Công tác thông tin đối ngoại của việt nam qua hoạt động của nhà xuất bản ngoại văn – thế giới - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------

PHẠM TRẦN LONG

CÔNG TÁC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI CỦA
VIỆT NAM QUA HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ XUẤT
BẢN
NGOẠI VĂN-THẾ GIỚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Mã số: 60 31 02 06

HÀ NỘI, 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------

PHẠM TRẦN LONG

CÔNG TÁC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI CỦA
VIỆT NAM QUA HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ XUẤT
BẢN
NGOẠI VĂN-THẾ GIỚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC


27

Chương 2: CÔNG TÁC TTĐN QUA THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG

32

CỦA NHÀ XUẤT BẢN NGOẠI VĂN-THẾ GIỚI
2.1. Công tác TTĐN qua thực tiễn hoạt động của Nhà xuất bản (NXB)

32

Ngoại văn–Thế Giới
2.1.1. Khái quát về bối cảnh thành lập NXB

32

2.1.2. Các giai đoạn hoạt động của NXB Ngoại văn–Thế Giới

34

2.2. Xuất bản phẩm của NXB Ngoại văn–Thế Giới phục vụ công tác

49

TTĐN
2.2.1. Chính trị, thời cuộc

51


3.1.3. Phân loại địa bàn cần tác động

75

1


3.1.4. Cách chọn đề tài và thể hiện nội dung

78

3.1.5. Yêu cầu đối với biên tập viên, biên dịch viên

81

3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TTĐN qua xuất bản

84

phẩm
3.2.1. Giải pháp về nhận thức và chính sách

84

3.2.2. Đào tạo nguồn nhân lực

86

3.2.3. Cơ sở vật chất


to lớn trong việc xây dựng hình ảnh một đất nước Việt Nam hòa bình, năng động,
giàu tiềm năng, một đất nước sẵn sàng “là bạn, là đối tác tin cậy” của tất cả các
nước trong cộng đồng thế giới.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 11 năm 2011 một lần nữa khẳng định Việt
Nam: “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác
và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập
quốc tế… là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc
tế…” Công tác TTĐN ngày càng tỏ rõ vai trò quan trọng khi Việt Nam đang dần
dần thu hút được mối quan tâm của bạn bè quốc tế, nhất là giới doanh nhân và
khách du lịch, cũng như bộ phận kiều bào ta ở nước ngoài–một bộ phận không tách
rời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Nhất là trong bối cảnh hiện nay một số
thế lực thù địch vẫn âm mưu diễn biến hòa bình chống phá công cuộc đổi mới của
Việt Nam.
Nhìn tổng thể, công tác TTĐN là một hoạt động đặc biệt trong lĩnh vực văn
hóa-tư tưởng, có tác động lớn đến tâm lý, có sức lay động con tim khối óc, làm thay

3


đổi nhận thức của con người. Công tác TTĐN cũng là một môn khoa học, một môn
nghệ thuật để làm sao tiếp cận được các đối tượng khác nhau, dùng những thông tin,
chứng cứ, lý lẽ để tác động vào trái tim, khối óc của đối tượng, làm thay đổi định
kiến của họ – nếu họ chưa có thiện cảm với ta – hoặc tranh thủ sự ủng hộ, đồng tình
của những người vốn là bạn của ta. Đồng thời, TTĐN cũng nhằm trình bày một
cách xác thực, sống động tình hình, sự phát triển của đất nước, nhằm chống lại luận
điệu bóp méo, xuyên tạc với dụng ý xấu của các thế lực thù địch. TTĐN góp phần
đấu tranh dư luận, trình bày quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta.
Có một số cách hiểu về TTĐN, nhưng theo Quy chế Quản lý nhà nước về
thông tin đối ngoại ban hành kèm theo Quyết định 79/2010 của Thủ tướng Chính
phủ, TTĐN được hiểu là “thông tin quảng bá hình ảnh quốc gia, đất nước, con

