Ngoại giao văn hóa của việt nam nhìn từ góc độ quyền lực mềm - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THÁI GIAO THUỶ

NGOẠI GIAO VĂN HOÁ CỦA VIỆT NAM
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ QUYỀN LỰC MỀM

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUỐC TẾ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THÁI GIAO THUỶ

NGOẠI GIAO VĂN HOÁ CỦA VIỆT NAM
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ QUYỀN LỰC MỀM

Chuyên ngành: QUAN HỆ QUỐC TẾ
Mã số: 60 31 02 06
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUỐC TẾ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Trần Nam Tiến

Thành phố Hồ Chí Minh – 2015


LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin gửi đến PGS.TS Trần Nam Tiến, khoa Quan hệ quốc tế,

4.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……………………..……6

5.

Phương pháp nghiên cứu …………………………….………7

6.

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn …………………………………7

7.

Bố cục của luận văn …………………………………………8

Chương 1: LÝ LUẬN VỀ SỨC MẠNH MỀM VÀ NGOẠI

GIAO VĂN HÓA
1.1. Lý luận về Sức mạnh mềm (Soft Power)……………………9
1.1.1. Lịch sử ra đời và sự phát triển của Sức mạnh mềm….…9
1.1.2. Khái niệm Sức mạnh mềm trong Quan hệ quốc tế……….12
1.1.3. Biểu hiện của Sức mạnh mềm trong Quan hệ quốc tế......15
1.1.4. Vai trò của Sức mạnh mềm ……………….……………..…20
1.2. Ngoại giao văn hóa với tư cách là công cụ của Sức mạnh
mềm ở thế kỷ
XXI…………………………………………………………….…23
1.2.1. Khái niệm về Ngoại giao văn hóa………………….…...23
1.2.2. Vai trò của ngoại giao văn hóa……………………….…26
1.2.3. Ngoại giao văn hóa với tư cách là công cụ của Sức mạnh

3.1. Kết quả ..................................................................................80
3.1.1. Thành tựu …………………………………………….80
3.1.2. Hạn chế …………………………………………………..85
3.2. Tác động của các nước đến quá trình hội nhập của Việt Nam
đối với khu vực và thế giới ………………………………………89


3.2.1. Với ASEAN ………………………………………………89
3.2.2. Với các nước lớn ………………………………………91
3.2.3. Phần còn lại của thế giới………………………………94
3.3. Triển vọng ………………………………………….………...96
3.3.1. Dự báo …………………………………….……………96
3.3.2. Tình hình thế giới từ nay cho đến năm 2020…………..97
3.3.3. Ngoại giao văn hóa của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
...……........102
KẾT LUẬN ……………………………………………………..108
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………..111


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ACMECS

ADB
AIDS

APEC
ARF
ASEAN
ASEM
BỘ VHTTDL

Myanmar, and Vietnam
East Asia Summit

Ngân hàng phát triển châu Á
Hội chứng suy giảm miễn dịch
mắc phải

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á
Hội nghị Á -Âu
Bộ Văn hóa – thể thao – du lịch
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam
Hợp tác giữa 4 nước Cam-puchia, Lào, Myanmar và Việt Nam
Hội nghị thượng đỉnh Đông Á

United Nations
Economic and Social
Council
EU
European Union
FRANCOPHONIE Organisation
internationale de la
Francophonie
FTA
Free Trade Agreement

Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên
Hiệp Quốc



Quỹ Tiền tệ Quốc tế

NAFTA

North American Free
Trade Agreement

Hiệp định Thương mại Tự do Bắc
Mỹ

NATO

North Atlantic Treaty
Organization

Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây
Dương

ODA

Official development
Tổ chức hỗ trợ phát triển
assistance
purchasing power parity Tỉ giá sức mua

IMF
MERCOSUR
MGC


các Tiểu Vương Quốc Ả Rập
Thống Nhất
Liên Hợp Quốc

UNDP

United Nations
Development
Programme
United Nations
Educational, Scientific
and Cultural
Organization
Vietnam Union of
Friendship Organization

