MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi thực hiện chính sách “Đổi mới” về đường lối phát triển đất nước
trên con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), nước ta với những cố gắng không
ngừng trên tất cả các mặt trận từ chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, an ninh
quốc phòng đã ngày càng khẳng định tiếng nói và vị thế của mình trên trường
quốc tế.
Bước sang những năm đầu tiên của thế kỷ XXI, Việt Nam đang chứng
tỏ rõ ràng hơn cho cộng đồng thế giới thấy một Việt Nam mạnh mẽ vững
bước hội nhập vào cộng đồng thế giới với tinh thần “là bạn, là đối tác tin
cậy” của tất cả các nước trong khu vực và trên thế giới. Chúng ta đã trở thành
thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào năm 2006, là
Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 20082009, là thành viên tích cực của các tổ chức khu vực như ASEAN, ASEM,
APEC… và nhiều tổ chức quốc tế khác. Đời sống nhân dân trong nước không
ngừng được nâng cao, mức sống của người dân tăng lên đáng kể cùng với nền
kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao trong nhiều năm liên tiếp. Tất cả những
thành tựu đó đã khiến đất nước ta vững vàng hơn trong xu thế toàn cầu hóa
mạnh mẽ của thế kỷ XXI.
Tuy vậy, điều này đã đặt ra nhiều thách thức cho Đảng và Nhà nước,
đặc biệt là trong đường lối đối ngoại; khi quan hệ Việt Nam và bạn bè quốc tế
mở rộng cũng đồng nghĩa với việc ta phải đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp.
Làm sao để đạt được hiệu quả đối ngoại cao nhất, đó là câu hỏi của các cấp,
các ngành trong công cuộc đổi mới. Trong hoàn cảnh mới, Đảng ta xác định,
“thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình và hữu nghị”, “mở rộng quan hệ
với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình” [24], “Việt Nam là
bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực
vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực” [25].
Để thực hiện được điều này cùng với xu thế hội nhập quốc tế ngày càng
tục hoàn thiện Dự thảo Đề án chiến lược công tác thông tin đối ngoại đến năm
2020. Một trong 8 đề án chuyên sâu tập trung của Đề án này đó là tăng cường
và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa đối ngoại. Như vậy, để tăng
cường công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới, việc nâng cao vai trò
và chất lượng của những sản phẩm văn hóa đối ngoại là thực sự cần thiết. Tại
Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng
về đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại, ngày 14/3/2008, Phó
Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm cũng đã nói rằng để
nâng cao hiệu quả công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới, phải tập
trung xây dựng các chương trình, chiến dịch thông tin lớn cả trong và ngoài
nước cùng với việc đa dạng hóa các hình thức, phương tiện thông tin, nâng
cao chất lượng, nội dung các sản phẩm thông tin đối ngoại. Điều đó thể hiện
rằng, việc nâng cao chất lượng nội dung các sản phẩm thông tin đối ngoại,
đặc biệt là sản phẩm về văn hóa, cũng là một trong những mục tiêu trọng
điểm của Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhằm tăng cường công tác đối
ngoại nói chung và công tác thông tin đối ngoại nói riêng trong tình hình mới.
Từ việc xác định được vai trò to lớn của văn hóa trong tiến trình phát
triển đất nước nói chung cũng như các mối liên hệ quốc tế nói riêng, Đảng và
Nhà nước ta đã xác định người làm công tác thông tin đối ngoại phải biết làm
văn hóa, phải nâng hàm lượng văn hóa lên. “Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát
triển văn hoá, văn nghệ, bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá với phát
triển du lịch và hoạt động thông tin đối ngoại nhằm truyền bá sâu rộng các
giá trị văn hoá trong công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ và người nước ngoài.