xuất bản phẩm. Bên cạnh đó, nó góp phần dựng lại một góc nhìn về sự phát triển
công tác TTĐN ở Việt Nam, thể hiện qua quá trình hoạt động của Nhà xuất bản
Ngoại văn–Thế Giới, gắn liền với sự phát triển của đường lối đối ngoại Việt Nam.
Trên cơ sở đó, những khảo sát và kết luận trong luận văn có thể phục vụ và hoàn
thiện tiếp ngành TTĐN với tư cách là một lĩnh vực đặc thù có quan hệ mật thiết với
văn hóa-tư tưởng và đối ngoại-ngoại giao, và phục vụ cho đào tạo chuyên ngành
Thông tin đối ngoại. Luận văn có thể trở thành tài liệu tham khảo, cung cấp một số
tri thức, kinh nghiệm và kỹ năng cho những người trực tiếp làm công tác TTĐN qua
ấn phẩm sách báo, công việc thực tiễn hiện tại của NXB Thế Giới. Nó cũng có thể
sử dụng để xây dựng nội dung đào tạo, huấn luyện giảng dạy ở các khoa, trường,
đơn vị có liên quan đến công tác xuất bản, báo chí hay TTĐN.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến hiện tại, cơ sở phương pháp luận về TTĐN nói chung đã bước đầu
được nghiên cứu, đúc rút, tổng kết, hệ thống hóa một cách bài bản. Tuy nhiên, kinh
nghiệm làm TTĐN bằng xuất bản phẩm nói riêng vẫn được chia sẻ, trao truyền
thông qua công việc, hay tác nghiệp trực tiếp. Có thể kể đến một số công trình
nghiên cứu đã công bố ở trong và ngoài nước như: Thông tin đối ngoại của Đảng và
Nhà nước ta trong tình hình mới của Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương; Tổng
quan truyền thông quốc tế – Dành cho người làm công tác thông tin đối ngoại của
PGS. TS. Lê Thanh Bình; các bài viết đã đăng trên Tạp chí Cộng sản, Tạp chí
Thông tin đối ngoại, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông; một số luận văn

5


thạc sĩ về công tác thông tin đối ngoại, một số bài viết đơn lẻ của Nguyễn Khắc
Viện, Hữu Ngọc, Hoàng Nguyên, v.v... Đặc biệt phải kể đến hệ thống các công
trình và bài viết của PGS. TS. Phạm Minh Sơn như: Đặc điểm, yêu cầu công tác
thông tin đối ngoại của Quốc hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Lý
luận chính trị và Truyền thông, số 9/2014; Thông tấn báo chí – Lý thuyết và kỹ năng

công tác TTĐN qua xuất bản phẩm.
Nhiệm vụ của luận văn: Làm rõ cơ sở phát triển nhận thức về công tác
TTĐN, đánh giá việc NXB Ngoại văn (Thế Giới) vận dụng nhận thức đó vào công
việc được giao từ khi thành lập đến nay, cả về thành tựu và hạn chế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác TTĐN của Việt Nam qua
khảo sát hoạt động của NXB Ngoại văn–Thế Giới từ khi thành lập năm 1957 đến
thời điểm hiện tại là năm 2014, nhằm bước đầu nghiên cứu, tổng kết, đúc rút và
khái quát hóa cơ sở lý luận và những nguyên lý của công tác TTĐN qua xuất bản
phẩm, đồng thời đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công
tác TTĐN qua xuất bản phẩm trong tình hình mới.
5. Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn bám sát phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa
duy vật biện chứng Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những nhận định, quan
điểm của Đảng và Chính phủ về TTĐN. Luận văn vận dụng phương pháp nghiên
cứu quan hệ quốc tế, phương pháp khảo sát, phân tích, tổng hợp, đánh giá, hệ thống
hóa tư liệu, v.v…
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chương chính.
Chương 1: Nhận thức chung về công tác TTĐN ở Việt Nam.
Chương 2: Công tác TTĐN qua thực tiễn hoạt động của NXB Ngoại văn–
Thế Giới.
Chương 3: Một số nguyên tắc chung và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt
động TTĐN qua xuất bản phẩm của NXB Ngoại văn–Thế Giới.

