BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIẾP CẬN XÃ HỘI HỌC
VỀ CƠ CẤU XÃ HỘI VÀ HỆ THỐNG XÃ HỘI.
Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN
CỨU XÃ HỘI HỌC VỀ CƠ CẤU XÃ HỘI
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Như Thúy
Mã lớp học phần: 151INSO321005_06
TP. HCM, tháng 12/2015
Nhóm 1:
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
...................................................................................................................................
vững của các chủ thể xã hội.
Quan điểm của J.H.Fischer: là sự sắp đặt các thành phần hoặc các đơn vị xã
hội, nghiên cứu cơ cấu xã hội phải xem xét các trạng thái tĩnh và trạng thái động.
Quan niệm của G.V. Oxipov: khái niệm cơ cấu xã hội có quan hệ mật thiết
với khái niệm hệ thống xã hội, khái niệm thứ nhất là bộ phận của khái niệm thứ hai
và bao hàm ở trong đó hai thành tố: các thành phần xã hội, các liên hệ xã hội.
Quan niệm của Ian Robertsons : mô hình của các mối quan hệ giữa các thành
phần cơ bản trong một hệ thống xã hội, tạo ra bộ khung cho tất cả xã hội loài người
mặc dù tính chất của các thành phần và các quan hệ giữa chúng biến đổi từ xã hội
này đến xã hội khác.
Nhưng bạn Trang lại muốn dẫn chứng thêm về quan điểm của giáo sư Vũ
Khiêu nước ta.
Quan niệm của giáo sư Vũ Khiêu: là tổng thể những bộ phận, những thành tố
tạo nên một xã hội nhất định.
Bạn Thuận cho rằng Quan niệm của các giáo sư nước ngoài có chiều sâu về
bề dày tìm hiểu xã hội học lâu đời nên đầy đủ ý nghĩa và không cần thêm quan
niệm của Việt Nam vốn có ngành nghiên cứu xã hội học còn non trẻ.
Bạn Trang cho rằng để bài viết đủ chất Á-Âu luận chứng rõ ràng, mang tính
tổng quát cũng như quan niệm của giáo sư Vũ Khiêu đem lại sư gần gũi dễ tiếp
nhận hơn cho người đọc
Các ý kiến của các thành viên còn lại gồm Tiến, Hậu, Toàn đều cho rằng ý
kiến của bạn Thuận không hợp lý cho lắm, theo tổng hợp chung về ý kiến của 4
người cho rằng "Việc nghiên cứu xã hội học ở Việt Nam tuy xuất hiện trễ hơn so
với các nước ngoài, nhưng không vì thế mà ta lại bác bỏ những ý kiến của các vị đi
đầu ngành, đó cũng là các nghiên cứu về thực tế ở Việt Nam. Vì vậy chúng ta
không nên bỏ qua quan điểm của các nhà Xã hội học Việt Nam. Chẳng hạn như
quan điểm của Gs.Vũ Khiêu".
Sau khi thảo luận với nhau bạn Thuận cũng đã thống nhất với quan điểm
2.
14). Ý kiến này được các bạn trong nhóm đồng ý sử dụng.
“Giúp ta hiểu được các thành phần cơ cấu xã hội, vai trò - chức năng của mỗi thành
phần đó trong cơ cấu để đảm bảo tính hệ thống của cơ cấu và nghiên cứu động lực
phát triển xã hội”.
Bạn Tiến cho rằng: nên lấy ví dụ cụ thể ở xã hội Việt Nam để minh họa cho ý
nghĩa này. Từ đó bạn kể ra các giai cấp ở xã hội Việt Nam như: giai cấp công nhân,
nông dân, tầng lớp trí thức, doanh nhân.
Bạn Thuận, Trang, Toàn, Hậu đồng ý với ý kiến trên. Mỗi bạn lần lượt tìm
kiếm và đưa ra các vai trò, chức năng chủa mỗi thành phần, giai cấp mà bạn Tiến
đưa ra.