Xây dựng và thực hiện các chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá, ngôn
ngữ, chữ viết các dân tộc thiểu số. Xây dựng và thực hiện các chính sách, chế
độ đào tạo, bồi dưỡng, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, tạo điều kiện để
đội ngũ những người hoạt động văn hoá, văn học, nghệ thuật sáng tạo nhiều
tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật” [12]. Đẩy mạnh các hoạt
cao, ngày càng khó khăn của quá trình hội nhập quốc tế, của sự nghiệp đổi
mới đất nước. Để thực hiện điều này được kịp thời và có hiệu quả cao, rất cần
có sự chủ động, kịp thời vào cuộc của các phương tiện truyền thông đại
chúng.
Báo Vietnam news là một tờ báo trực thuộc Thông tấn xã Việt Nam,
được phát hành bằng ngôn ngữ tiếng Anh hàng ngày; Báo Ảnh Việt Nam (với
8 ngôn ngữ: Việt, Trung, Nga, Anh, Pháp, Nhật, Tây Ban Nha, Lào; trong
giới hạn luận văn này, tác giả khảo sát ngôn ngữ tiếng Việt) và báo Thế
giới&Việt Nam (ấn phẩm thuộc Bộ Ngoại giao Việt Nam) là ba trong số
những ấn phẩm tiêu biểu trực tiếp làm công tác thông tin đối ngoại của nước
ta. Vì vậy nên qua việc nghiên cứu đề tài“Thông tin đối ngoại về văn hóa
trên báo chí” (qua nghiên cứu, khảo sát báo Vietnam news, Báo ảnh Việt
Nam và báo Thế giới&Việt Nam), tác giả muốn có cái nhìn rõ nét hơn về thực
trạng công tác thông tin đối ngoại về văn hóa trên báo chí ở Việt Nam hiện
nay đồng thời một lần nữa khẳng định hiệu quả truyền thông báo chí trong
công tác thông tin đối ngoại về văn hóa của Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, hoạt động thông tin đối ngoại ngày càng được chú trọng,
cùng với đó việc nghiên cứu, phân tích về những hoạt động này cũng được
quan tâm triển khai. Tầm quan trọng của thông tin đối ngoại và thông tin đối
ngoại về văn hóa được nhắc đến rất nhiều trên các tạp chí chuyên ngành, các
ấn phẩm báo chí, các trang báo, các website…
Thông tin đối ngoại chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ của những
người quản lý, qua các bài phát biểu, báo cáo tổng hợp của các cơ quan, tổ
chức đang trực tiếp phụ trách các mảng công tác thông tin đối ngoại khác
nhau. Trong số đó, đáng chú ý là các bài phát biểu của đồng chí Vũ Khoan–
nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, nguyên Trưởng ban chỉ đạo công tác thông
tin đối ngoại- “Một số trọng tâm công tác thông tin đối ngoại”, của đồng chí
Những đề tài, bài viết nghiên cứu chuyên sâu đề cập đến những vấn đề
cụ thể khác nhưng chưa có một đề tài cụ thể nào nghiên cứu chuyên sâu và
khoa học đề cập đến vai trò của hoạt động thông tin đối ngoại về văn hóa trên
báo chí. Kế thừa những thành quả nghiên cứu của các tác giả trước, tác giả đề
tài đi sâu nghiên cứu về “Thông tin đối ngoại về văn hóa trên báo chí” (qua
nghiên cứu, khảo sát báo Vietnam news, báo ảnh Việt Nam và báo Thế
giới&Việt Nam).
3. Mục đích, nhiệm vụ
3.1.
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở trình bày về thực trạng hoạt động thông tin đối ngoại về văn
hóa trên báo chí ở Việt Nam hiện nay cũng như bài học kinh nghiệm ở một số
nước, đề tài đề xuất một số phương hướng và giải pháp cho hoạt động này
thời gian tới.
3.2.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa những khái niệm, vấn đề lý luận chung về thông tin, thông
tin đối ngoại, báo chí, văn hóa, hiệu quả thông tin đối ngoại, quan điểm của
Đảng và Nhà nước ta về thông tin đối ngoại.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng về hiệu quả hoạt động thông tin
đối ngoại về văn hóa trên báo Vietnam news, báo ảnh Việt Nam và báo Thế
giới&Việt Nam.
