Đảng bộ tỉnh bắc giang lãnh đạo phát triển nông nghiệp, nông thôn trong những năm 1997 2006 - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH
TRỊ

NGUYỄN TUẤN THÀNH

ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
TRONG NHỮNG NĂM 1997 – 2006
Chuyên ngành: Lịch sử đảng cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học
PGS,TS. NGUYỄN ĐÌNH LÊ

Hà Nội – 2009


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nền nông nghiệp, nông thôn có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát
triển kinh tế của Quốc gia và được coi là một trong những ngành kinh tế trọng
điểm. Nông nghiệp phục vụ tất cả các mặt của đời sống xã hội, cung cấp
lương thực, thực phẩm, hàng nông lâm, thuỷ sản để chế biến xuất khẩu ... Đặc
biệt làm cho đời sống nông dân phát triển và thay đổi bộ mặt nền nông
nghiệp, nông thôn Việt Nam.
Mục tiêu kinh tế của Việt Nam là phấn đấu trở thành một nước
CNH, HĐH, chính vì vậy mà Đảng ta luôn luôn coi sản xuất nông nghiệp
là mặt trận hàng đầu và dành cho nền nông nghiệp những lợi thế đặc biệt

phát triển cách mạng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy Đảng và Nhà nước ta đã coi
việc sản xuất nông nghiệp là mặt trận hàng đầu. Chính vì vậy, đường lối, chủ
trương của Đảng về chỉ đạo sản xuất đã được đề cập trong những công trình:
PTS Nguyễn Sinh Cúc (1995), Nông nghiệp Việt Nam 1945 - 1975,
Nxb Thống kê, Hà Nội.
PGS Nguyễn Văn Bích (1994), Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp thành tựu, vấn đề triển vọng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
PGS Trương Thị Tiến (1999), Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông
nghiệp ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Chu Hữu Quý, Phát triển toàn diện kinh tế xã hội nông thôn, nông
nghiệp Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.
Đặng Kim Sơn, Nông nghiệp nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi mới
và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.

2


Ở tỉnh Bắc Giang đã có một số công trình nghiên cứu về nông nghiệp,
nông thôn, một số tài liệu nghiên cứu phát triển giống và cây trồng như: tập
thể tác giả Phan Đại Doãn, Đinh Xuân Lâm: Bắc Giang- Những chặng đường
lịch sử, Nxb Chính trị quốc gia (2005); Nguyễn Quang Ân, Ngô Quang Toản:
Địa chí Bắc Giang, Sở Văn hoá Thông tin Bắc Giang (2006) ; Nguyễn Công
Đồn: Lịch sử Đảng bộ huyện Lục Ngạn (1998); Trần Văn Đức: Lịch sử Đảng
bộ huyện Sơn Động, Nxb Chính trị quốc gia; Nguyễn Văn Vượng, LATS
nông nghiệp (2006): Nghiên cứu thực trạng sản xuất đặc tính nông sinh học
và một số biện pháp kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất xoài ở tỉnh Bắc
Giang; Hoàng Đăng Huyến, LATS: Nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ, các yếu
tố ảnh hưởng đến bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại Bắc Giang, (2004), Hà
Nội…
Nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách tổng quát và
chuyên sâu về tình hình phát triển nông nghiệp, nông thôn của tỉnh Bắc Giang

của tỉnh Bắc Giang trước năm 1997, khi tỉnh chưa được tái lập. Bên cạnh đó
còn hệ thống quá trình chỉ đạo xây dựng nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ
Bắc Giang.Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong phát triển nông
nghiệp, nông thôn của tỉnh. Đồng thời luận văn còn cung cấp tư liệu cho việc
nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Đảng bộ địa phương trong thời kỳ đổi mới.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Đặc điểm, tình hình nông nghiệp, nông thôn Bắc Giang
trước năm 1997
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo nông nghiệp, nông thôn
giai đoạn 1997 - 2006
Chương 3: Một số hạn chế chính trong phát triển nông nghiệp – nông
thôn và kinh nghiệm lãnh đạo phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ
Bắc Giang
4