7


Chương 1



vấn đề nảy sinh trong những hoàn cảnh và điều kiện cụ thể. Về lý thuyết, chính sách
đối ngoại là một bộ phận của chính sách quốc gia nói chung. Trong học thuyết về
nhà nước của chủ nghĩa Marx-Lenin, chính sách đối ngoại của Nhà nước được coi
là sự tiếp tục của chính sách đối nội. Tuy nhiên trên thực tế, không có ranh giới tách
biệt giữa chính sách đối nội và đối ngoại, và giữa chúng có mối quan hệ tương hỗ
nhau rất lớn vì chúng cùng là sản phẩm của một hệ thống chính trị. Xuất phát từ lợi
ích của Nhà nước, chính sách đối ngoại cụ thể hóa những đường hướng hoạt động
chính của Nhà nước trong quan hệ quốc tế ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Cách
hiểu này cho thấy, trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, mỗi nước có những nhu
cầu và ưu tiên khác nhau. Chính sách đối nội và đối ngoại đều phải nhằm vào việc
thực hiện thành công các mục tiêu đó. Chẳng hạn, cách mạng Việt Nam có mục tiêu
xuyên suốt là đấu tranh nhằm giành lại và giữ vững độc lập dân tộc, xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu này chi phối cả chính sách đối nội và lẫn
chính sách đối ngoại của Việt Nam theo từng giai đoạn lịch sử.
Như vậy, có thể nói chính sách đối ngoại của Nhà nước là những hình thức,
phương hướng cơ bản trong “hoạt động đối ngoại” của quốc gia. Nói một cách hình
tượng, chính sách đối ngoại chính là tấm hải đồ giúp ngoại giao biết được bến bờ
cần đi tới, biết được những khúc quanh, những thác nước phía trước, những đoạn
nước nông, sâu, những chỗ địa hình bằng phẳng hay gập ghềnh để điều chỉnh tốc
độ, hướng đi, nhằm đảm bảo cập bến an toàn. Chính sách đối ngoại định hướng cho
hoạt động đối ngoại, còn hoạt động đối ngoại là các bước đi mang tính tác nghiệp
cụ thể để thực hiện chính sách đối ngoại. Một khi ta xác định được mục tiêu của
chính sách thì các bước thực hiện chính sách cũng trở nên sáng rõ hơn. Thông
thường, chính sách đối ngoại của một quốc gia bao giờ cũng hướng tới 3 mục tiêu
cơ bản là “an ninh, phát triển, và ảnh hưởng”. Ba mục tiêu này có mối quan hệ gắn
bó khăng khít, không thể tách rời và phản ánh rõ những lợi ích quốc gia, dân tộc.
Những mục tiêu này có nguyên tắc bất biến, song để đạt được mục tiêu ấy thì sách
lược cụ thể không phải lúc nào cũng cứng nhắc mà chuyển đổi linh hoạt theo thời

1912, dựa trên việc Mỹ cung cấp cho các nước khác những khoản cho vay hoặc
viện trợ tài chính kèm theo những điều kiện ràng buộc bất bình đẳng, khiến các
nước đó ngày càng lệ thuộc vào Mỹ.

10


Để đạt được mục đích ngoại giao, các nước trên thế giới đã sử dụng những
hình thức khác nhau của ngoại giao. Có thể kể đến một vài những hình thức mới lạ
như “ngoại giao bóng bàn”, “ngoại giao sân gôn”, “ngoại giao gấu trúc”, hay gần
đây là sự nổi lên của “ngoại giao văn hóa” (sức mạnh mềm).
Khoảng đầu thập niên 1990, Giáo sư Joseph Nye lần đầu tiên nêu ra khái
niệm soft power (quyền lực mềm hay sức mạnh mềm, gồm các giá trị văn hóa, xã
hội) trong mối tương quan với “sức mạnh cứng” (sức mạnh quân sự, kinh tế, khoa
học-kỹ thuật) của một quốc gia. [7] Kể từ đó đến nay, ngày càng nhiều quốc gia sử
dụng rộng rãi khái niệm này và ứng dụng nó vào chính sách đối ngoại của mình. Có
thể lấy trường hợp Nhật Bản làm ví dụ. Vốn là một đất nước đất chật người đông, ít
tài nguyên, thiên nhiên khắc nghiệt, nhưng chính nhờ vận dụng sức mạnh mềm với
những đặc trưng tiêu biểu của tinh thần võ sĩ đạo, ý chí, kỷ luật, tính cộng đồng cao,
ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, Nhật Bản đã thay đổi từ hình ảnh một đất
nước quân phiệt trong Chiến tranh Thế giới thứ 2 thành một trong những nước cung
cấp ODA hàng đầu thế giới, từ một nền kinh tế bị tàn phá nặng nề vươn lên thành
một cường quốc kinh tế. Chính sách ngoại giao đa cực, ngoại giao công
chúng thông qua các hoạt động truyền thông, văn hóa đại chúng, qua các sản phẩm
công nghệ văn hóa mang nhãn hiệu “Made in Japan” với các mặt hàng từ chiếc ô-tô
tới hàng gia dụng, truyện manga, truyện tranh về chú mèo máy Doraemon và búp bê
chú mèo Hello Kitty, là cách thức quảng bá hữu hiệu hình ảnh đất nước Nhật Bản.
[45]
Sức mạnh mềm đóng vai trò ngày càng to lớn trong việc quảng bá hình ảnh
đất nước, quảng bá hệ giá trị văn hóa của quốc gia. Tuy không mang lại tác dụng