- Nêu phương hướng và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao
hiệu quả trạng hoạt động này trong giai đoạn hiện nay.
+ Phê phán những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù
địch
+ Tuyên truyền những vấn đề quốc tế
4.3.
Phạm vi thời gian
• Phạm vi không gian: Thực hiện tại Hà Nội
• Phạm vi thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2012 đến tháng 6/2012
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
- Nền tảng xuyên suốt luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử; nhất là khi phân tích cần phải tuân theo các quy luật
khách quan của cuộc sống, thực tiễn, cụ thể là các yêu cầu mới của cách
mạng, báo chí, công chúng.
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai
trò của báo chí đối với cách mạng, vai trò của công tác tổng kết thực tiễn,
kinh nghiệm; quan hệ giữa lý luận và thực tiễn.
- Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về thông tin đối
ngoại, văn hóa, ngoại giao văn hóa, vai trò của báo chí với thông tin tuyên
truyền văn hóa; về chức năng, nhiệm vụ của báo Vietnam news, báo Ảnh Việt
Nam và báo Thế giới&Việt Nam.
- Cơ sở lý luận báo chí, truyền thông hiện đại đối với loại bài viết thông
tin tuyên truyền về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng; bài viết
nghiên cứu, tổng kết thực tiễn nhằm đặt vấn đề mới cho lý luận.
5.2Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu (theo cả định tính và định lượng). Sử
dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu: phân tích tác phẩm, thống kê, so
khảo phục vụ chuyên môn.
- Phục vụ các cơ quan, đơn vị có nhu cầu tìm hiểu về thông tin tuyên
truyền đối ngoại, vai trò của văn hóa đối với công tác thông tin đối ngoại.
- “Đưa nội dung ngoại giao văn hóa vào giảng dạy một cách phù hợp
tại một số trường Đại học chuyên ngành như Học viện Ngoại giao, Đại học
Văn hóa, Học viện Báo chí và tuyên truyền và các trường có chuyên ngành
liên quan nhằm nâng cao kiến thức của sinh viên, thanh niên đối với công tác
ngoại giao văn hóa [53] là một trong những mục tiêu quan trọng của Đề án về
chiến lược ngoại giao văn hóa đến năm 2020 của Thủ tướng chính phủ.
Là giảng viên khoa Quan hệ quốc tế - Học viện Báo chí & Tuyên
truyền nên quá trình nghiên cứu luận văn cũng giúp người thực hiện đề tài
nâng cao hơn năng lực nhận thức và khả năng hoạt động trong chuyên môn
của mình. Cần nhấn mạnh hơn nữa là nội dung ngoại giao văn hóa là một
trong những khía cạnh quan trọng của Thông tin đối ngoại về văn hóa (sẽ
phân biệt cụ thể trong chương 1)
7. Kết cấu đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Phụ lục, đề tài gồm có 3 chương và 10tiết
CHƯƠNG 1
HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI VỀ VĂN HÓA
TRÊN BÁO CHÍ – NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN
1.1Thông tin đối ngoại
1.1.1 Khái niệm Thông tin
Thông tin là một khái niệm tưởng như rất quen thuộc trong cuộc sống,
tuy nhiên, xung quanh vấn đề định nghĩa thông tin đã nảy sinh nhiều cuộc
thảo luận, tranh cãi bởi cách tiếp cận vấn đề ở những góc độ, quan điểm khác
công tác thông tin đối ngoại, đó là: Thông tin là tin tức, thông báo, tri thức về
một sự vật hay một hiện tượng được chứa đựng trong các hình thức nhất định,
được tiếp nhận, lựa chọn và sử dụng qua các phương thức thích hợp.
1.1.2 Khái niệm “Thông tin đối ngoại”
Cho đến nay, cũng chưa có định nghĩa thống nhất về thông tin đối
ngoại. Có thể hiểu thông tin đối ngoại theo các cách tiếp cận sau:
- Thông tin đối ngoại là một dạng thông tin, được hiểu là tin tức, là
thông báo, là tri thức về một sự vật hay một hiện tượng được chứa đựng trong
các hình thức nhất định, được tiếp nhận, lựa chọn và sử dụng trong công tác
đối ngoại. Thông tin đối ngoại bao gồm những thông tin trong nước và quốc
tế được dùng trong quá trình hoạt động đối ngoại.
