Chủ trương của đảng cộng sản việt nam trong quan hệ với campuchia từ 1979 đến 1989 - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH
TRỊ

LƯU NGỌC LONG

CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM TRONG QUAN HỆ VỚI CAMPUCHIA
TỪ 1979 ĐẾN 1989

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI


TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH
TRỊ

LƯU NGỌC LONG

CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM TRONG QUAN HỆ VỚI CAMPUCHIA
TỪ 1979 ĐẾN 1989
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Nam
Mã số: 60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ


3.1.1. Ưu điểm............................................................................................. 80


3.1.2. Hạn chế.............................................................................................. 90
3.2. Một số kinh nghiệm ..................................................................................... 96
3.2.1. Hoạch định, điều chỉnh chủ trương, chính sách trong quan
hệ với Campuchia phải bám sát sự biến đổi, vận động của
tình hình khu vực, các quan hệ quốc tế liên quan............................. 96
3.2.2. Tích cực tìm kiếm biện pháp thúc đẩy, phát triển quan hệ
đoàn kết, hữu nghị với Campuchia trên tinh thần “bán anh
em xa mua láng giềng gần”............................................................... 99
3.2.3. Phát triển quan hệ mọi mặt với Campuchia phải trên
nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng, không áp đặt,
“giúp bạn là tự giúp mình” ............................................................. 100
3.2.4. Nắm bắt những mâu thuẫn trong quan hệ giữa các nước
liên quan, chủ động trong các hoạt động đối ngoại để bảo
vệ lợi ích của Việt Nam và Campuchia .......................................... 103
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................ 109
PHỤ LỤC ......................................................................................................... 117


BẢNG QUY ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT
BCHTƯ

:

Ban Chấp hành Trung ương

BCT


:

Chủ nghĩa cộng sản

CNTB

:

Chủ nghĩa tư bản

CNXH

:

Chủ nghĩa xã hội

DTDCND

:

Dân tộc dân chủ nhân dân

Đảng CSVN

:

Đảng Cộng sản Việt Nam

Đảng NDCM


:

Tư bản chủ nghĩa

TBT

:

Tổng bí thư

UNTAC

:

Phái bộ chuyển tiếp của Liên hiệp quốc
ở Campuchia

XHCN

:

Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chính sách đối ngoại là một lĩnh vực quan trọng trong hệ thống chính
sách của một quốc gia. Chính sách đối ngoại đúng đắn góp phần tạo môi
trường quốc tế thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong

Campuchia, Quân đội nhân dân Việt Nam đã giúp nhân dân Campuchia lật đổ
chế độ Pôn Pốt diệt chủng; giúp đỡ nhân dân Campuchia bảo vệ và xây dựng
lại đất nước (1979 - 1989). Trong thời kỳ này, quan hệ giữa nhân dân hai
nước, giữa hai nhà nước không ngừng được củng cố, tăng cường.
Hiện nay, quan hệ với Campuchia vẫn là một trong những ưu tiên đối
ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đảng và Chính phủ Việt Nam không
ngừng đẩy mạnh quan hệ với Campuchia một cách toàn diện. Bước sang
những năm đầu thế kỷ XXI, quan hệ Việt Nam - Campuchia vẫn tiếp tục phát
triển với cả những thành tựu và thách thức. Do vậy, nghiên cứu chủ trương
của Đảng trong quá trình củng cố, phát triển quan hệ Việt Nam - Campuchia
những năm 1979-1989 một cách hệ thống, toàn diện, rút kinh nghiệm từ
những thành tựu, hạn chế có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, giúp đưa ra
những gợi mở, góp phần tiếp tục đưa mối quan hệ Việt Nam - Campuchia
phát triển ổn định ở hiện tại, phục vụ thiết thực lợi ích của cả hai dân tộc. Đó
là những lý do cơ bản để chúng tôi chọn vấn đề “Chủ trương của Đảng Cộng
sản Việt Nam trong quan hệ với Campuchia từ 1979 đến 1989” làm đề tài
luận văn thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngoài ra, qua luận văn, chúng tôi cũng muốn cung cấp thêm một số tư liệu để phục
vụ công tác giảng dạy môn Lịch sử, Lịch sử Đảng CSVN và Đường lối cách
mạng của Đảng CSVN.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Quan hệ Việt Nam - Campuchia, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt
Nam trong quan hệ với Campuchia là một chủ đề được đông đảo giới nghiên
cứu quan tâm. Qua khảo cứu, chúng tôi nhận thấy tư liệu về mảng đề tài này
có những nhóm như sau:
2