Bạn Toàn tổng hợp ý kiến và viết lại như sau: “xã hội Việt Nam trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và quá độ đi lên xã hội chủ nghĩa
các giai tầng có vai trò và vị trí nhất định. Trong đó, giai cấp công nhân giữ vị trí
trung tâm trong cơ cấu xã hội. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, giai cấp
công nhân là lực lượng nền tảng, giữ vai trò lãnh đạo, tiên phong cho sự nghiệp xây
dựng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo, lực
lượng nền tảng sản xuất của thời kỳ này. Tuy nhiên, giai cấp hiện nay có xu hướng
giảm. Điều đó phản ánh cho xu thế chung của sự phát triến xã hội hiện đại. Trong
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội tầng lớp trí thức là một lực lượng quan trọng
và là tài sản quý, một động lực cơ bản của sự phát triển đất nước, Đảng ta đã xác
định khối liên minh công – nông – trí là nền tảng của xã hội. Từ đó có những chính
sách xây dựng và đào tạo phát triển cả về số lượng và chất lượng nhằm đưa nước ta
trở thành nước công nghiệp hiện đại. Doanh nhân cũng là một bộ phận có vai trò
tích cực trong phát triển sản xuất, kinh doanh, giải quyết việc làm, giải quyết vấn
đề xã hội. Việc xác định được các thành phần, vai trò và chức năng của từng thành
phần giúp Đảng và nhà nước có những chủ trương chính sách đúng đắn, tạo động
NHẬN XÉT
Thuận lợi:
Với sự hỗ trợ tài liệu từ giảng viên về quan niệm cơ cấu xã hội của các nhà
xã hội học (T. Parson, J.H.Fischer, G.V. Oxipov, Ian Robertsons), và hướng dẫn
cách tiếp cận xã hội học về cơ cấu xã hội và hệ thống xã hội, đã giúp nhóm định
hướng trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài “Tiếp cận cơ cấu xã hội học
về cơ cấu xã hội và hệ thống xã hội. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việc nghiên
cứu xã hội học về cơ cấu xã hội”. Bên cạnh đó, việc tham khảo nguồn tài liệu sẵn
có từ các bài tiểu luận cùng chung đề tài của các tác giả đã nghiên cứu trước đó, và
sách giáo trình Xã hội học đại cương của Thạc sỹ Tạ Minh, đã tạo điều kiện thuận
lợi trong việc tìm hiểu và thực hiện đề tài của nhóm. Đồng thời, trong quá trình
nghiên cứu đề tài đã có sự hợp tác trên tinh thần và thái độ có trách nhiệm cao của
từng thành viên trong nhóm, đã góp phần không nhỏ trong việc hoàn thành tiểu
luận này.
•
Khó khăn:
Tuy đã có sự hướng dẫn từ giảng viên và nguồn tài liệu tham khảo phong phú
cùng với tinh thần làm việc có trách nhiệm cao của từng thành viên, nhưng nhóm
vẫn gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoàn thành đề tài tiểu luận này. Vì các
thành viên có giờ học khác nhau nên việc tập hợp nhóm để trao đổi trở nên khá khó
khăn. Bên cạnh đó, việc tìm tài liệu tham khảo thông qua các bài tiểu luận trước đó,
và chọn lọc kiến thức phù hợp với đề tài để tham khảo, tiếp thu cũng không kém
phần dễ dàng khi có quá nhiều tài liệu và kiến thức mà nhóm còn phân vân chưa rõ.
•
Không khí thảo luận:
những dự báo xã hội; trên cơ sở đó có những cơ sở khoa học cần thiết để
đề ra các chính sách, giải pháp nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo
hướng năng động, tích cực, tiến bộ, đồng thời hoá giải những xu hướng
thoái bộ, bất ổn hoặc nguy cơ đổ vỡ xã hội.
Trong phạm vi bài tiểu luận, nhóm chúng tôi xin khái quát một số
nội dung cơ bản về cơ cấu xã hội dựa trên cơ sở tìm hiểu tài liệu, phân
tích lý luận và khái quát hoá thực tiễn biến đổi cơ cấu xã hội trên khía
cạnh tiếp cận của xã hội học.
2.
Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu cách tiếp cận của xã hội học về cơ cấu xã hội và hệ thống
xã hội. Từ đó hiểu được ý nghĩa của việc nghiên cứu xã hội học về cơ cấu
3.
xã hội đối với sự vận động và phát triển của xã hội.
Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận hoàn thành dựa trên việc sử dụng các tài liệu sẵn có trong
các giáo trình xã hội học, một số tài liệu từ các bài luận văn và bài báo có
10
chủ đề liên quan. Các tài liệu này được ghi chú rõ trong mục tài liệu tham
khảo. Bên cạnh đó, bài tiểu luận còn được thảo luận nhóm tập trung để
phân tích, đánh giá và thống nhất nội dung hoàn chỉnh và đầy đủ nhất.
Hoạt động thảo luận nhóm được ghi chép lại và có biên bản kèm theo
4.
Quan niệm của G.V. Oxipov3
Theo Oxipov, khái niệm cơ cấu xã hội có quan hệ mật thiết với khái
niệm hệ thống xã hội, khái niệm thứ nhất là bộ phận của khái niệm thứ
hai và bao hàm ở trong đó hai thành tố:
-
Các thành phần xã hội
Các liên hệ xã hội
Các thành phần xã hội là tập hợp các bộ phận, các nhóm, các giai
cấp, các cộng đồng xã hội… cấu thành cơ cấu xã hội.
1 Lương Văn Úc (2009), Xã hội học, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, tr.45.
2 Nguyễn Đình Tấn (2005), Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội, Nxb Lý luận chính trị, tr.12.
3 Nguyễn Đình Tấn (2005), Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội, Nxb Lý luận chính trị, tr.14.
12
Liên hệ xã hội là tập hợp những mối liên hệ, những mối liên hệ gắn
kết các thành phần xã hội tạo nên cơ cấu xã hội. Bởi vậy, một mặt cơ cấu
xã hội bao hàm các thành phần xã hội, hay tổng thể các kiểu cộng đồng
trong xã hội; mặt khác nó bao hàm những liên hệ xã hội, gắn kết tất cả
các bộ phận khác nhau hợp thành phạm vi tác động và đặc tính của cơ cấu
xã hội ở một giai đoạn phát triển nhất định nào đó.
•
Quan niệm của Ian Robertsons4
Theo I.Robertsons, cơ cấu xã hội là mô hình của các mối quan hệ
giữa các thành phần cơ bản trong một hệ thống xã hội. Những thành phần
Thứ nhất, nó không chỉ xem xét cơ cấu xã hội như là một tập thể,
một tập hợp các bộ phận (cộng đồng, các tầng lớp, các giai cấp....) đã tạo
thành nên xã hội mà cơ cấu xã hội còn được xem xét ở mặt kết cấu và
hình thức tổ chức bên trong của một hệ thống xã hội nhất định; có nghĩa
nó phải trả lời 2 câu hỏi:
-
Xã hội được cấu thành bao gồm những thành tố nào? Nó được cấu thành
-
như thế nào? Theo kiểu gì?
Cách thức sắp xếp và sự liên kết giữa các bộ phận, các thành tố với nhau
ra sao?
Thứ hai, nó coi cơ cấu xã hội như một sự thống nhất của hai mặt.
Các thành phần xã hội và các mối liên hệ xã hội, là sự phản ánh đúng đắn
nhân tố hiện thực đã tạo nên cơ cấu xã hội. Quan niệm này khắc phục
cách nhìn phiến diện là quy cơ cấu xã hội vào ác quan hệ xã hội, khắc
phục cách nhìn tách rời giữa cơ cấu xã hội và quan hệ xã hội. Thực ra các
quan hệ xã hội hay các mối liên hệ xã hội chỉ là một mặt đã cấu thành nên
cơ cấu xã hội mà nó luôn là sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt. Sự
vận động và biến đổi của cơ cấu xã hội luôn có nguồn gốc từ sự đấu tranh
giữa các mặt, các mối liên hệ, các yếu tố đã cấu thành nên cơ cấu xã hội.
Thứ ba, nó coi cơ cấu xã hội là bộ khung, bộ dàn để xem xét xã hội.