Chương trình Phát triển Liên Hợp
Quốc

World Bank

Ngân hàng thế giới

RCEP

SEAGAMES

UNESCO

VUFO

hỏi được nhiều điều hay, tiếp thu được nhiều điều tốt, chọn lọc được những tinh
hoa văn hóa của các quốc gia, dân tộc trên thế giới để làm giàu và phong phú
thêm bản sắc văn hóa Việt Nam, thực hiện đúng phương châm “Đưa văn hóa Việt
Nam ra thế giới và đưa văn hóa thế giới đến Việt Nam”. Đối với Việt Nam hiện
nay, tăng cường ngoại giao văn hóa là một trong những việc làm thiết thực để
góp phần thực hiện thắng lợi “đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp
tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội
nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một
nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên
có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc
lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”1. Mặt khác, thực hiện tốt các
hoạt động ngoại giao văn hóa còn tạo ra chất xúc tác thúc đẩy ngoại giao chính trị
và ngoại giao kinh tế không ngừng phát triển, hướng đến quảng bá mạnh mẽ nền
1

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2011, tr. 83-84.

1


văn hóa Việt Nam, nhất là quảng bá các giá trị di sản văn hóa của dân tộc ta đến
với bạn bè quốc tế.
“Ngoại giao văn hóa là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân”. Muốn thực hiện
thành công nhiệm vụ quan trọng này, việc nâng cao nhận thức, tư tưởng cho toàn
xã hội về vai trò to lớn của ngoại giao văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội
nhập kinh tế quốc tế. Song song đó, cần phải làm cho mọi người, mọi ngành, mọi
cấp có nhận thức đúng là: “Ngoại giao chính trị giữ vai trò định hướng, ngoại
giao kinh tế là nền tảng vật chất và ngoại giao văn hóa chính là nền tảng tinh
thần của hoạt động đối ngoại”2. Đây là “thế chân kiềng” mà thiếu một trong ba

công nghiệp, khi quyền lực thực sự của các quốc gia nằm trong khả năng sáng
tạo, sử dụng tri thức và công nghệ thông tin. Cuốn Quyền lực trong quan hệ quốc
tế-lịch sử và vấn đề (Nxb Văn hóa-Thông tin, Hà Nội, 2011) của tác giả Hòang
Khắc Nam đề cập sâu đến quyền lực và sử dụng quyền lực - vấn đề cốt lõi trong
quan hệ quốc tế, trong đó có quyền lực mềm, liên quan trực tiếp đến ngoại giao
văn hóa.
Đặc biệt, cuốn Ngoại giao văn hóa: Cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và
ứng dụng (Nxb Chính trị-Hành chính, Hà Nội, 2012) do tác giả Phạm Thái Việt
chủ biên đã đi sâu nghiên cứu làm rõ vai trò và chức năng của truyền thông đại
chúng và văn hóa đại chúng trong ngoại giao văn hóa, nhất là phân tích thực
trạng của việc sử dụng truyền thông cho ngoại giao văn hóa ở Việt Nam trên cơ
sở những phân tích thực tiễn ngoại giao văn hóa của một số quốc gia, lý thuyết
truyền thông và lý thuyết về văn hóa đại chúng và việc sử dụng các lý thuyết này
trong hoạt động ngoại giao văn hóa.
Về ngoại giao văn hóa trong chính sách đối ngoại Việt Nam đã có một số
công trình nghiên cứu như cuốn Định hướng chiến lược đối ngoại Việt Nam (Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011) do tác giả Phạm Bình Minh chủ biên phân tích
rõ các yếu tố cấu thành trường phái ngoại giao Việt Nam, trong đó có yếu tố văn
hóa. Cuốn Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp Đổi mới (1975-2002) (Học
viện Quan hệ quốc tế, Hà Nội, 2002) do Vũ Dương Huân chủ biên đã nêu một