- Các công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Việt Nam
với thế giới, khu vực và các nước Đông Dương

- Các công trình nghiên cứu về quan hệ chính trị - ngoại giao Việt
Nam - Campuchia
“Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam (1945-1995)” (Lưu Văn Lợi
(1998), tập 2, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội); “Tội ác diệt chủng của bọn
Pôn Pốt - Iêng Xary” (Nxb. Sự thật (1979), Hà Nội); “Ngoại giao Việt Nam
1945-2000” (Nguyễn Đình Bin (chủ biên, 2002), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội); “Mãi mãi đứng bên cạnh nhân dân Việt Nam anh hùng” (Nxb. Sự thật
(1982), Hà Nội);…
Nhóm công trình này chú trọng đến mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước
từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (2.1930) đến cuối những năm 80
của thế kỷ XX, khi quân đội tình nguyện Việt Nam rút về nước, hoàn thành
nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia. Một số công trình phần đã thể hiện được mối
quan hệ chính trị - ngoại giao bền chặt, anh em giữa Việt Nam với Campuchia
trong các giai đoạn lịch sử quan trọng đối với hai nước: 1930-1945, 19451954, 1954-1975, 1975-1979, 1979-1989.
- Các công trình nghiên cứu về quan hệ quân sự Việt Nam Campuchia và vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước
“Liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia” (Hoàng
Văn Thái (1983), Nxb. Sự thật, Hà Nội); “Vấn đề Campuchia” (Trường
Chinh Tạp chí Quân đội nhân dân 12/1979, Hà Nội) ; “Bộ đội tình nguyện
Quân khu 9 qua hơn 10 năm làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia”( Nguyễn
Đệ (1995), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội); “Công tác Đảng, công tác
chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam (1975-2005)” (Đảng ủy quân sự
Trung ương (2008), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội); “Quân đội nhân dân
Việt Nam và nhiệm vụ cao cả trên đất bạn Campuchia” (Lê Đức Anh (1986),
Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội);...
Cuốn “Liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia”
(Hoàng Văn Thái (1983), Nxb. Sự thật, Hà Nội)đã nêu bật quan hệ liên minh
chặt chẽ về mặt quân sự của Việt Nam và Campuchia trong các giai đoạn lịch
4





chủ trương của Đảng CSVN trong quan hệ với Campuchia từ năm 1975 đến năm
1989 như đề tài chúng tôi đã lựa chọn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ chủ trương của ĐCSVN trong quan hệ với Campuchia từ năm
1979 đến năm 1989; trên cơ sở đó, nhận xét, đánh giá một cách khách quan, khoa
học ưu, nhược điểm trong chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với việc củng
cố, phát triển quan hệ Việt Nam - Campuchia; đúc rút kinh nghiệm phục vụ hiện
tại.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích những yếu tố tác động đến quá trình hoạch định chính sách
trong quan hệ với Campuchia của Đảng những năm 1979-1989.
- Đi sâu phân tích chủ trương của Đảng trong quan hệ với Campuchia
qua hai giai đoạn: 1979-1986; 1986-1989.
- Hệ thống hóa, khái quát hóa những tư liệu đã có, bổ sung thêm những tư
liệu mới, khôi phục một cách khách quan bức tranh quan hệ Việt Nam Campuchia từ năm 1979 đến năm 1989; trên cơ sở đó, đúc rút một số kinh
nghiệm phục vụ cho việc phát triển quan hệ với Campuchia ở thời điểm hiện tại.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các chủ trương do ĐCSVN đề ra
trong quan hệ với Campuchia; các biện pháp Đảng đề ra nhằm thực hiện các
chủ trương ấy.
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những chủ trương, đường lối cơ bản của
Đảng trong quan hệ với Campuchia; các sự kiện chính, quan trọng, những
mốc lớn trong quá trình Đảng chỉ đạo thực hiện chủ trương củng cố, tăng
cường và phát triển quan hệ Việt Nam - Campuchia trong khoảng thời gian từ
năm 1979 (thời điểm Việt Nam đưa quân vào Campuchia, giúp nhân dân


