VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO:TÀI CHÍNH VI MÔ VÀ TIẾP CẬN TÍN DỤNGCỦA NGƯỜI NGHÈO Ở NÔNG THÔN - Pdf 35

VIỆT NAM SAU KHI GIA NH ẬP WTO:
TÀI CHÍNH VI MÔ VÀ TI ẾP CẬN TÍN DỤNG
CỦA NGƯỜI NGHÈO Ở NÔNG THÔN
Báo cáo chính

Nhóm nghiên cứu:
TS. Hà Hoàng Hợp (Trưởng nhóm)
Th.s Nguyễn Minh Hương
Th.s Ngô Thị Minh Hương

Đơn vị thực hiện: Trung tâm Phát triển và Hội nhập
Vietnam Centre For Development And Integration

176 Thai Ha, Dong Da, Ha Noi, Vietnam – www.cdivietnam.org
Tel: 84 4 2163615 / 2163617 - Fax: 84 4 5377479 - Email:

Việt Nam sau khi gia nh ập WTO: Tài chính vi mô và ti ếp cận của người nghèo ở nông thôn

1


MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU

4

TÓM TẮT

5

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

CHÍNH VI MÔ Ở NÔNG THÔN – CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
13
II-1 Toàn cầu hoá và WTO

13

II. 2 Thách thức và cơ hội chính của WTO sau Hai

14

III. 3 – Chính sách về tài chính-ngân hàng của Việt Nam đối mặt với những thách thức của WTO

17

CHƯƠNG 3 TÍN DỤNG NÔNG THÔN VÀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VI MÔ

20

III.1 Nhìn lại kinh nghiệm phát triển của Tài chính vi mô

20

III.2.1 Cung cho dịch vụ tài chính vi mô

26

III.2.2 Cầu về dịch vụ taì chính vi mô

28


CHƯƠNG V: CÁC KHUY ẾN NGHỊ

44

47

V. I Chiến lược phát triển

47

V.II Khung chính sách

48

V.III Hoạt động của các thể chê Tài chính vi mô

49

Bảng 1 Lộ trình chính sách liên quan đến TCVM 19
Bảng 2 Cung và cầu dịch vụ tài chính vi mô cho các nhóm đối tượng
29
Bảng 3 Mức lãi suất của một số ngân hàng (ngày 17 tháng 6 năm 2008) 31
Bảng 4 Hoạt động của các tổ chức trong M7 (tính đến tháng 6/2007)
36
Bảng 5 Lộ trình chính sách 38
Bảng 6 Khuyếnn ghị cho lộ trình chính sách của tài chính vi mô 47
Bảng 7 Điểum yếu, mạnh, cơ hội thách thưc cho tài chính vi mô ở Việt nam
50
Bảng 8 Tóm tắt Khuyến nghị cho các tổ chức TCVM
51

nhà hoạt động thực tiễn về tài chính vi mô ở Việt Nam trong thời gian tới.
Chúng tôi hy vọng rằng, báo cáo nghiên cứu này sẽ là cơ sở cho việc xem xét các chính sách
tài chính vi mô và giúp cho việc thúc đẩy các hỗ trợ, hợp tác và củng cố các tổ chức và các
hoạt động tài chính vi mô giành cho người nghèo ở Việt Nam.
Báo cáo này được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu gồm Thạc sỹ Nguyễn Thị Minh Hương,
Thạc sỹ Ngô Thị Minh Hương và Tiến sỹ Hà Hoàng Hợp thuộc Trung tâm Phát triển và Hội
nhập. Chúng tôi trân trọng cảm ơn Thac sỹ Lê Hạnh Lê, Thạc sỹ Tạ Văn Tuấn thuộc
ActionAid Việt Nam và Tiến sỹ Rijk Adrianus đã giúp đỡ và cho những ý kiến thiết thực và xác
đáng trong cả quá trình nghiên cứu. Xin chân thành cảm ơn mạng lưới M7 và các thành viên
và các nhà lãnh đạo của ActionAid Việt Nam.

Việt Nam sau khi gia nh ập WTO: Tài chính vi mô và ti ếp cận của người nghèo ở nông thôn

4


TÓM TẮT
WTO đã mở ra nhiều cơ hội cho khu vực tài chính ngân hàng của Việt Nam, bao gồm cả các
cơ hội cho dịch vụ tài chính vi mô. Ở nhiều góc độ, hội nhập đã giúp cho tăng khả năng cạnh
tranh của các thể chế tài chính và thúc đây việc sử dụng hiệu quả hơn các nguồn vốn tiết kiệm
và cho vay. Tuy nhiên, sự bùng nổ của khu vực ngân hàng sau khi Việt Nam ra nhập WTO
trong năm đã không đưa ra được bằng chứng rõ rang về sự cải thiện của ngành tài chính vi
mô nông thôn thông qua việc liên kết tài chính vi mô với khu vực tài chính chính thức. Các cải
tổ về tài chính trong nước do vậy cũng khó có thể nói có mối liên hệ trực tiếp tới giảm nghèo
và do vậy người nghèo vẫn ít có cơ hôi hưởng lợi từ những cải tổ này.
Các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam trong khu vực tài chính phi chính thức tiếp tục đóng
vai trò quan trong trong việc giúp người nghèo. Các chương trình của các tổ chức phi chính
phủ và tổ chức xã hội có tôn chỉ mục đích tốt hướng tới giảm nghèo và phát triển xã hội cho
người nghèo, và cũng có khả năng tiếp cận tới người nghèo ở cơ sở và đặc biệt là phụ nữ bị
thiệt thòi. Nhu cầu của người nghèo, đặc biệt ở nông thôn và các vùng xa về dịch vụ tài chính