giống thông thường, mà nó ươm mầm cho những tư tưởng, lý tưởng, hệ giá trị của
nước này nhằm sinh sôi nảy nở ở các nước khác. [54]
Có thể nói, ngoại giao văn hóa ở Việt Nam gồm hai chiều: chiều ra và chiều
vào, với mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ. Chiều vào hay “nhập khẩu” là kế thừa, tiếp
nhận có chọn lọc những giá trị văn hóa của thế giới thông qua trao đổi các sản phẩm
văn hóa đa dạng, phong phú. Đó có thể là âm nhạc, ca múa, phim ảnh, hay ẩm thực.
Đó có thể là các hoạt động giao lưu, liên hoan văn hóa nghệ thuật, hội thảo quốc tế,
chương trình truyền hình, phát thanh, thông tấn. Đó cũng có thể là các xuất bản
phẩm sách báo, kể cả dạng giấy và bản điện tử, các văn hóa phẩm như bưu ảnh, tờ

12


rơi, các loại lịch, băng đĩa. Công việc “nhập khẩu” văn hóa này mang tính chất hai
chiều, tương tác với nhau giữa một bên là mong muốn truyền bá, phổ biến giá trị
văn hóa của một nước vào Việt Nam, và một bên là việc Việt Nam mở cửa với tinh
thần tiếp thu có chọn lọc những giá trị ấy. Còn chiều ra hay “xuất khẩu”, trong đó
có TTĐN, cũng mang tính tương tác như vậy nhưng trọng tâm nhấn mạnh hơn vào
mục đích truyền bá, phổ biến giá trị văn hóa của mình cho đối tượng hướng tới.
Đối với Việt Nam, ngoại giao văn hóa là một công cụ hữu hiệu nhằm thực
hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Ngoại giao văn hóa cùng với
ngoại giao kinh tế, ngoại giao chính trị tạo thành thế chân kiềng vững chắc của
ngoại giao Việt Nam hiện đại. Với tư cách là một thành tố quan trọng trong chính
sách đối ngoại, ngoại giao văn hóa là tổng hợp các hoạt động thông tin, tuyên
truyền, quảng bá văn hóa Việt Nam thông qua nhiều loại hình chủ yếu, trong đó có
hoạt động thông tin tuyên truyền đối ngoại. [10]
Về mặt thuật ngữ, cần phân biệt sự khác biệt giữa “tuyên truyền đối ngoại”
và “thông tin đối ngoại”. Nói một cách chung nhất, “tuyên truyền đối ngoại” là sử
dụng các kênh truyền thông đại chúng để tìm mọi cách thuyết phục đối tượng, định
hướng làm cho đối tượng chấp nhận một ý kiến nhất định. Còn “thông tin đối