7


- Trình bày một cách có hệ thống, khách quan và tương đối toàn diện
và làm sáng tỏ quan điểm, chủ trương đối ngoại cũng như sự chỉ đạo của
Đảng trong quan hệ Việt Nam - Campuchia từ năm 1979 đến năm 1989.
- Rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu phục vụ hiện tại dựa trên những
đánh giá, nhận xét về thành tựu, những vấn đề còn tồn tại trong quá trình
Đảng đề ra chủ trương và chỉ đạo thực hiện quan hệ với Campuchia những
năm 1979 -1989.
- Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu về quan hệ quốc tế, quan
hệ Việt Nam - Campuchia, hoặc phục vụ công tác giảng dạy lịch sử và những
môn học có liên quan.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết.
Chương 1: Chủ trương xây dựng, củng cố quan hệ với Campuchia của
Đảng những năm 1979 - 1985.
Chương 2: Chủ trương phát triển quan hệ toàn diện với Campuchia của
Đảng những năm 1986 - 1989.
Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm.

8


Chương 1
CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG, CỦNG CỐ QUAN HỆ
VỚI CAMPUCHIA CỦA ĐẢNG NHỮNG NĂM 1979 - 1985
1.1. Khái quát quan hệ Việt Nam - Campuchia trước năm 1979

cử cán bộ sang Campuchia vận động Việt Kiều và nhân dân Campuchia thành
lập Ủy ban hành động để hưởng ứng phong trào Đông Dương đại hội. Nhằm
tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa cách mạng hai nước, đầu năm 1938,
ĐCS Đông Dương giao cho tỉnh ủy Nam Kỳ khôi phục hệ thống ở Cao Miên.
Trong dịp đón phái đoàn đại biểu đại diện Chính phủ Pháp do Gôđa dẫn đầu
đến Phnôm Pênh, đông đảo nhân dân Campuchia và Việt kiều ở Campuchia
đã đưa bản kiến nghị ủng hộ Chính phủ Mặt trận bình dân Pháp, đòi tăng
lương, ngày làm tám giờ, thi hành chính sách dân chủ ở Đông Dương, đại xá
chính trị phạm.
Trong Hội nghị Trung ương lần 6 (11.1939), Đảng Cộng sản Đông
Dương đã xác định:
Không một dân tộc nào (ở Đông Dương - TG) có thể giải phóng riêng
rẽ vì Đông Dương dưới quyền thống trị duy nhất về chính trị, kinh tế và binh
bị… Sự kiện liên hiệp các dân tộc Đông Dương không nhất thiết bắt buộc các
dân tộc phải thành lập một quốc gia duy nhất vì các dân tộc Việt Nam, Miên,
Lào xưa nay vẫn có sự độc lập. Mỗi dân tộc có quyền quyết định vận mệnh
theo ý muốn của mình [9, tr.72-73].
Thông qua cuộc đấu tranh trong giai đoạn 1936 - 1939, ĐCS Đông
Dương đã vận động quần chúng hai nước, củng cố và phát triển cơ sở Đảng,
mở rộng Mặt trận Dân chủ Đông Dương, chuẩn bị một cách tích cực để đưa
quần chúng vào trận địa chiến đấu mới.
Năm 1940, Nhật Bản đưa quân vào Đông Dương, từ đó nhân dân Đông
Dương rơi vào tình cảnh “một cổ hai tròng”. Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai
10


phát triển ngày càng bất lợi đối với phe phát xít. Trong điều kiện đó, Hội nghị
Trung ương lần thứ 8 (5.1941) nhóm họp, hoàn thiện đường lối giải phóng
dân tộc, quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt
Minh), chủ trương hết sức giúp đỡ nhân dân Campuchia thành lập Cao Miên