Ch-¬ng 1
ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH NÔNG NGHIỆP,
NÔNG THÔN BẮC GIANG TRƯỚC NĂM 1997
1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Giang
Bắc Giang là một miền đất cổ, có truyền thống lịch sử gắn bó cùng với
cả nước trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước. Kể từ khi Thục Phán
sáng lập nước Âu Lạc, kế tục nước Văn Lang của Vua Hùng, vùng đất này đã
xuất hiện trên bản đồ đất nước. Qua các thời kỳ lịch sử, tỉnh Bắc Giang ngày
nay đã có nhiều tên gọi và địa giới hành chính khác nhau. Do yêu cầu của lịch
sử cũng như về kinh tế - xã hội, tỉnh Bắc Giang đã trải qua nhiều lần sáp nhập
và chia tách với Bắc Ninh. Năm 1962, theo quyết định của Quốc hội nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh được sáp nhập

“dải đất chuyển tiếp bắc Châu thổ” [32, tr.125]. Phía Đông nghiêng 300 –
500m, vùng núi phía Tây bắc (phía Bắc huyện Yên Thế) là chân của đồi núi
thuộc địa phận Thái Nguyên đã thoải dần xuống phía Nam. Khu vực này
không có núi cao như phía Đông của tỉnh mà hầu hết là những đồi tròn có độ
cao từ 100 – 200m, thấp dần xuống phía nam thành miền núi thấp trung du
của Bắc Giang với độ dốc phổ biến dưới 50m. Vùng trung du chủ yếu là đồi
thấp xen kẽ với đồng bằng có độ cao trung bình dưới 100m gồm thành phố
Bắc Giang, một phần huyện Hiệp Hoà, Việt Yên, Tân Yên bị cắt xẻ. Đây là
khu vực thuận lợi để phát triển cây ăn quả cũng như các cây lâu năm. Vùng
đồng bằng phù sa cổ ven sông Cầu, sông Thương… thuộc địa phận các huyện
Việt Yên, Tân Yên, Hiệp Hoà, Yên Dũng, Lạng Giang không chỉ là địa bàn
của cây lúa mà còn là nơi thuận lợi cho việc trồng một số cây ăn quả mũi
nhọn của tỉnh. Như vậy, địa hình đa dạng đã tạo điều kiện để Bắc Giang
6


phát triển nông lâm nghiệp theo hướng đa dạng hoá với nhiều cây trồng,
vật nuôi có giá trị hàng hoá phong phú, đáp ứng nhu cầu thị trường.
Khí hậu Bắc Giang cũng mang những đặc trưng chuyển tiếp, vừa có
tính chất nhiệt đới nóng ẩm, vừa có tính chất á nhiệt đới. Nhiệt độ bình quân
hàng năm là 23oC, lượng mưa trung bình là 1.500 – 1.700mm, đáp ứng nhu
cầu trồng trọt nhiều vụ trong năm. Bắc Giang nằm sâu trong đất liền nên
những cơn bão và áp thấp nhiệt đới từ biển Đông chuyển vào đã bị núi rừng
chặn bớt, ít gây tác hại. Như vậy, cùng với địa hình, khí hậu Bắc Giang đã tạo
ra nhiều thuận lợi cho một nền kinh tế nông nghiệp đa dạng về cơ cấu cây
trồng và vật nuôi.
Bắc Giang còn có nguồn tài nguyên đất đai lớn với hai nhóm đất chính
là nhóm phát sinh tại chỗ do quá trình phong hoá hình thành và nhóm đất bồi
tích do quá trình bồi tụ phù sa hình thành. Đất feralit màu vàng, đỏ vàng thuộc
vùng gò đồi phát triển trên đá phiến sét, phiến sa và biến chất. Loại đất này

kết các làng cùng nhau chia sẻ niềm vui, giao lưu văn hoá, giúp đỡ lẫn nhau
khi gặp khó khăn hoạn nạn [37, tr.22]. Ở các làng quê thường có đình, đền,
chùa, là nơi sinh hoạt của cộng đồng thôn xóm để bàn luận việc nước, việc
làng và để tiến hành lễ hội. Tuy nhiều đình, chùa, đền miếu nhưng con người
Bắc Giang không mang tính thần bí mà đậm đà tính nhân văn thấm sâu trong
từng câu ví, điệu chèo, trong các hình tượng điêu khắc.
Tốc độ tăng dân số của Bắc Giang trong mấy thập kỷ qua khá cao, từ
khoảng 2% đến 3% [37, tr.23]. Vào thập kỷ 90, công tác dân số và kế hoạch
hoá gia đình được đẩy mạnh nên tỷ lệ phát triển dân số đã được hạ xuống còn
1,60% (năm 1997). Trong cơ cấu Bắc Giang, dân số nông thôn chiếm tỷ lệ

