặc tiền hoa hồng như các
đại lý mua bán hàng hoá, dịch vụ môi giới thì giá tính thuế GTGT là tiền công hoặc tiền
hoa hồng được hưởng chưa trừ một khoản phí tổn mà cơ sở thu thu được từ các hoạt động
này.
- Nếu mua hoặc bán hàng hoá theo đúng giá bên chủ hàng quy định chỉ hưởng hoa
hồng thì bên đại lý không phải tính và nộp thuế GTGT đối với khoản hoa hồng. Thuế
GTGT hàng hoá bán ra do chủ hàng kê khai, nộp.
- Nếu mua hoặc bán hàng hoá không theo đúng giá quy định, giá tính thuế GTGT

phải nộp đầu ra khấu trừ
4.1.1Thuế GTGT đầu ra được xác định như sau:
Thuế Giá tính thuếcủa Thuế suất thuế
GTGT = hàng hoá, dịch vụ x GTGT của hàng hoá,
đầu ra chịu thuế bán ra dịch vụ đó
4.1.2Thuế GTGT đầu vào:
Thuế GTGT đầu vào được xác định bằng tổng số thuế GTGT ghi trên hoá đơn
GTGTcủa hàng hoá,dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hoá nhập khẩu.
4.1.2.1Trường hợp 1:
Hàng hoá ,dịch vụ là loại chịu thuế GTGT,có hoá đơn GTGT mua vào để sản,xuất
kinh doanh hàng hoá,dịch vụ chịu thuế GTGT.
Ví dụ:Doanh nghiệp lắp ráp Ti vi bán ra 100 chiếc Ti vi màu,giá chưa có thuế
GTGTlaf 2.500.000 đ/chiếc,thuế suất thuế GTGT là 10%.Doanh nghiệp đã mua một số
vật liệu để dùng cho việc lắp ráp Ti vi. Căn cứ vào hoá đơn chứng từ GTGT mua vật liệu
số thuế GTGT đầu vào là 10.000.000đ
Giả định số vật liệu mua vào chỉ dùng để lắp ráp ti vi. Số thuế GTGT Doang
nghiệp phải nộp được xác địng như sau:
-Số thuế GTGT đầu ra :
2.500.000đ/chiếc x 100 chiếc x 10% = 25.000.000đ
-Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ 10.000.000đ
Vậy số thuế GTGT phải nộp là:
25.000.000 - 10.000.000 =15.000.000đ
4.1.2.2 Trường hợp 2:
Hàng hoá, dịch vụ là loại không chịu thuế GTGT mua vào để sản xuất,kinh
doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT được khấu trừ thuế đầu vào theo một tỷ lệ 3-
5% tính trên giá trị hàng hoá mua vào.
Ví dụ: Doanh nghiệp sản xuất đường mía của người trồng mía trực tiếp bán là

4.1.2.4 Trường hợp 4:
Hàng hoá ,dịch vụ là loại chịu thuế GTGT, có hoá đơn GTGT mua vào để sản xuất,
kinh doanh hàng hoá, dịch vụ mang tính đặc thù mà giá thanh toán là giá trọn gói, trong
giá trọn gói bao gồm cả khoản không chịu thuế GTGT thì khoản này được tính giảm trừ
trong gía tính thuế GTGT đầu ra.
Ví dụ:Một công ty du lịch Việt Nam thực hiện hợp đồng du lịch với Singapo theo
hình thức trọn gói: 30 khách du lịch trong 7 ngày tại Việt nam với số tiền thanh toán là:
35000$. Phía Việt Nam phải lo toàn bộ chi phí: Vé máy bay,ăn ở,tham quan theo chương
trình thoả thuận,trong đó riêng tiền vé máy bay đi từ Singapo sang Việt Nam và ngược lại
hết:10.000$.
Thuế GTGT đầu ra theo hợp đồng được xác định như sau:
Doanh thu chịu thuế GTGT là : 35.000$ - 10.000$ =25.000$
THuế GTGT đầu ra là:(mức thuế GTGT 10%)
4.1.2.5 Trường hợp 5:
Hàng hoá ,dịch vụ là loại chịu thuế GTGT,có hoá đơn GTGT mua vào để khuyến
mại,tiếp thị,quảng cáo Không tính thuế GTGT đầu ra thì chỉ khấu trừ thuế GTGTđầu
vào bằng cách tính vào chi phí khác < = mức khống chế theo chế độ hiện hành.
Ví dụ :Doanh nghiệp sản xuất- kinh doanh hàng điện tử có khuyến mại cho khách
hàng bằng giải thưởng tủ lạnh và một số sản phẩm khác.Tổng chi phí sản xuất kinh doanh
là 150 tỷ đồng. Thuế GTGT đầu vào của một số hàng khuyến mại,quảng cáo tính trong
khoảng chi phí khác của doanh nghiệp được khống chế là 5% so với tổng chi phí hợp lý.
Số thuế GTGT đầu vào của cửa hàng hoá khuyến mại,quảng cáo không được khấu trừ 0,8
tỷ đồng mà chỉ được tính khấu trừ tối đa tương ứng với hàng khuyến mại,quảng cáo tính
trong chi phí khác là:
150 tỷ đồng x5% = 7.5 tỷ đồng
4.1.2.6 Trường hợp 6
Hàng hoá, dịch vụ là loại chịu thuế GTGT, có hoá đơn GTGTmà thuế GTGT đầu