Từ bộ khung, bộ dàn đó mà ta biết được một xã hội cụ thể được tạo thành
từ nhóm xã hội nào, nhóm lớn hay nhóm nhỏ, như một nước, một dân tộc,
một giai cấp, một chính đảng hay một xí nghiệp, một cơ quan, một lớp
học. Và cũng thông qua bộ khung đó mà biết được vị thế tức là chỗ đứng
của từng cá nhân, từng nhóm xã hội, trong xã hội biết được vai trò của
các cá nhân, các nhóm xã hội và thiết chế xã hội; có nghĩa là cách tổ chức
và đan chéo nhau, cùng lúc cá nhân có thể thuộc nhiều nhóm xã hội khác
nhau. Mỗi nhóm xã hội được hình thành có một kiểu đặc trưng quan hệ
khác nhau. Tùy theo cách phân chia, xã hội học phân nhóm theo nhiều
loại hình, cấp độ khác nhau. Các nhóm xã hội này có địa vị khác nhau
trong một hệ thống xã hội, có quan hệ khác nhau đối với tư liệu sản xuất.7
Cơ cấu xã hội cần được xem xét cả trạng thái tĩnh và trạng thái
động. Nghĩa là xem xét các thành phần xã hội, sự sắp đặt địa vị xã hội
của các thành phần xã hội đó và sự tương tác giữa các thành phần, địa vị
xã hội tạo nên sự biến đổi bên trong của mỗi hệ thống. Nghiên cứu cơ cấu
7 ThS. Tạ Minh (2007), Giáo trình Xã hội học đại cương, Nxb Đại học Quốc gia Tp. HCM,
trang 47, 48
16
xã hội một mặt phải chỉ ra được thực trạng, mặt khác chỉ ra được xu
hướng vận động, biến đổi của nó.
Phân tích cơ cấu xã hội cần đi sâu phân tích tính cơ động xã hội, từ
đó tìm ra xu hướng của các quá trình biến đổi và phát triển của xã hội,
đồng thời phải phân tích sự phân tầng xã hội và phân hóa xã hội. Tính cơ
động là sự vận động của cá nhân từ một vị trí xã hội này sang một vị trí
xã hội khác. Nó bao gồm tính di động theo chiều ngang và tính di động
theo chiều rộng. Tính di động theo chiều ngang chỉ sự vận động của cá
nhân tới các vị trí xã hội khác như từ giai cấp này sang giai cấp khác, từ
nhóm xã hội này sang nhóm xã hội khác. Tính di động theo chiều dọc là
sự vận động của cá nhân trong nội bộ mỗi nhóm xã hội, là sự vận động về
mặt chất của mỗi cá nhân (sự thăng tiến, địa vị xã hội). Ngoài ra còn loại
di động liên thế hệ là sự di chuyển giữa hai thế hệ cha – con về nghề
nghiệp hay địa vị xã hội. Loại di động nội thế hệ là sự di chuyển nghề
nghiệp hay địa vị xã hội của cá nhân qua các giai đoạn khác nhau trong
trong lịch sử hình thành nên “hệ giá trị xã hội” và xem “hệ giá trị” như là
cột trụ của văn hoá.
“Văn hoá là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần được nhân loại sáng
tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội, các giá trị ấy
nói lên trình độ phát triển của lịch sử loài người” 9. Vì vậy nghiên cứu về
các giá trị, thang giá trị cũng chính là nghiên cứu về những biển đổi trong
cơ cấu xã hội và hệ thống xã hội.
Xã hội là một hệ thống đa cơ cấu tự nhiên, chứa đựng trong nó nhiều
phân hệ cơ cấu. Chỉ có thể làm rõ cơ cấu xã hội khi nghiên cứu đầy đủ
các chiều cạnh, các phân hệ cơ cấu của hệ thống xã hội. Cơ cấu xã hội
của một xã hội thường được phân tích theo nhiều lát cắt khác nhau.