8


hơn 80%. Trong thập kỷ 90, cơ cấu dân số đang có những chuyển biến theo
sự chuyển dịch của cơ cấu theo hướng CNH, HĐH.
Kết cấu dân cư nhiều thành phần dân tộc đã tạo cho Bắc Giang có một
truyền thống văn hoá vừa phong phú vừa đa dạng, đặc biệt là trong truyền
thống, phong tục canh tác khiến cho nông nghiệp Bắc Giang mang nhiều màu
sắc, phong thái hơn.
Như vậy, với những đặc điểm về tự nhiên và xã hội, Bắc Giang đã có
nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp đa dạng và phong phú.
Trên thực tế, nông nghiệp của Bắc Giang có một vị trí quan trọng đối với kinh
tế cả nước nói chung và kinh tế Bắc Giang nói riêng. Đặc biệt là từ khi tái lập
tỉnh cho tới nay, nền kinh tế của tỉnh đã có sự chuyển biến tích cực, mở ra
một thời kỳ phát triển mới của tỉnh Bắc Giang.
1.2 Chủ trương xây dựng nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ
Bắc Giang và những thành tựu nông nghiệp trước năm 1997
1.2.1 Thời kỳ từ năm 1975 đến năm 1986
Sau thắng lợi mùa xuân năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giải

sản xuất. Do đó, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn song sản xuất nông
nghiệp tỉnh Bắc Giang vẫn đạt được những thành tựu đáng kể.
Tuy nhiên, mô hình tổ chức và quản lý kinh tế nông nghiệp cùng với cơ
chế tập trung quan liêu bao cấp ở cả tầm vĩ mô và vi mô đã triệt tiêu tính tích
cực, chủ động của người lao động, của hộ gia đình và của bản thân các hợp
tác xã, các nông trường quốc doanh, làm mất động lực của sự phát triển. Do
đó, những năm cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80 của thế kỷ XIX, nền
kinh tế miền Bắc cũng như cả nước đã bắt đầu bộc lộ những dấu hiệu khủng
hoảng. Nền kinh tế đất nước nói chung, Bắc Giang nói riêng, đặc biệt là kinh

10


tế nông nghiệp - nông thôn đòi hỏi cần phải có sự thay đổi trong cơ chế quản
lý. Chính vì vậy, ở kế hoạch 5 năm tiếp theo, Đảng ta đã có những đổi mới
cục bộ trong cơ chế quản lý trong nông nghiệp: chỉ thị 100CT/TW của Ban bí
thư Trung ương (1979) và Nghị quyết số 10 “về đổi mới quản lý kinh tế nông
nghiệp” (hay còn gọi là khoán 10 năm 1988). Hai hình thức khoán mới của
Đảng đã tạo ra một bước phát triển mới trong sản xuất nông nghiệp do cơ chế
quản lý trong các hợp tác xã được nới lỏng, ruộng đất được khoán tới từng hộ
gia đình xã viên, người nông dân tự chủ hơn trong sản xuất.
Bắc Giang là một trong những tỉnh đi đầu trong việc thực hiện chủ
trương, đường lối của Đảng. Nếu như tháng 1/1981 Ban bí thư Trung ương đã
ban chỉ thị 100CT/TW, chính thức quyết định chủ trương thực hiện cơ chế
khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động thì cũng ngay trong
năm đó, các hợp tác xã nông nghiệp Bắc Giang đã tiến hành giao đất; giao
rừng; giao sức kéo cho xã viên; tập thể chỉ tập trung làm nhiệm vụ điều
hành các khâu: làm đất, thuỷ lợi, bảo vệ cây trồng, vật nuôi và quản lý sản
phẩm theo mức khoán. Từ đó, sức sản xuất được giải phóng, tư liệu sản
xuất được sử dụng có hiệu quả hơn, kinh tế hộ gia đình chuyển biến tiến