3


cách đầy đủ, toàn diện về ngoại giao Việt Nam hiện đại, trong đó có những yếu tố
làm cơ sở cho việc hình thành ngoại giao văn hóa Việt Nam. Cuốn Chính sách
đối ngoại đổi mới của Việt Nam: 1986-2010 (Nxb Thế giới, Hà Nội, 2012) của
tác giả Phạm Quang Minh nêu những đổi mới về nhận thức, phương châm, hình
thức và cách tiếp cận trong 8 quan hệ đối ngoại của Việt Nam, cơ sở hình thành
ngoại giao văn hóa Việt Nam. Cuốn Giao thoa văn hóa và chính sách ngoại giao

hóa và chính trị, mối quan hệ giữa văn hóa truyền thống với sự phát triển, vấn đề
giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và mở cửa hội nhập, tiếp thu văn hóa
nhân loại. Cuốn Xây dựng nhân cách văn hóa: Những bài học kinh nghiệm trong
lịch sử Việt Nam (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2012) của học giả Hòang
Tuấn Anh và các nhà nghiên cứu Nguyễn Chí Bền, Từ Thị Loan, Vũ Anh Tú đã
phân tích những đặc trưng giá trị văn hóa tinh thần, nhân cách con người Việt
Nam, những yêu cầu đặt ra cho thời kỳ mới, xây dựng cơ sở nền tảng để phát huy
ngoại giao văn hóa. Ngoài ra, còn một số nghiên cứu, bài viết về ngoại giao văn
hóa cũng như là ngoại giao văn hóa trong chính sách đối ngoại Việt Nam trên các
báo, tạp chí chuyên ngành.
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nêu trên khá
đa dạng, là các tài liệu rất hữu ích để tham khảo về lý luận và thực tiễn, đồng thời
cũng là nguồn tham khảo rất có giá trị về phương pháp nghiên cứu cũng như cách
thức xử lý vấn đề đặt ra trong nội dung luận văn. Nhiều công trình nghiên cứu và
phân tích sâu về chính sách và thực tiễn ngoại giao văn hóa của Việt Nam, qua đó
cũng làm rõ những nhân tố tác động, những mục tiêu chiến lược mà chính sách
ngoại giao văn hóa của Việt Nam hướng tới. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay
chưa các công trình nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm, vị trí, vai trò, hoạt động,
xu hướng vận động của ngoại giao văn hóa trong đời sống chính trị của các quốc
gia trong quan hệ quốc tế đương đại nói chung, đối với Việt Nam nói riêng. Trên
cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu đi trước, luận văn “Ngoại giao văn
hóa của Việt Nam nhìn từ góc độ quyền lực mềm” sẽ góp phần bổ khuyết cho

5


những thiếu hụt nêu trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục đích của luận văn
Thông qua việc nghiên cứu vai trò của ngoại giao văn hóa - sức mạnh mềm

động của thế giới và khu vực đến quá trình hội nhập của Việt Nam như thế nào
và triển vọng phát triển của Việt Nam ra sao trong tương lai?
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng phương pháp quan hệ quốc tế kết hợp với các phương
pháp nghiên cứu truyền thống và liên ngành để luận giải và phân tích một số cơ
sở khoa học của các nguồn tài liệu nhằm hoàn thành tốt các mục tiêu tác giả luận
văn đã đề ra.
- Phương pháp phân tích: Căn cứ vào các cấp độ để phân tích ngoại giao
văn hóa trong quan hệ quốc tế ở thời kỳ Toàn cầu hóa.
- Phương pháp lịch sử: Thông qua việc xem xét sự vận động của lịch sử để
rút ra bài học kinh nghiệm cho các hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam.
- Phương pháp phân tích lợi ích: Phương pháp này sẽ làm rõ hơn về lợi ích
chính sách của nhà nước về ngoại giao.
- Phương pháp phân tích chính sách: Từ các chính sách đối nội, đối ngoại
của các nước sẽ giúp Việt Nam có các chiến lược để nâng cao vị thế của mình
trong các mối quan hệ quốc tế.
- Phương pháp xử lý thông tin: thu nhập và xử lý thông tin để nêu ra những
chính sách và hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam với các nước.
- Phương pháp quan sát: phương pháp này giúp cho người nghiên cứu thông
qua các phương tiện truyền tải thông tin trực tiếp hoặc gián tiếp để đưa ra một số
kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động ngoại giao văn hóa trong hội nhập quốc tế.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Góp phần nhận thức về những cơ sở lý luận, khái niệm của sức mạnh mềm
gắn quá trình Toàn cầu hóa và đặc biệt là gắn với quá trình hội nhập quốc tế của

7


Việt Nam thông qua việc tìm hiểu chính sách và quá trình triển khai chính sách
đối ngoại của Việt Nam.