- Theo Wikipedia, “Thông tin đối ngoại là những hoạt động chủ động
cung cấp thông tin có định hướng để giới thiệu, phổ biến, quảng bá… về một
đối tượng cụ thể (một đất nước, một tổ chức, nhóm người, cá nhân..) nhằm
mục đích gây thiện cảm, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các nhân tố bên
ngoài hoặc để đối phó, phản bác đối với những thông tin sai lệch, gây bất lợi.
Hoặc theo một cách hiểu khác, Thông tin đối ngoại là những tin tức, sự
kiện… được cung cấp mang tính ngoại giao và ứng đối với bên ngoài” [56].
- Thông tin đối ngoại là một lĩnh vực hoạt động: “Thông tin đối ngoại
là một bộ phận rất quan trọng của công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta,
mục đích làm cho các nước, người nước ngoài (bao gồm cả người nước ngoài
đang sinh sống, công tác tại Việt Nam, người Việt Nam đang sinh sống và
làm việc ở nước ngoài hiểu về đất nước, con người Việt Nam, đường lối, chủ
trương chính sách và thành tựu đổi mới của ta, trên cơ sở đó tranh thủ sự ủng
hộ của nhân dân thế giới, sự đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [54].
Như vậy, thông tin đối ngoại không chỉ là sự truyền thông tin đối ngoại,
mà còn là hoạt động mang tính tổng hợp, có tính tác động hai chiều. Phạm vi
dân hiểu đúng tình hình trong nước cũng như quốc tế.
1.1.4 Nhiệm vụ, đối tượng, phương châm, lực lượng hoạt động thông tin
đối ngoại
• Nhiệm vụ
Nhiệm vụ chủ yếu của thông tin đối ngoại là làm cho bạn bè thế giới
(bao gồm cả người nước ngoài đang sinh sống ở Việt Nam và người Việt
Nam đang sinh sống ở nước ngoài) hiểu rõ hơn về đường lối đối ngoại của ta,
những thành tựu đổi mới đất nước, nét đặc sắc của văn hóa và con người Việt
Nam, từ đó tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới, sự đóng góp của cộng
đồng người Việt Nam ở nước ngoài cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc… Vì thế, cùng với yêu cầu phát triển chung của đất nước, lực lượng và
địa bàn thông tin đối ngoại tiếp tục được mở rộng.
Nhiệm vụ thông tin cũng ngày càng được bổ sung, được luật hóa trong
nhiều công cụ thông tin. Điều 6 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Báo chí năm 1999 đề cập đến 6 nhiệm vụ của báo chí, trong đó 3 nhiệm vụ
được quy định ở đây liên quan đến nội dung thông tin đối ngoại, đó là:
“- Thông tin trung thực về tình hình trong nước và thế giới phù hợp với
lợi ích của đất nước và của nhân dân;
- Tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước
và thế giới theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí;
- Mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc, tham gia
vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và
tiến bộ xã hội”.
Nội dung bảo vệ lợi ích của đất nước, lợi ích của nhân dân mang tính
đặc thù quan trọng hàng đầu trong các hoạt động đối ngoại nói chung và
tuyên truyền đối ngoại qua báo chí nói riêng. Các loại hình báo chí nói chun
hoạt động theo ton chỉ mục đích của mình đều có trách nhiệm đối với các
- Người nước ngoài sinh sống, làm việc, học tập, du lịch ở Việt Nam
Đó là những người nước ngoài đang làm việc trong các đoàn ngoại
giao, đại diện các tổ chức chính phủ nước ngoài, các tổ chức quốc tế, tổ chức
phi chính phủ quốc tế, giới đầu tư kinh doanh, chuyên gia nước ngoài trong
các lĩnh vực, phóng viên thường trú các cơ quan thông tấn, báo chí, các đoàn
khách viếng thăm, du lịch, lưu học sinh nước ngoài… Những ấn tượng tốt đẹp
của họ về đất nước và con người Việt Nam là một lời quảng cáo quý giá về
hình ảnh của Việt Nam.