thôn luôn là nhiệm vụ trọng yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời
kỳ lịch sử.
Mười năm sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, sản xuất nông
nghiệp và xã hội nông thôn Việt Nam đã có những chuyển biến quan trọng,
nhất là sau khi có chỉ thị số 100CT/TW của Ban bí thư Trung ương Đảng
(khoá IV). Nhưng do những sai lầm chủ quan, duy ý chí và sự trì trệ của cơ
chế quản lý quan liêu, bao cấp kéo dài, làm cho sản xuất nông nghiệp cũng
như các lĩnh vực khác đã lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Trước
nhu cầu bức xúc của đời sống xã hội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
của Đảng (tháng 12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước mà
12


trước hết là đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế. Đại hội nhấn mạnh: “Muốn
đưa nền kinh tế sớm thoát khỏi tình trạng rối ren, mất cân đối, phải dứt khoát
sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý” [13, tr.47], Đại hội chỉ
rõ: “Nhiệm vụ trước mắt của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên
(1986 - 1990) là phải tập trung sức người, sức của thực hiện cho được 3
chương trình mục tiêu về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng
xuất khẩu”[13, tr.48]. Sản xuất nông nghiệp tiếp tục được coi là mặt trận hàng
đầu, vì vậy cũng phải được đổi mới từ nhận thức đến cơ chế, từ chính sách
đến điều hành, làm cho sản xuất nông nghiệp vận hành đúng quy luật khách
quan, đưa nông nghiệp từ tình trạng tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá,
phải đưa nông nghiệp tiến một bước theo hướng sản xuất lớn, nhằm yêu cầu
chủ yếu là tăng nhanh khối lượng và tỷ trọng hàng hoá nông sản. Nông
nghiệp phải được ưu tiên đáp ứng những nhu cầu về đầu tư xây dựng cơ sở
vật chất - kỹ thuật, về vật tư, về lao động kỹ thuật; những nguồn đầu tư phải
được sử dụng có hiệu quả. Đầu tư cho nông nghiệp phải đồng bộ từ sản xuất
đến chế biến vận chuyển, bảo quản để có nhiều sản phẩm cuối cùng. Đảng ta
cho rằng: “Củng cố, tăng cường kinh tế tập thể trên cả 2 mặt: nâng cao trình

cầu phát triển sản xuất hàng hoá của nền kinh tế thị trường. Chính đường
lối đổi mới của Đảng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đã khuyến
khích, tạo điệu kiện cho sự phát triển của đất nước trên tất cả các lĩnh vực
kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội.
Đã cụ thể hoá nội dung đổi mới trong nông nghiệp theo Nghị quyết Đại
hội VI của Đảng, ngày 5/4/1988 Bộ chính trị (khoá VI) ra Nghị quyết
10NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp. Quan điểm cơ bản của
Đảng về quản lý nông nghiệp là coi Hợp tác xã như đơn vị kinh tế tự quản,
hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ, nhận khoán với Hợp tác xã. Nghị
quyết 10 chỉ rõ: Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp nhằm khắc phục các
14


nhược điểm, sai lầm trong các chính sách lớn đối với nông nghiệp và phải đạt
yêu cầu:
- Thực sự giải phóng sức sản xuất; gắn sắp xếp, tổ chức lại sản xuất với cải
tạo xã hội chủ nghĩa, tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật và đưa tiến bộ khoa học
vào sản xuất nông nghiệp. Phát huy được mọi tiềm năng của các thành phần
kinh tế.
- Giải quyết đúng đắn các mối quan hệ về lợi ích, nhất là bảo đảm lợi
ích chính đáng của người sản xuất, trước hết là đối với người trồng lúa ...
- Mở rộng dân chủ, đề cao pháp chế, xây dựng nông thôn mới XHCN
- Đổi mới về tổ chức và cán bộ phù hợp với cơ cấu kinh tế và cơ chế
quản lý mới.
Nghị quyết 10NQ/TW đã thể hiện sự chuyển biến căn bản, rõ nét nhất
của tư duy kinh tế, đổi mới chính sách đối với nông nghiệp, nông dân, nông
thôn. Từ đây sản xuất nông nghiệp và đời sống của nông dân có những thay
đổi rõ rệt: người nông dân do tác động của cơ chế mới đã gắn bó với quá trình
sản xuất, chủ động trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của mình.
Tháng 3/1989, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 6 (khoá VI)