quan đầu tiên của Chính phủ, do, nhà báo, nhà văn hóa và chiến sĩ cộng sản Trần
Huy Liệu làm Bộ trưởng. Để phục vụ công tác TTĐN, Bộ này đã cho in một bộ bưu
ảnh, dù số lượng không nhiều, với chú thích bằng cả tiếng nước ngoài để phân phát
cho các hãng thông tấn và phóng viên nước ngoài đang có mặt tại Hà Nội. Có thể
nói, là một ấn phẩm thông tin-tuyên truyền đối ngoại đầu tiên của Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa, bộ bưu ảnh phản ánh hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các
thành viên Chính phủ trong những ngày tháng đầu tiên sau Độc lập. Bản thân Bác
Hồ cũng gặp gỡ, trả lời phỏng vấn giới báo chí nước ngoài. Đài Tiếng nói Việt Nam
có hẳn một bộ phận phát bản tin bằng các thứ tiếng Pháp, Anh, Hoa, Khmer, v.v…
Trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1946-1954, công tác
TTĐN vẫn được Đảng và Chính phủ chú ý. Một số nhà báo nước ngoài có cảm tình
với Việt Nam đã tham gia đóng góp cho công tác này rất tích cực. Nhà báo
Australia nổi tiếng Wilfred Burchett đã lên tận chiến khu Việt Bắc và được Bác Hồ
tiếp tại một cái lán lá trong rừng rậm. Kết quả là Burchett đã viết những bài báo đầy

14


tình cảm kính trọng và yêu quý Bác cũng như sự cảm thông, chia sẻ, ủng hộ công
cuộc kháng chiến của ta. Nhà báo Madeleine Riffaud, sau khi gặp Bác Hồ tại Paris
năm 1946, đã tích cực viết những bài báo tố cáo đanh thép âm mưu xâm lược của
thực dân Pháp tại Đông Dương. Nhà sử học người Pháp Georges Boudarel lặn lội
lên chiến khu xin gia nhập hàng ngũ Việt Minh và được phân công công tác là, cùng
với nhà báo Hữu Ngọc và một số người khác giỏi tiếng Pháp, chuyên viết các bài
báo để tuyên truyền, cảm hóa hàng binh và tù binh Pháp và lính lê dương ở trại
Camp 113. Những ấn phẩm được in ra và phân phát cho hàng binh nêu rõ lập
trường chính nghĩa của chính phủ ta, phân tích sâu sắc cục diện chính trường, tính
chất phi nghĩa của cuộc chiến do Pháp gây hấn, và khơi gợi trong trái tim những
hàng binh-tù binh lương tri con người cũng như những tình cảm gia đình, quê
hương, đất nước. Nhờ làm tốt công tác thông tin-tuyên truyền đối ngoại, địch vận,

sống khó khăn, lập trường dao động. Sau khi Liên Xô tan rã năm 1991, kéo theo sự
sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu, cục diện chiến tranh lạnh kết thúc.
Trật tự thế giới được xác lập sau Chiến tranh Thế giới thứ 2 bị phá vỡ, nhưng trật tự
thế giới mới với một siêu cường duy nhất là Mỹ chưa hình thành. Chính vì vậy,
chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn này tập trung vào bốn nhiệm vụ trọng
tâm có liên quan chặt chẽ với nhau là chấm dứt sự can thiệp vào xung đột
Campuchia, cải thiện quan hệ với ASEAN, bình thường hóa quan hệ với Mỹ và
Trung Quốc và thoát khỏi tình trạng bao vây cấm vận. [20, tr. 68] Về hoạt động đối
ngoại, Nghị quyết Đại hội Đảng VI khẳng định Việt Nam cần mở rộng quan hệ với
tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình. Đứng trước tình hình như vậy,
nhằm cụ thể hóa vai trò của công tác TTĐN trong tình hình mới, đặc biệt là kênh
TTĐN qua xuất bản phẩm, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 63-CT/TW về tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác báo chí, xuất bản ngày 25/7/1990. Chỉ thị tái
khẳng định vai trò quan trọng của sách, báo như là một công cụ trên mặt trận tư
tưởng, góp phần đẩy mạnh thông tin về công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc vừa được Đảng khởi xướng. Có thể nói rằng, đây là văn kiện quan trọng đầu
tiên nêu rõ nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, xuất bản;
đồng thời, xác định các công việc mà Đảng, Nhà nước cần thực hiện để lãnh đạo,
quản lý báo chí, xuất bản nhằm phục vụ công tác TTĐN.