LÝ LUẬN VỀ SỨC MẠNH MỀM VÀ NGOẠI GIAO VĂN HÓA
1.1. Lý luận về Sức mạnh mềm (Soft Power)
Sức mạnh mềm (Soft Power - còn gọi là Quyền lực mềm, Thực lực mềm) là
khả năng tác động đến người khác để đạt được kết quả mong muốn thông qua
cách cuốn hút, hấp dẫn họ thay vì ép buộc hay mua chuộc. Đối với một quốc gia,
sức mạnh mềm tồn tại ngay trong văn hóa, các giá trị và chính sách của quốc gia
đó. Một chính sách khôn khéo phải biết kết hợp cả hai nguồn sức mạnh cứng và
sức mạnh mềm như một công cụ quảng bá sức mạnh của một quốc gia và cũng là
một yếu tố cần thiết cho việc phát triển của quốc gia đó.3
1.1.1. Lịch sử ra đời và sự phát triển của Sức mạnh mềm
Bước vào thập niên 90 của thế kỷ XX tình hình thế giới đã có những thay
đổi quan trọng, mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp
đổ, Chiến tranh Lạnh kết thúc, thế giới dần có xu hướng chuyển từ đối đầu sang
đối thoại, hợp tác, cùng phát triển trong một thế giới Toàn cầu hóa… do đó mọi
ứng xử quốc tế cũng cần có sự thay đổi cho phù hợp. Tiếp theo là cuộc khủng
hoảng tài chính - tiền tệ châu Á 1997 làm cho kinh tế thế giới bước vào thời kỳ trì
trệ kéo dài, kéo theo sự suy sụp của các nền kinh tế “bong bóng” ở một số nước
như: Nhật Bản, Hàn Quốc… buộc những nước này cũng phải đi tìm con đường
mới để phát triển. Đây cũng chính là thời kỳ công nghệ thông tin và văn hóa đại
chúng phát triển mạnh, mở ra một thị trường sản xuất và tiêu thụ văn hóa rộng
lớn trên phạm vi toàn thế giới (ca nhạc, điện ảnh, truyền thông…).
Trong thời đại đối thoại thay cho đối đầu thì vai trò của sức mạnh quân sự
cũng dần thay đổi, vũ khí hạt nhân với sức mạnh huỷ diệt vô cùng tàn bạo có vai
trò răn đe đối phương nhưng không phải lúc nào cũng có thể được sử dụng trong
3

Joseph S. Nye Jr, Soft power: The Means to Success in World Politics, NY: Public Affairs, Perseus Book Group,
2004, tr.x.



10


đến trật tự quốc tế và nhiều nước trên thế giới. Nhìn ở góc độ sức mạnh mềm, Mỹ
đã tạo dựng khá thành công sức mạnh này trong thực hiện mục tiêu duy trì vị thế
siêu cường trên thế giới của mình và đặc biệt là trong quan hệ với các nước. Điển
hình như các giá trị, văn hóa, giáo dục Mỹ được các nước đón nhận thì chính
sách ngoại giao của Mỹ cũng sẽ tự nhiên được các nước này tiếp nhận. Những
năm 1990 của thế kỷ XIX, Hollywood, Coca Cola, Mc’Donald… ra đời và dần
giữ vai trò quan trọng trong xu thế toàn cầu hóa. Có thể nói, ngày nay, văn hóa
Mỹ đã có mặt tại hầu hết các nước trên thế giới, trở thành một phần tất yếu,
không thể thiếu trong cuộc sống của các nước này.
Sau Mỹ, với vai trò là nước Châu Á duy nhất trong G7 và sức mạnh kinh tế
vững mạnh Nhật Bản là một ví dụ sống động nhất với việc cố gắng gia tăng ảnh
hưởng văn hóa của mình theo hai phương thức là phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống của quốc gia này ra thế giới, tiếp thu thành tựu văn hóa từ bên ngoài
để xây dựng các giá trị mới và phát triển nền văn hóa của chính quốc gia đó. Ví
dụ như: hòa giải xung đột quốc tế ở Campuchia năm 1991, tham gia vào các
chiến dịch gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc…4
Mặc dù, sức mạnh mềm đã được các nước sử dụng nhiều trong quan hệ quốc
tế, nhưng trước đó chưa có nhà nghiên cứu nào nghiên cứu sâu về nó để có thể
đưa ra khái niệm về sức mạnh mềm. Phải đến năm 1990, Giáo sư Đại học
Harvard (Mỹ) là Joseph S. Nye lần đầu tiên đưa ra khái niệm “Sức mạnh mềm”
(Soft Power) trong cuốn sách Bound to Lead: The Changing Nature of American
Power (Nhất định lãnh đạo: diễn biến của bản chất sức mạnh nước Mỹ) và trong
bài viết Soft Power (Sức mạnh mềm) đăng trên Tạp chí Foreign Policy (Chính
sách đối ngoại). Tháng 4/2004, một tác phẩm mới của Joseph Nye ra đời với tựa
đề Soft Power: The Means to Success in the World Politics (Sức mạnh mềm: Con
đường giành thắng lợi trong chính trị thế giới) càng làm cho thế giới bàn luận sôi