triển thống nhất trong nền kinh tế thị trường. Mặt quan trọng nữa là đổi mới
chính sách vĩ mô của Nhà nước, tạo tiền đề cho mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh, lưu thông trao đổi. Những vấn đề cơ bản trên đây, đặc biệt là nhận
thức đúng đắn về kinh tế hợp tác, về vị trí, vai trò kinh tế hộ tạo ra động lực
to lớn trong nông thôn. Nông nghiệp, nông thôn tìm lại chỗ đứng của mình để
phát triển trong xu thế đổi mới.
Tháng 6/ 1991, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng được
triệu tập. Đánh giá tổng quát thành tựu đổi mới, Đại hội nêu rõ, sau hơn 4
năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, công cuộc đổi mới đạt được những
thành tựu bước đầu rất quan trọng. Thành tựu nổi bật là tình hình chính trị của
16


nước ta ổn định, nền kinh tế có những chuyển biến tích cực song đất nước ta
vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, công cuộc đổi mới còn
những mặt hạn chế, những vấn đề kinh tế - xã hội nóng bỏng chưa được giải
quyết ... Đại hội xác định mục tiêu tổng quát trong 5 năm (1991 - 1995) là
phải đưa đất nước ta cơ bản thoát khỏi tình trạng khủng hoảng. Trong chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, Đại hội vẫn tiếp tục xem nông
nghiệp là mặt trận hàng đầu. Đại hội VII thông qua văn kiện quan trọng
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Cương lĩnh nêu rõ: “phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp
chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn
định tình hình kinh tế - xã hội” [14, tr.12].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng chủ trương tiếp tục
xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, tiếp tục đổi mới quản lý
kinh tế và khẳng định: “Để phát huy và kế hợp sức mạnh của tập thể và của
xã viên trong các hợp tác xã nông nghiệp, chúng ta chủ trương các hộ xã viên
là những đơn vị kinh tế tự chủ, đồng thời tăng cường vai trò của ban quản trị
hợp tác xã trong việc quản lý, điều hành sản xuất và tổ chức dịch vụ ở những

- dịch vụ nông thôn. Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, xây
dựng những cơ sở thiết yếu phục vụ công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn
(tăng nhanh tỷ trọng của những ngành này trong cơ cấu công - nông - dịch
vụ). Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần vận động theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Trên cơ sở tiếp tục phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ mà đổi mới
hình thức, nội dung kinh doanh và cơ chế hoạt động của Hợp tác xã. Đổi mới
doanh nghiệp Nhà nước, nâng cao hiệu quả kinh doanh và làm tốt chức năng
chủ đạo về vốn, khoa học công nghệ, thị trường, khuyến khích phát triển kinh

18


tế cá thể, kinh tế tư nhân trong công nghiệp nông thôn. Thực hiện chính sách
giao quyền tự chủ ruộng đất cho nông dân...
Nghị quyết Trung ương 5 là một bước phát triển mới về đường lối đổi
mới trong nông nghiệp. Đảng ta đã đưa ra một hệ thống quan điểm đồng bộ
về ba vấn đề lớn: nông nghiệp, nông thôn và nông dân; gắn phát triển sản xuất
nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới với nâng cao đời sống của nông dân.
Trong đó, Đảng ta tiếp tục khẳng định vai trò của kinh tế hộ, phát triển một
bước quan điểm về kinh tế hợp tác, chính sách kinh tế nhiều thành phần;
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH; giải quyết
vấn đề công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo ... Trong đó, nổi bật là sự đổi
mới về chính sách ruộng đất, điều này tác động đến nhiều vấn đề kinh tế xã
hội nông thôn trong quá trình đổi mới.
Từ sau Nghị quyết Trung ương 5, các Nghị quyết của Đảng tiếp tục
được phát triển, bổ sung thêm đường lối đổi mới nông nghiệp, nông thôn.
Đường lối đổi mới của Đảng được hoạch định, phát triển ở Đại hội VI, VII,
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ và các Hội nghị Trung ương
thực sự có tác dụng tháo gỡ những cản trở, trì trệ của cơ chế cũ và mở ra