Ngoài ra, những phóng viên nước ngoài thường trú tại Việt Nam, đội
ngũ doanh nhân đang làm ăn, sinh sống tại Việt Nam, cán bộ các đại sứ quán,
các cơ quan đại diện nước ngoài và quốc tế tại Việt Nam,… cũng là đối tượng
quan trọng, vì những thông tin do họ “phát lại” ở nước ngoài thường có độ tin
cậy cao. Do vậy, nhiệm vụ của thông tin đối ngoại là cung cấp cho họ thông
tin về đường lối, chủ trương, chính sách của Việt Nam, về các sự kiện quan
trọng, tình hình toàn diện của Việt Nam càng đầy đủ, càng chính xác, càng
kịp thời càng tốt.
- Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
Đây là nhóm đối tượng rất đông đảo, đa dạng và phong phú vói khoảng
4,5 triệu người, đang sinh sống và làm việc ở 104 nước và vùng lãnh thổ. Họ
ra nước ngoài vì nhiều lý do và bằng nhiều con đường khác nhau, nơi họ có tổ
tiên, quê hương, gia đình, người thân, bạn bè… Khi những người này hiểu
đúng tình hình đất nước họ sẽ tự tin hơn, mạnh dạn hơn trong quan hệ với
nước sở tại và trở thành lực lượng làm thông tin đối ngoại ngay tại nơi họ cư
trú.
- Nhân dân trong nước
Đây là lực lượng vừa thực hiện, vừa là đối tượng hướng tới của công
tác thông tin đối ngoại. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, như cầu thông tin
quốc tế của nhân dân trong nước ngày càng tăng. Thông tin đối ngoại có
nắm bắt nhu cầu thông tin cũng như tổ chức phương tiện truyền tải thông tin.
Địa bàn trong nước là nơi sinh sống, làm việc, kinh doanh và học tập,
du lịch của rất nhiều người nước ngoài. Thông tin đối ngoại tại chỗ có rất
nhiều thuận lợi về phương tiện truyền tải, nhưng rất khó khăn về định hướng
thông tin. Ranh giới giữa thông tin đối ngoại và thông tin đối nội ngày càng
giảm bớt ý nghĩa. Các báo chí, ấn phẩm đối ngoại (bằng tiếng nước ngoài) chỉ
có ý nghĩa tăng thêm một số đối tượng, trong khi báo chí đối nội (bằng tiếng
Việt) mới thực sự là nguồn thông tin chủ yếu và quan trọng để các đối tượng
nước ngoài khai thác, sử dụng và đưa tin về Việt Nam. Ở địa bàn trong nước,
thông tin đối ngoại cần phối hợp với thông tin đối nội để đàm bảo hiểu quả
của cả hai tuyến thông tin này.
- Tổ chức, phối hợp và phát huy sức mạnh tổng hợp lực lượng làm công
tác thông tin đối ngoại.
Do đối tượng của thông tin đối ngoại hoàn toàn khác với thông tin đối
nội nên phương pháp thông tin cũng khác, tùy theo đối tượng, nội dung và
thời điểm. Công tác thông tin đối ngoại cần hướng tới:
- Cung cấp thông tin: Vấn đề mấu chốt của công tác thông tin đối ngoại
là thông tin. Cung cấp thông tin đầy đủ sẽ tạo ra nhiều lợi thế cho việc vận
động dư luận. Cụ thể, cần cung cấp thông tin đầy đủ, tránh được những thông
tin sai lệch về đất nước, về chính sách của Việt Nam; cung cấp quan điểm
cũng như cách nhìn nhận sự việc của Việt Nam; chủ động mới xác định được
số lượng thông tin cần cung cấp, phân loại thông tin và thời điểm cung cấp
thông tin thích hợp.