không phải sức mạnh cưỡng chế của một quốc gia, có thể làm cho một người
khác tin phục đi theo mình, hoặc tin theo các tiêu chuẩn hành vi hay chế độ do
mình định ra để hành xử theo ý tưởng của mình. Ở mức độ rất lớn, sức mạnh
5

Joseph S.Nye Jr, “Soft Power”, Foreign Policy, No. 80, Twentieth Anniversary (Autumn, 1990), pp. 153-171.

12


mềm dựa vào sức thuyết phục của thông tin.”6
Sau đó, khái niệm sức mạnh mềm được nhiều người đón nhận và bàn luận
sôi nổi hơn trong quyển sách Soft Power: The Means to Success in World Politics
của Joseph S. Nye xuất bản năm 2004 tại New York. Trong tác phẩm này, ông đã
chia sức mạnh tổng hợp quốc gia thành hai loại hình: Sức mạnh cứng và Sức
mạnh mềm. Sức mạnh cứng được hiểu là tổng hòa các yếu tố chiếm vị trí chi
phối, bao gồm tài nguyên cơ bản (như diện tích đất đai, dân số, tài nguyên tự
nhiên), sức mạnh quân sự, sức mạnh kinh tế và sức mạnh khoa học-kỹ thuật, còn
sức mạnh mềm là sức mạnh hội tụ quốc gia, mức chấp nhận văn hóa và trình độ
tham dự tổ chức quốc tế, là sức mạnh để người khác làm theo ý muốn của mình
một cách tự nguyện, nó bắt nguồn từ sức thu hút của văn hóa và hình thái ý thức.
Ông khẳng định: “Sức mạnh mềm là khả năng đạt những điều mong muốn bằng
sức hấp dẫn hơn là sự ép buộc hay bằng các khoản mua chuộc, sức mạnh mềm
được tạo nên từ sức hấp dẫn của một quốc gia thông qua văn hóa, các tư tưởng
chính trị và các chính sách của quốc gia đó. Khi các chính sách của một quốc gia
được các quốc gia khác thừa nhận là hợp lý thì sức mạnh mềm của quốc gia đó
được nâng lên.”7
Sau Joseph S. Nye, nhiều học giả đã quan tâm nghiên cứu và đưa ra một số
khái niệm khác về sức mạnh mềm. Theo tác giả Kurlantzich: “Sức mạnh mềm là
khả năng một quốc gia thuyết phục và gây ảnh hưởng đối với nước khác không

không gian, thời gian thúc đẩy tiến bộ xã hội tác động đến lối sống, chuẩn mực
hành vi của con người. Trong quan hệ quốc tế hiện đại, nhiều loại sức mạnh mềm
tương tác lẫn nhau dẫn đến cạnh tranh. Tuy nhiên, sức mạnh mềm đồng thời hấp
dẫn và thúc đẩy lẫn nhau, học tập, mô phỏng lẫn nhau và tự điều chỉnh, đây chính
là một yếu tố tích cực của sức mạnh mềm.
Thứ ba, sức mạnh mềm có tính khả biến. Sức mạnh mềm mang tính động
chứ không tĩnh, là hệ thống thường xuyên thay đổi khác với tính dân tộc. Chẳng
hạn như: chiến lược quốc gia, ngoại giao, giáo dục, chiến lược chính phủ hay
quản lý nhà nước thường chỉ cần thời gian ngắn để hình thành và phát triển.
Thứ tư, là tính tương thuộc của sức mạnh mềm. Sức mạnh mềm có thể bổ
8