Sản lượng các cây công nghiệp cũng tăng cao: sản lượng lạc vỏ năm 1986 đạt
5.632 tấn, năm 1995 đạt 7.478 tấn; sản lượng đỗ tương từ 4.530 tấn năm 1986
tăng lên 5.974 tấn năm 1995 [3, tr.26].
Trong sản xuất lâm nghiệp, việc giao đất khoán rừng tới từng hộ gia
đình đã mang lại nhiều thanh đổi đối với công tác bảo vệ rừng. Việc trồng cây
gây rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, việc chăm sóc, bảo vệ rừng, bảo vệ
cây mới trồng đạt kết quả tốt. Trong những năm 1986 - 1990, diện tích rừng
bị cháy giảm 85%; diện tích rừng bị phá giảm 35%. Bên cạnh đó, cán bộ tỉnh
còn hướng dẫn tổ chức nông dân thực hiện các dự án của của Nhà nước và
20


các dự án 327, dự án PAM, dự án đầu tư của các nước Ôxtrâylia, dự án Đức,
dự án của Hoàng Gia Thái Lan. Vì thế, diện tích trồng rừng ngày càng tăng:
năm 1995 là 5.575 ha, đến năm 1996 đạt 4.613 ha, trong đó trồng rừng theo
dự án 327 năm 1995 đạt 3.510 ha, năm 1996 đạt 2.891ha [37, tr.42].
Một trong những thế mạnh của tỉnh cũng được Đảng quan tâm phát
huy, đẩy mạnh phát triển là cây ăn quả. Các cấp uỷ từ tỉnh tới cơ sở đã tập
trung chỉ đạo việc trồng các loại cây ăn quả như: vải thiều, na dai, hồng, dứa
... và bước đầu đã mang lại hiệu quả kinh tế cao. Bà con nông dân trong
tỉnh hưởng ứng mạnh mẽ chủ trương đó nên diện tích và sản lượng cây ăn
quả không ngừng tăng nhanh. Đến năm 1996, toàn tỉnh đã trồng được
13.000 ha cây ăn quả, trong đó có trên 8.000 ha cây vải thiều với sản
lượng hàng năm đạt trên 5.00 tấn quả tươi, tạo thành vùng chuyên canh
cây ăn quả có giá trị. Cho tới nay, cây vải vẫn giữ được vị trí, vai trò của
mình đối với nền kinh tế nông nghiệp của cả tỉnh. Hà Bắc trở thàng tỉnh
đứng đầu về sản lượng cũng như chất lượng vải của cả nước [41, tr.67].
Cùng với sự tăng trưởng của ngành nông nghiệp, cơ cấu kinh tế ở nông
thôn cũng đã có bước chuyển đổi, bước đầu hình thành các vùng sản xuất
hàng hoá tập trung. Lượng hàng hoá nông lâm sản ngày càng lớn nên nhiều

thời điểm đất nước còn nhiều khó khăn do tàn dư chiến tranh để lại cũng như trong
giai đoạn tiến hành đổi mới đất nước, Hà Bắc luôn chủ động, linh hoạt triển khai
những chính sách của Trung ương Đảng và Bộ chính trị vào tình hình cụ thể của địa
phương. Nhờ đó, Hà Bắc đã nhanh chóng khắc phục những khó khăn, hạn chế của
nền kinh tế tập trung, cùng với cả nước hướng tới nền kinh tế thị trường, hàng hoá.
Là một trong những tỉnh đầu tiên thực hiện những chính sách nông nghiệp
tiến bộ (Khoán 100, khoán 10) vào thực tiễn sản xuất nên Hà Bắc đã sớm tạo ra
những tiền đề kinh tế mạnh để phát triển nông nghiệp – nông thôn. Trong sản xuất
có những thay đổi căn bản: quyền sở hữu của người nông dân đối với tư liệu sản
22


xuất được củng cố, kinh tế cá thể được coi trọng và phát huy mạnh mẽ, cơ chế quản
lý nới lỏng theo hướng thị trường. Những thay đổi đó đã mở ra một thời kỳ phát
triển mới của Hà Bắc.
Những thành tựu mà Đảng bộ và nhân dân Hà Bắc đạt được trong giai
đoạn này đã đặt nền tảng, cơ sở cho nền kinh tế Hà Bắc nói chung và kinh tế
nông nghiệp – nông thôn Bắc Giang nói riêng ở những giai đoạn sau.

23


Ch-¬ng 2
ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG LÃNH ĐẠO NÔNG NGHIỆP,
NÔNG THÔN (1997 – 2006)
2.1 Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng nông
nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH (1997 -2000)
2.1.1 Đường lối của Đảng về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Sau 10 năm đổi mới, nông nghiệp, nông thôn Việt Nam đã khởi sắc và
đạt những thành tựu to lớn, góp phần quyết định ổn định đời sống kinh tế của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status