16


Phải thẳng thắn thừa nhận, công tác báo chí, xuất bản thời gian này có nhiều
ưu điểm tiến bộ nhưng cũng bộc lộ những khuyết điểm kéo dài. Nhằm nhanh chóng
khắc phục tình trạng trên, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 08-CT/TW về việc tăng cường sự
lãnh đạo và quản lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác báo chí, xuất
bản, ngày 31/3/1992, theo đó, một loạt các định hướng và biện pháp được đề ra.
Ban Bí thư đồng thời khẳng định: “sẽ có chỉ thị riêng về công tác thông tin đối
ngoại và báo chí, ấn phẩm đối ngoại.”

triển mới, trong bối cảnh thuận lợi, nền chính trị ổn định, kinh tế phục hồi và gia
tăng phát triển, quan hệ đối ngoại rộng mở, vị thế của đất nước được nâng lên trong
khu vực và trên quốc tế. Tuy nhiên, do việc tổ chức thực hiện công tác TTĐN còn
nhiều bất cập, chưa xác định rõ trách nhiệm của từng ngành, từng cấp trong chỉ đạo,
quản lý và phối hợp hoạt động dẫn tới chất lượng hiệu quả, sức thuyết phục, hấp
dẫn cũng như tính chiến đấu của công tác TTĐN chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Trong hoàn cảnh đó, ngày 29/12/1998, Thường vụ Bộ Chính trị ra Thông báo số
188/TB-TW về công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới. Thông báo này
nhấn mạnh công tác TTĐN cần hướng tới đối tượng người nước ngoài đến Việt
Nam sống, làm việc, du lịch, học tập ngày càng nhiều và các nhà Việt Nam học trên
thế giới, cung cấp thông tin định hướng cho họ để tranh thủ họ tiếp tục đưa thông
tin giới thiệu về Việt Nam ra thế giới. Để thực hiện tốt điều đó, Đảng và Nhà nước
tiếp tục củng cố chất lượng của ngành báo chí, xuất bản, mạnh dạn đầu tư vào một
số báo và nhà xuất bản lớn để xây dựng những đơn vị nòng cốt chủ lực cho công tác
TTĐN. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là sự bùng nổ của
mạng Internet như một công cụ thông tin kết nối toàn cầu, khiến lực lượng làm
TTĐN phải nhanh chóng thích nghi với loại hình thông tin mới này nhằm cập nhật
tin tức về Việt Nam trên thế giới một cách nhanh chóng và thuận tiện, sử dụng kênh
Internet giúp TTĐN truyền tải nhanh, lan tỏa rộng, vươn tới được nhiều nơi trên thế
giới. Nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của ngành TTĐN, yêu cầu đặt ra là các lực
lượng làm TTĐN ở trong và ngoài nước cần được củng cố, kiện toàn về mặt tổ
chức, phối hợp chỉ đạo, cũng như kết hợp về nội dung giữa thông tin đối nội với
TTĐN, giữa hoạt động chính trị đối ngoại và kinh tế đối ngoại, văn hóa đối ngoại,
giữa ngoại giao nhà nước, đối ngoại Đảng và đối ngoại nhân dân.

18


Sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là một
sự nghiệp lâu dài, đòi hỏi Việt Nam phải phát huy hiệu quả tối đa những nguồn nội

Ban Chỉ đạo công tác TTĐN gồm các thành viên đến từ hầu khắp các cơ
quan của Đảng và Nhà nước đang hoạt động trong lĩnh vực đối ngoại, tư tưởng-văn
hóa, an ninh, quốc phòng và truyền thông đại chúng. Từ khi được thành lập, Ban
Chỉ đạo công tác TTĐN đã giúp lãnh đạo Đảng và Nhà nước theo dõi tình hình, chỉ
đạo, phối hợp công tác TTĐN, đề xuất chủ trương để chỉ đạo thông tin tình hình
trong nước ra nước ngoài, thông tin tình hình quốc tế phức tạp, đẩy mạnh thông tin
hội nhập kinh tế quốc tế, giao lưu văn hóa đối ngoại. Như vậy lần đầu tiên Việt
Nam đã thiết lập một cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo công tác TTĐN, đánh dấu bước tiến
mới trước yêu cầu và sự phát triển của công tác. Từ năm 2002 đến nay, tờ Thông tin
Đối ngoại của Ban Chỉ đạo ra mắt bạn đọc hàng tháng, với nhiều thông tin cập nhật
và ý kiến chỉ đạo sát sao.
Trong công cuộc Đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế, ngành xuất bản đã có
những đóng góp không nhỏ vào thành tựu chung của đất nước. Bên cạnh những ưu
điểm, ngành xuất bản cũng bộc lộ nhiều yếu kém, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày
càng lớn và đa dạng của bạn đọc, chậm đổi mới nội dung và hình thức của ấn phẩm,
chịu tác động lớn của khuynh hướng thương mại hóa. Nhằm chấn chỉnh những bất
cập trong hoạt động xuất bản giai đoạn này, ngày 25/08/2004, Ban Bí thư ban hành
Chỉ thị số 42-CT/TW về nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động xuất bản. Chỉ
thị một lần nữa tái khẳng định “sự nghiệp xuất bản là một lĩnh vực hoạt động tư
tưởng sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân”. Để xuất bản phát huy tốt vai trò
của mình, Đảng cần đổi mới và nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, Nhà nước tăng
cường công tác quản lý đối với ngành xuất bản, và hai ngành gắn liền với nó là in
và phát hành. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, để phát
triển sự nghiệp xuất bản cần thiết phải đẩy mạnh xã hội hóa, huy động đa dạng các
nguồn lực nhằm đổi mới, nâng cấp và từng bước hiện đại hóa cơ sở vật chất - kỹ
thuật và công nghệ xuất bản. Đồng thời ngành xuất bản cũng phải lưu ý mở rộng
hơn nữa hoạt động hợp tác quốc tế.
Tuy đã gặt hái được những thành tựu đáng khích lệ nhưng hoạt động đối
ngoại và công tác TTĐN cần được đặt trên một tầm cao mới nhằm thực hiện thắng