- Tính thuyết phục: Thực tế cho thấy, thông tin đối ngoại cần phải có
sức thuyết phục. Thuyết phục là một quy trình, trong đó người nói hoặc người
viết sử dụng lý lẽ và lập luận khiến người nghe hoặc người đọc chấp nhận
quan điểm của mình về một vấn đề nào đó, hay đồng tình với cách xử lý của
mình. Để thuyết phục thành công, người làm công tác thông tin đối ngoại cần
1.2.1 Tổng quan về “Văn hóa”
Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của
xã hội loài người. Ở phương Đông, từ văn hóa đã có trong đời sống ngôn ngữ
từ rất sớm. Tuy nhiên, vào thế kỷ XIX thuật ngữ “văn hóa” mới được những
nhà nhân loại học phương Tây sử dụng như một danh từ chính. Theo ông
E.B.Taylo, văn hóa là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ
thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà
con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội.
Ở thế kỷ XX, theo A.L.Kroibo và C.L.Klúchôn, quan niệm văn hóa là
hành vi rõ ràng và ám thị đã được đúc kết và truyền lại bằng biểu tượng, nó là
thành quả độc đáo của nhân loại khác với các loại hình khác, trong đó bao
gồm cả đồ tạo tác do con người làm ra.
Năm 1871, E.B. Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo
nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ
thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được
con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [28].
Ở Việt Nam, văn hóa cũng được định nghĩa rất khác nhau. Hồ Chí
Minh cho rằng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người
mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa
học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về
mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh
đó tức là văn hóa” [29]. Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ
những gì do con người sáng tạo và phát minh ra. Cũng giống như định nghĩa
của Tylor, văn hóa theo cách nói của Hồ Chí Minh sẽ là một “bách khoa toàn
thư” về những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người. Phạm Văn Đồng
cho rằng “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng
lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến
con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên
khác: văn hóa là cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử
và cả đức tin, tri thức được tiếp nhận...
Trong khuôn khổ luận văn này, văn hóa được tác giả đề cập đến ở các
khía cạnh sau: Điện ảnh; nghệ thuật biểu diễn; truyền thống văn hóa và mỹ
thuật, nhiếp ảnh, triển lãm.
1.2.2 Thông tin đối ngoại về văn hóa
Thông tin đối ngoại về văn hóa là thông qua việc sử dụng các “sản
phẩm văn hóa” như tác phẩm điện ảnh; chương trình nghệ thuật biểu diễn; ẩm
thực, truyền thống văn hóa và mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm, tuần lễ văn hóa
Việt Nam ở nước ngoài… để tuyên truyền đường lối đối ngoại của Đảng và
Nhà nước, quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, phê phán
những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch và thông tin
những vấn đề văn hóa thế giới đến nhân dân, chính phủ các nước trên thế
giới, những người nước ngoài sinh sống, làm việc, học tập, du lịch ở Việt
Nam, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và nhân dân trong nước, qua
đó tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ của các đối tượng này.
Tuy nhiên cần phân biệt rõ khái niệm thông tin đối ngoại về văn hóa và
khái niệm Ngoại giao văn hóa.
1.23 Ngoại giao văn hóa
Nhà nghiên cứu Zhulite Antonius Sarborosi đại học Georgetown Mỹ
cho rằng “Ngoại giao văn hóa là sự đầu tư mang tính lâu dài được tiến hành
nhằm thúc đẩy quan hệ giữa nhân dân ta với nhân dân các nước khác nhằm
thúc đẩy hiểu biết hai bên, để nhân dân các nước khác hiểu hơn về lợi ích và
chính sách quốc gia của chúng ta” [44].
Cựu ngoại trưởng Mỹ George P. Shultz quan niệm “chúng ta nhổ cỏ từ
khi mới nhú, chúng ta xây dựng lòng tin và sự hiểu biết lẫn nhau để tạo nền
tảng vững vàng cho việc giải quyết mọi khủng hoảng phát sinh”. Theo cách ví
von này ngoại giao văn hóa là việc gieo mầm, thông qua việc trao đổi ý tưởng