Joshua Kurlantzick, “The Decline of American Soft Power”, Current History, No. 104 (December 2005), pp.
419-424.
9
Havard Business Essential, “Power Influence and Persuation”, Havard Business Press, 2005, p. 8.
10
Vũ Dương Huân, Ngoại giao và công tác ngoại giao, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010, tr. 317.

14


sung và phát triển cùng với các đặc tính khác của một quốc gia. Vì vậy, các nước
đều sử dụng sức mạnh mềm trong việc xây dựng sức mạnh tổng hợp quốc gia.11
Qua các định nghĩa trên, có thể thấy sức mạnh mềm chỉ là một phần của sức
ảnh hưởng bởi vì sức ảnh hưởng còn có thể được tạo ra bằng sức mạnh cứng. Sức
mạnh mềm rộng hơn văn hóa vì văn hóa chỉ là một trong những nguồn quan
trọng tạo nên sức mạnh mềm. Sức mạnh mềm không chỉ là sức thuyết phục, mà
sức mạnh mềm là khả năng lôi cuốn và hấp dẫn khiến người khác tự nguyện quy
thuận và noi gương. Có thể khái quát một định nghĩa chung cho sức mạnh mềm

và phù hợp với đạo đức).12
Văn hóa là tài nguyên quan trọng hàng đầu và sức cạnh tranh văn hóa là nội
dung cốt lõi của sức mạnh mềm. Vì vậy, việc nhận diện sức mạnh mềm với văn
hóa, văn hóa bao gồm các giá trị và tập tục vốn đem lại ý nghĩa trong một xã hội,
văn hóa có nhiều biểu hiện khác nhau là vô cùng quan trọng. Thường văn hóa
được phân biệt thành văn hóa cao cấp như văn chương, nghệ thuật và giáo dục,
vốn rất thu hút giới trí thức, và văn hóa đại chúng vốn nhằm giải trí đại đa số
quần chúng.
Khi văn hóa của một quốc gia bao gồm những giá trị phổ quát và các chính
sách của họ quảng bá các giá trị và quyền lợi mà các quốc gia khác đồng chia sẻ,
nền văn hóa sẽ giúp gia tăng khả năng quốc gia đó có thể đạt được ước muốn của
mình thông qua các mối quan hệ mang tính thu hút và nghĩa vụ mà nó hình thành,
những giá trị hẹp hòi và các nền văn hóa cục bộ hiếm khi tạo ra được sức mạnh
mềm. Hoa Kỳ có lợi thế từ một nền văn hóa phổ quát, Josef Joffe nhà biên tập
người Đức đã từng đưa ra luận điểm là sức mạnh mềm của Hoa Kỳ còn rộng lớn
hơn cả các tài sản quân sự và kinh tế gộp lại. “Văn hóa Mỹ cho dù là bình dân
hay cao cấp, đều tỏa sáng mãnh liệt; điều này chỉ xảy ra trước đây dưới thời Đế
chế La Mã - nhưng ở đây có một khuynh hướng mới mẻ, thế lực về văn hóa của
La Mã và Liên Xô trước đây dừng lại tại biên giới quân sự của họ. Trong khi đó,
sức mạnh mềm của Hoa Kỳ thống trị trên một đế chế rộng lớn mà nơi đó mặt trời
không bao giờ lặn.”13
12

Joseph S. Nye (2004), “The Changing Nature of Power” (Chapter 1) in J.S. Nye, Soft Power: The Means to
Success in World Politics, New York: Public Affairs, pp. 1-32.
13
Joseph Joffe (2001), “Who’s Afraid of Mr Big?”, The National Interest, Summer 2001, p. 43.

16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status