Chẳng hạn, chúng ta có thể xem xét cơ cấu của một xã hội nhất định dựa
9 Khái niệm văn hóa “Tự điễn Triết học”, NXB Chính trị Matxcova, 1972.
18
trên phân tích các phân hệ cơ cấu của nó như: cơ cấu xã hội – giai cấp, cơ
cấu xã hội – lãnh thổ, cơ cấu xã hội – dân tộc, cơ cấu xã hội – nghề
nghiệp… Các phân hệ cơ cấu xã hội phản ánh tính đa dạng và phong phú
của cơ cấu xã hội. Trong hệ thống xã hội, mỗi phân hệ đều có vị trí, vai
trò và giữa chúng có mối quan hệ, lệ thuộc lẫn nhau. Song vị trí, vai trò
của các phân hệ cơ cấu không ngang bằng nhau. Trong các phân hệ cơ
cấu xã hội thì cơ cấu xã hội – giai cấp giữ vai trò trung tâm, sự thay đổi
của cơ cấu xã hội – giai cấp tất yếu sẽ dẫn đến sự biến đổi của các tiểu cơ
cấu khác.
-
Cơ cấu xã hội- giai cấp là cơ cấu xã hội được xem xét dưới góc độ giai
cấp, tầng lớp; là hệ thống các giai cấp, tầng lớp trong xã hội và những
giai cấp công nhân phát triển cả về số lượng và chất lượng. Giai cấp công
nhân không ngừng tiếp thu khoa học – công nghệ, nâng cao trình độ nghề
nghiệp, góp phần vào quá trình trí thức hóa công nhân, xuất hiện tầng lớp
công nhân tri thức.
-
Cơ cấu xã hội- lãnh thổ được nhận diện theo đường phân ranh giới về
lãnh thổ. Các vùng lãnh thổ có sự khác biệt nhất định về điều kiện sống,
trình độ sản xuất, đặc trưng văn hoá, mật độ dân cư, thiết chế xã hội cũng
như sự khác biệt về mức sống, thị hiếu tiêu dùng, phong tục tập quán…
Cơ cấu xã hội lãnh thổ thường được chia thành 2 loại là cơ cấu xã hội đô
thị và cơ cấu xã hội nông thôn. Ngoài ra người ta cũng có thể chia theo cơ
cấu vùng, miền, như: Đồng bằng sông Hồng, đồng bằng Nam bộ…
Nghiên cứu cơ cấu xã hội – lãnh thổ nhằm thấy được sự khác biệt giữa
các vùng, miền về trình độ phát triển sản xuất, kinh tế, văn hoá; Sự khác
biệt về lối sống, mức sống giữa các vùng miền. Nghiên cứu cơ cấu xã hội
– lãnh thổ để dự báo và kiến nghị các giải pháp kinh tế, xã hội phù hợp
cho từng vùng, miền để phát huy lợi thế, khắc phục mặt hạn chế của từng
20
vùng miền tạo động lực cho sự phát triển đồng đều kinh tế xã hội của đất
-
nước.
Cơ cấu xã hội- nghề nghiệp là sự phân chia dân số trong độ tuổi lao
động theo các nghề nghiệp khác nhau. Cơ cấu xã hội nghề nghiệp được
hình thành trước hết phụ thuộc vào trình độ phát triển của sản xuất và sự
phân công lao động xã hội. Nội dung nghiên cứu cơ cấu xã hội nghề
nghiệp bao gồm:
Tuy nhiên, sự phân biệt hai khái niệm này chỉ mang tính tương đối,
giữa chúng không có một đường phân ranh tuyệt đối, rạch ròi với nhau
mà luôn có sự thống nhất biện chứng với nhau.
Cơ cấu xã hội được xem xét như là sự thống nhất của hai mặt: các
thành phần xã hội và các quan hệ xã hội. Theo đó, tiếp cận hệ thống cũng
phân tích các yếu tố, những mối liên hệ cấu thành nên hệ thống đó.