lực lượng kháng chiến nhiều liên khu trên chiến trường Việt Nam và của lực
lượng Việt kiều yêu nước từ Thái Lan về, lực lượng kháng chiến Campuchia
đã xây dựng được nhiều “căn cứ kháng Pháp”, “khu giải phóng”. Tháng 4
năm 1950, Hội nghị toàn quốc Campuchia được triệu tập, quyết định thành
lập Ủy ban Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc (Mặt trận Ítxarắc) do Sơn
Ngọc Minh làm Chủ tịch.
Tháng 2 năm 1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của ĐCS
Đông Dương đã quyết định tổ chức ở mỗi nước một Đảng độc lập, ở Việt
Nam lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam, còn ở Campuchia sẽ là Đảng
NDCM Campuchia. Mối quan hệ giữa hai Đảng, nhân dân hai nước tiếp tục
được phát triển. Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam đã khẳng định:
1- Dân tộc Việt Nam đoàn kết chặt chẽ với hai dân tộc Miên, Lào và
hết sức giúp đỡ hai dân tộc ấy cùng nhau kháng chiến chống đế quốc xâm
lược, giải phóng cho tất cả các dân tộc Đông Dương.
2- Nhân dân Việt Nam đứng trên lập trường lợi ích chung mà hợp tác
lâu dài với hai dân tộc Miên, Lào trong kháng chiến và sau kháng chiến...
[56, tr.441-442].
Ngày 28 tháng 7 năm 1951, Đảng NDCM Khơ me được thành lập tại
Campuchia, nhằm đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập cho nhân dân
Campuchia. Trong liên minh, đoàn kết với Campuchia, Đảng LĐVN luôn
nhất quán quan điểm tôn trọng độc lập, chủ quyền cũng như tinh thần tự quyết
của Campuchia: “Với Lào và Miên nước Việt Nam tôn trọng nền độc lập của
hai nước đó và bày tỏ lòng mong muốn hợp tác trên cơ sở bình đẳng tuyệt đối
giữa các nước có chủ quyền” [90, tr.470]. Đối với quân đội Nhân dân Việt
Nam làm nghĩa vụ quốc tế trên đất Campuchia, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn
căn dặn phải “nêu cao tinh thần quốc tế, tôn trọng chủ quyền, tôn trọng phong
tục tập quán, kính yêu nhân dân của nước bạn. Tuyệt đối giữ gìn kỷ luật, giữ
12





các nước láng giềng, Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa tuyên bố:
“Chúng ta hoan nghênh và ủng hộ đường lối hòa bình trung lập của
Campuchia và sẽ tăng cường hơn nữa quan hệ hữu nghị với Vương quốc
Campuchia” [57, tr.940]. Đáp lại thiện chí và tình cảm của nhân dân Việt
Nam, Quốc vương Xihanúc đã có những hành động thúc đẩy quan hệ với Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa. Tháng 3 năm 1964, Campuchia tuyên bố cắt đứt các
quan hệ ngoại giao với chính quyền Sài Gòn, nâng cấp đại diện thường trực
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành cơ quan Đại sứ quán
(20.6.1967).
Một nước Campuchia hòa bình, trung lập đã khiến Mỹ đứng ngồi
không yên. Mỹ bật đèn xanh để các thế lực thân Mỹ đã tiến hành đảo chính lật
đổ chính quyền Xihanúc, phá hoại nền hòa bình, trung lập của Campuchia và
đưa Campuchia vào quỹ đạo chiến tranh của Mỹ ở Đông Dương (18.3.1970).
Cách mạng Việt Nam và Campuchia đã bước sang một trang mới và trong
điều kiện có chung kẻ thù, tinh thần đoàn kết chiến đấu giữa hai nước càng có
điều kiện phát triển mạnh mẽ. Ngày 24 và 25 tháng 4 năm 1970, tại Hà Nội đã
diễn ra Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương. Hội nghị một lần nữa khẳng
định tinh thần đoàn kết giữa ba nước Đông Dương nói chung và tình đoàn kết
Việt Nam - Campuchia nói riêng. Hội nghị là một dấu mốc quan trọng, một
mặt, thể hiện sự vững bền của liên minh chiến đấu Việt Nam - Campuchia;
mặt khác, thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Campuchia lên một bước mới.
Từ năm 1970, cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược của nhân dân
Campuchia phát triển nhanh chóng, lực lượng vũ trang lớn mạnh, vùng giải
phóng phát triển rộng khắp. Ngày 23 tháng 3 năm 1973 ở Ratanakiri, Mặt trận
Dân tộc thống nhất Campuchia và Quân giải phóng được thành lập. Từ tháng
9 năm 1973, lực lượng Quân giải phóng Campuchia bắt đầu bao vây Thủ đô
Phnôm Pênh và các thành phố Bátđamboong, Uđông,…
Mùa Xuân 1975, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân của quân