Phải nộp chịu thuế bán ra dịch vụ tương ứng
Căn cứ tính thuế ở đây là phần giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế
GTGT và được xác định theo công thức :
GTGT Gía thanh toán Gía thanh toán của
hàng hoá, dịch vụ = của hàng hoá - hàng hoá , dịch vụ
chịu thuế GTGT dịch vụ bán ra mua vào tương ứng
- Nếu cơ sở kinh doanh là đối tượng áp dụng phương pháp tính thuế GTGT trực
tiếp trên GTGT, nhưng không hoặc thực hiện chưa đầy đủ hoá đơn mua- bán hàng
hoá,dịch vụ ,thì doanh thu tính thuế và tỷ lệ (%)GTGT tính trên doanh thu sẽ được cơ
quan thuế căn cứ vào tình hình thực hiện kinh doanh của từng hộ để ấn định. Do đó, số
thuế GTGT mà cơ sở này phải nộp được tính như sau:
Thuế GTGT;phải nộp
=
Doanh thu;tính thuế;(ấn định)
x
Tỷ lệ GTGT;(ấn định)
x
Thuế suất thuế GTGT;của hàng hoá ;dịch vụ tương ứng

- Nếu cơ sơ sản xuất, kinh doanh thuộc đối tượng áp dụng phương pháp tính thuế
GTGT trực tiếp tên thuế GTGT nhưng không hạch toán được doanh số hàng hoá, dịch vụ
mua vào tương ứng với doanh số hàng hoá, dịch vụ mua vào được xác định như sau:
Giá vốn hàng;Hàng hoá
=
Tồn kho;đầu kỳ
+
Doanh số;mua trong kỳ
-
Tồn kho;cuối kỳ


- Thời hạn nộp thuế
- Địa điểm nộp thuế
- Đơn vị tiền tệ dùng để nộp thuế
Kết thúc công việc nộp thuế, trong mọi trường hợp cơ quan thuế phải cấp biên lai,
chứng từ (do bộ tài chính phát hành) cho đối tượng đã nộp thuế để xác nhận đã thu thuế
GTGT.
5.4 Quyết toán thuế GTGT:
- Sau khi kết thúc năm dương kịch, các đối tượng nộp thuế phải quyết toán thuế với
cơ quan thuế thời gian chậm nhất là: 60 ngày kể từ ngày 30/12 của năm quyết toán thuế.
- Nơi nộp quyết toán thuế là cơ quan thuế địa phương nơi cơ sở đăng ký nộp thuế.
- Dựa vào quyết toán thuế, cơ sở có tr5ách nhiệm nộp thuế GTGT còn thiếu vào
ngân sách Nhà nước (thời gian chaamj nhất là 10 ngày kể từ ngày nộp báo cáo quyết
toán). nếu còn thừa thì được trừ vào kỳ tiếp theo hoặc được hoàn thuế nếu cơ sở được
hoàn thuế.
- Nếu cơ sở kinh doanh có sát nhập, giải thể, chia tách, phá sản thì cơ sở đó cũng
phải quyết toán thuế với cơ quan thuế chậm nhất không quá 45 ngày kể từ ngày có quyết
định sát nhập, giải thể, chia tách, phá sản.
6. Miễn giảm thuế và hoàn thuế:
6.1 Miễn giảm thúe GTGT:
- Nếu các cơ sở sản xuất, xây dựng, vận tải, có hoạt động về sản xuất, xây dựng, vận
tải bị thua lỗ do nguyên nhân số thuế GTGT phải nộp voà các hoạt động này lớn hơn số
thuế tính theo số doanh thu trước đây, thì được xem xét giảm thuế GTGT (nhưng chỉ thực
hiện trong 3 năm: 1999, 2000 và 2001).
- Các cơ sở kinh doanh xin giảm thuế phải gửi hồ sơ xin giảm thuế cho cơ quan trực
tiếp quản lý cơ sở. Hồ sơ bao gồm: báo cáo quyết toán thuế, báo cáo quyết toán kết quả
kinh doanh của năm xin giảm thuế (nêu rõ lý do, thời gian xin giảm và số liệu chứng
minh số thuế GTGT phải nộp tính theo thuế suất thuế GTGT lớn hơn số thuế tính theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status