Sự khác biệt giữa giác độ tiếp cận cơ cấu và hệ thống thể hiện ở khía
cạnh sau: tiếp cận cơ cấu nhấn mạnh đến hình thức tổ chức, kết cấu, cách
thức sắp xếp các bộ phận, các thành tố trong nội bộ một hệ thống. Tiếp
cận hệ thống lại nhấn mạnh đến tính chỉnh thể, toàn vẹn và sự thống nhất
bên trong của một kết cấu làm cho khối toàn vẹn đó tồn tại tương đối độc
lập với môi trường xung quanh. Tiếp cận hệ thống nhấn mạnh đến những
thuộc tính cơ bản của hệ thống như trật tự, cân bằng, ổn định, tích hợp,
thích nghi với môi trường. Nó không chỉ khảo cứu mối quan hệ bên trong
mà còn khảo cứu mối quan hệ bên ngoài.
Nghiên cứu cơ cấu xã hội của mỗi hệ thống xã hội phải đi sâu vào
phân tích kết cấu và các hình thức tổ chức bên trong của hệ thống. Do
vậy, khi nghiên cứu cơ cấu xã hội chúng ta không thể không nghiên cứu
hệ thống xã hội và ngược lại. Điều cần thiết rút ra ở đây về mặt phương
pháp luận là nghiên cứu cơ cấu xã hội trong mối liên hệ biện chứng với
hệ thống xã hội và nghiên cứu hệ thống xã hội cần hướng vào làm rõ cơ
cấu xã hội bên trong của nó. Đây là hai mặt của một cách tiếp cận hệ
22
thống - cơ cấu xã hội. Thừa nhận sự thống nhất biện chứng của cơ cấu xã
hội và hệ thống xã hội không có nghĩa là quy giản khái niệm này vào khái
niệm kia, đồng nhất cách tiếp cận này với cách tiếp cận kia hoặc đề cao
một cách tiếp cận này mà phủ nhận một cách tiếp cận khác. Nghiên cứu
cơ cấu xã hội từ giác độ xã hội học đòi hỏi phải uyển chuyển, mềm dẻo,
là lực lượng nền tảng, giữ vai trò lãnh đạo, tiên phong cho sự nghiệp xây
dựng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, giai cấp nông dân là lực lượng đông
24
đảo, lực lượng nền tảng sản xuất của thời kỳ này. Tuy nhiên, giai cấp hiện
nay có xu hướng giảm. Điều đó phản ánh cho xu thế chung của sự phát
triến xã hội hiện đại. Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội tầng lớp
trí thức là một lực lượng quan trọng và là tài sản quý, một động lực cơ
bản của sự phát triển đất nước, Đảng ta đã xác định khối liên minh công
– nông – trí là nền tảng của xã hội. Từ đó có những chính sách xây dựng
và đào tạo phát triển cả về số lượng và chất lượng nhằm đưa nước ta trở
thành nước công nghiệp hiện đại. Doanh nhân cũng là một bộ phận có vai
trò tích cực trong phát triển sản xuất, kinh doanh, giải quyết việc làm, giải
quyết vấn đề xã hội. Việc xác định được các thành phần, vai trò và chức
năng của từng thành phần giúp Đảng và nhà nước có những chủ trương
chính sách đúng đắn, tạo động lực phát triển đất nước.
- Thấy được quan hệ tương tác giữa các thành phần của cơ cấu xã
hội, hiểu rõ bản chất của các quan hệ đó dưới dạng các quy luật xã hội, từ
đó giải thích được hành vi của các cá nhân, các nhóm và toàn bộ xã hội
trong những thời gian và không gian cụ thể.
Ví dụ: Điều này tương đương với vai trò tương tác của các thành
phần trong xã hội, chẳng hạn sẽ không có hoạt động của thầy thuốc nếu
không có bệnh nhân, hay sẽ không có giáo viên mà không có học sinh,
v.v... Mặt khác, sự thực hiện vai trò được hoàn thành bởi sự tương tác với
tác nhân khác hoặc với các tác nhân khác. Như vậy, quyền của một tác
nhân đồng thời cũng là những nghĩa vụ về vai trò của đối tác của cá nhân
đó; ví dụ, người chồng được chăm sóc bởi người vợ: nấu ăn, giặt giũ,...,
người vợ khi thực hiện các công việc đó có quyền được hỗ trợ và những
quyền này lại là nghĩa vụ của người chồng