triệu người dân vô tội bị giết hại, trong đó có nhiều chiến sĩ cách mạng kiên
trung, nhiều nhà trí thức, khoa học lớn… Trước thảm họa đó, nhân dân
Campuchia chỉ còn một con đường sống duy nhất là vùng dậy, đứng lên lật đổ
15


chế độ tàn bạo Pôn Pốt. Thực hiện quyết tâm đó, một lực lượng cách mạng
Campuchia đã chạy sang Việt Nam và đều được nhân dân Việt Nam giúp đỡ
tận tình.
Đối với Việt Nam, Tập đoàn Pôn Pốt thi hành chính sách thù hằn dân
tộc, kích động tư tưởng cực đoan chống Việt Nam, coi Việt Nam là kẻ thù
truyền kiếp, ra sức bịa đặt, xuyên tạc, phá hoại mối quan hệ truyền thống, tốt
đẹp giữa hai dân tộc. Ngay từ đầu tháng 5 năm 1975, chế độ Khơ me đỏ đã
cho quân lấn chiếm, cướp phá nhiều nơi trên dọc tuyến biên giới Tây Nam
của Việt Nam.
Mặc dù có một số bất đồng liên quan đến biên giới, quan điểm nhất
quán của Đảng CSVN vẫn là tiếp tục củng cố và phát triển quan hệ với nhân
dân Campuchia anh em:
Ra sức bảo vệ và phát triển mối quan hệ đặc biệt giữa nhân dân Việt
Nam với nhân dân Lào và nhân dân Campuchia, tăng cường tình đoàn kết
chiến đấu, lòng tin cậy, sự hợp tác lâu dài và giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt
giữa nước ta với hai nước anh em, trên nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng, tôn
trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng lợi ích
chính đáng của nhau [58, tr.618].
Bất chấp mọi nỗ lực của Việt Nam, Ngày 3 tháng 5 năm 1975, tập đoàn
quân phản động Pôn Pốt cho quân đổ bộ đánh chiếm đảo Phú Quốc. Ngày 10
tháng 5 năm 1975, Khơ me đỏ đánh chiếm đảo Thổ Chu, tiếp đó xâm phạm
nhiều vùng lãnh thổ Việt Nam dọc biên giới từ Hà Tiên đến Tây Ninh. Theo
số liệu của Ban Tổng kết quân sự - Bộ Quốc phòng thì từ tháng 5 năm 1975
đến cuối năm 1975, quân Pôn Pốt gây ra 110 vụ xung đột, lấn chiếm 20 điểm

tranh chống Việt Nam, đánh phá biên giới Tây Nam nước ta, cấu kết với đế
quốc Mỹ và các thế lực thù địch khác hòng làm suy yếu nước ta… và nhân
dân Campuchia sẽ lâm vào một cuộc diệt chủng ngày càng khủng khiếp.
Trong tình hình thực tế đó, không có cách nào khác là phải dùng một lực
lượng quân đội mạnh, có đủ quân binh chủng hợp thành tiến hành một cuộc
tổng phản công bất ngờ, thần tốc, mãnh liệt giành thắng lợi ở hướng Tây
Nam [70, tr.38].
17