chuyển mau lẹ của tình hình trong nước và quốc tế, với sự phát triển nhận thức về

21


công tác TTĐN của Đảng, và căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ của tình hình mới, Thủ
tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 79/2010/QĐ-TTg về Quy chế quản lý nhà
nước về thông tin đối ngoại ngày 30/11/2010. Quy chế này đưa ra khái niệm về
TTĐN là “thông tin quảng bá hình ảnh quốc gia, đất nước, con người, lịch sử, văn
hoá dân tộc Việt Nam; thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật,
chính sách của Nhà nước Việt Nam ra thế giới và thông tin về thế giới vào Việt
Nam”, và quy định rõ những nguyên tắc và nội dung quản lý nhà nước về TTĐN và
trách nhiệm của các cơ quan hữu quan trong việc quản lý nhà nước và phối hợp,
triển khai các hoạt động TTĐN. Nhờ vậy, lực lượng làm công tác TTĐN có cơ sở
phối hợp hoạt động tốt hơn, hiệu quả hơn, khắc phục được tình trạng thiếu gắn kết.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI năm 2011 nhấn mạnh việc kiên trì thực
hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển;
chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, phấn đấu để Việt Nam “là bạn, đối tác tin cậy
và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” nhằm tạo môi trường hòa
bình, ổn định phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Về lĩnh vực báo
chí, xuất bản, Nghị quyết yêu cầu “nâng cao chất lượng hệ thống thông tin, báo
chí, Internet, xuất bản”. Để cụ thể hóa được mục tiêu ấy, cần sự kết hợp của các
loại hình và kênh ngoại giao nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp nâng cao thế và lực
của Việt Nam trên thế giới.
Ngày 14/2/2012, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI)
có Kết luận số 16-KL/TW về Chiến lược phát triển thông tin đối ngoại giai đoạn
2011-2020, tiếp tục xác định rõ TTĐN là “một bộ phận rất quan trọng trong công
tác tuyên truyền và công tác tư tưởng của Đảng ta; là nhiệm vụ thường xuyên, lâu
dài”. Để triển khai Chiến lược này, Thủ tướng Chính phủ kịp thời ra Chỉ thị 21/CTTtg ngày 6/8/2012 về việc triển khai thực hiện Chiến lược phát triển thông tin đối
ngoại giai đoạn 2011–2020. Theo đó, Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành, địa

động có “biên giới xâm lấn” giữa lĩnh vực đối ngoại-ngoại giao và văn hóa-tư
tưởng. Nội hàm của nó, đối tượng phục vụ và phương thức – cơ chế thực hiện cũng
trở nên đa dạng hơn, cụ thể hơn theo tiến trình nhận thức của Đảng và Nhà nước ta
về công tác TTĐN cũng như tiến trình lịch sử của dân tộc để phục vụ sự nghiệp
phát triển đất nước trong điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế sâu rộng như hiện

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status