Thực hiện Nghị quyết, một mặt, quân và dân Việt Nam đã giáng trả
thích đáng mọi hoạt động vi phạm chủ quyền quốc gia; mặt khác, Đảng
CSVN vẫn mong muốn có thương lượng hòa bình để giải quyết các tồn tại,
không muốn hai bên đổ máu thêm. Ngày 5 tháng 2 năm 1978, với thiện chí
muốn sớm chấm dứt xung đột biên giới thông qua thương lượng, Đảng và
Nhà nước Việt Nam chủ động đưa ra đề nghị ba điểm:
Thứ nhất: Chấm dứt ngay các hành động thù địch ở biên giới hai nước;
lực lượng vũ trang hai bên phải đóng sâu vào lãnh thổ nước mình, cách đường
biên giới 5 km.
Thứ hai: Hai bên gặp nhau để bàn bạc ký một Hiệp định hữu nghị
không xâm phạm lẫn nhau và một hiệp ước biên giới chung giữa hai nước.
Thứ ba: Hai bên thỏa thuận một hình thức thích hợp về thể thức nhằm
đảm bảo và giám sát quốc tế vùng biên giới hai nước.
Tháng 5 năm 1978, Việt Nam đã đề nghị chỉ định một phái đoàn trung
gian giải quyết các vấn đề biên giới và các vấn đề lớn khác giữa Việt Nam và
Campuchia. Sau đó, tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao phong trào Không liên
kết họp tại Bengrat (7.1978), Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Duy
Trinh đã đề nghị ghi vào chương trình nghị sự việc chỉ định một phái đoàn
“giúp đỡ” gồm các thành viên Không liên kết, làm trung gian giải quyết các
vấn đề bất đồng Việt Nam - Campuhica. Trung Quốc mặc dù không phải là

Ngày 23 tháng 12 năm 1978, vì sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc, Quân đội nhân
dân Việt Nam đã mở cuộc phản công chiến lược, đập tan cuộc tiến công toàn
tuyến hòng đánh chiếm thị xã Tây Ninh của tập đoàn Pôn Pốt - Iengxari. Trước
yêu cầu của nhân dân Campuchia, của MTĐKDTCN Campuchia, ngày 26
tháng 12 năm 1978, Quân đội nhân dân Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với các
lực lượng vũ trang của MTĐKDTCN Campuchia đánh tan lực lượng quân sự
của chính quyền Pôn Pốt, xóa bỏ chế độ diệt chủng, giải phóng toàn bộ đất
nước Campuchia. Sau khi chế độ diệt chủng Pôn Pốt bị đập tan, MTĐKDTCN
Campuchia thành lập chế độ CHND Campuchia. Với sự giúp đỡ của Việt Nam,
Chính quyền nhân dân đã được thành lập và củng cố vững chắc trên toàn bộ
lãnh thổ Campuchia. Cuộc “cách mạng làm lại” đã giành thắng lợi, từ đây nhân
19


dân Campuchia bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do và tiến lên xây dựng đất
nước, sát cánh cùng nhân dân hai nước anh em trên bán đảo Đông Dương trong
cuộc đấu tranh chung vì hòa bình, hạnh phúc và phát triển.
Thắng lợi ngày 7 tháng 1 năm 1979 mở ra kỷ nguyên mới của liên
minh chiến đấu Việt Nam - Campuchia, kỷ nguyên của tình hữu nghị và hợp
tác toàn diện. Thẳng lợi này cũng một lần nữa khẳng định sức sống mãnh liệt
của liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Campuchia:
Quân và dân Việt Nam giúp đỡ anh em Campuchia chiến đấu chống
bọn diệt chủng tay sai của (…) giành độc lập và tự do thực sự. Bằng cuộc
chiến đấu thắng lợi của mình, nhân dân Campuchia góp phần thủ tiêu họa
xâm lăng từ đất Campuchia; thiết thực góp phần giúp đỡ nhân dân Việt Nam
trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc [49, tr.4].
Trong thời gian kháng chiến cũng như sau này đất nước Campuchia
được giải phóng, Đảng CSVN luôn chủ trương nhất quán cần phải đoàn kết
với cách mạng, nhân dân Campuchia nhằm thực hiện mục tiêu mỗi nước. Tuy
nhiên, Đảng CSVN có phần chưa nắm bắt hết tình hình của phía Campuchia,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status