chức hoạt động có tiêu chuẩn, quy tắc thống nhất hoặc có một tổ chức bao trùm như Hiệp Hội
Các tổ chức tài chính vi mô Việt Nam. Điều này do vậy vẫn đặt các tổ chức tài chính vi mô ở
Việt Nam ở vị thế yếu thế hơn khi tham gia thị trường tài chính mở cửa. Trong tương lai gần,
các quy định hay khung pháp lý cho các t ổ chức tài chính vi mô ở Việt nam cần tính đến các
yếu tố tác động ảnh hưởng của WTO để giúp cho các MFIs phát tri ển tốt hơn và bền vững
hơn, và tiếp nhận được các cơ hội của WTO. Một trong những hạn chế còn tồn tại là sự khác
biệt về hệ thống, quản lý và các tiếp cận đã không cho phép các tổ chức tài chính vi mô tham
gia sâu hơn vào các dịch vụ tài chính được các ngân hàng quản lý.
Tóm lại, các hạn chế và thách thức của khu vực tài chính vi mô được coi là lớn để các tổ chức
thiết chế này có thể phát triển theo hướng thương mại và bền vững. Các hạn chế này bao
gồm;
 Khung giám sát và pháp ly vẫn khổng rõ ràng và hạn chế
 Lãi suất vẫn có thể tiếp tục bị kiểm soát bởi NHNN, tạo ra khu vực tài chính méo mó, và
NHCSXH cũng như nhiều ngân hàng thương mại quốc doanh khác vẫn được bao cấp
 Các chương trình TCVM của các tổ chức xã hội trong khu vực bán chính thức không theo
một cơ chế quản lý điều hành tố và do vậy hiệu quả và tính chuyên nghiệp cũng như sự
minh bạch không cao
 Cần có một diễn đàn hoặc cơ chế trao đổi thông tin, nghiệp vụ giữa các tổ chức tài chính
vi mô
 Việt nam có khung pháp lý khác tôt cho các ngân hàng th ương mại, kể cả cho các Hợp tác
xã, Quỹ tín dụng TW, Quỹ Tinh dụng nhân dân. Nhưng khung phap lý vẫn chưa hoàn thiện
cho các Tổ chức tài chính vi mô hoat động linh hoạt và hiệu quả
 Các tổ chức TCVM có mức đầu tư còn thấp
 Năng lực quản lý điều hành của các TCVM còn yếu

Việt Nam sau khi gia nh ập WTO: Tài chính vi mô và ti ếp cận của người nghèo ở nông thôn

6



1.1 Cơ sở
Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng
11/2006, là thành viên thứ 150 của tổ chức này. Sự kiện này là cột mốc quan trọng trong tự do
thương mại với sự cạnh tranh khắc nghiệt, quá trình tư hữu hoá, và sự tham dự nhiều hơn
của các đối tác nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Là thành viên của WTO, Việt Nam cam
kết đổi mới chính sách tài chính và thương mại của mình cho phù hợp với những đòi hỏi của
WTO. Đối với các dịch vụ tài chính, “tự do hoá” là bãi bỏ các rào cản tài chính trong nước, mở
cửa nền kinh tế đón các dòng vốn và thương mại quốc tế. Nó cũng có nghĩa là giảm dần sự
can thiệp trực tiếp của nhà nước thông qua cổ phần hoá những ngân hàng thuộc sở hữu nhà
nước, tự do hóa về giá, đặc biệt là định lãi suất theo thị trường, giảm các hạn chế về hoạt
động liên ngành, cho phép các ngân hàng, công ty b ảo hiểm, công ty tài chính thâm nhập vào
các ngành hoạt động của nhau.
Các đàm phán về thỏa thuận về dịch vụ tài chính (FSA) ở WTO nhằm mở cửa khu vực
ngân hàng Việt Nam cho sự tham gia của nước ngoài, trong một số trường hợp, mở cửa sẽ
thúc đẩy sự phát triển thị trường ngân hàng và củng cố các thể chế ngân hàng. Nhiều nghiên
cứu cho rằng cải cách tài chính trong nước có thể đóng vai trò giảm nghèo. Tuy nhiên mối liên
hệ giữa cải cách trong khu vực tài chính với giảm nghèo không đơn giản. Người nghèo
thường không có cơ hội tham gia vào các loại thị trường đó. Phần đông các ngân hàng
thương mại trong nước và ngân hàng nước ngoài đều không muốn tham gia nhóm cho vay
không chính thức, bởi vì tiểu thương nông thôn và những người sản xuất nông nghiệp nhỏ
được xem như là những người vay đầy rủi ro. Đồng thời, việc tư nhân hoá các ngân hàng
thuộc sở hữu Nhà nước có thể ảnh hưởng đến mục tiêu xã hội của các ngân hàng đó và loại
trừ những khách hàng không sinh lợi như người nghèo. Như vậy, hoạt động tài chính vi mô ở
khu vực phi chính thức và quy mô nhỏ có tính sáng tạo và tính xã hội vẫn có thể là hình thức
quan trọng cho sự phát triển dịch vụ tài chính và có thể đóng góp hiệu quả cho vào giảm
nghèo.
Với những cam kết WTO, sẽ cùng lúc có những cơ hội tích cực và ảnh hưởng bất lợi
đến việc tiếp cận các dịch vụ tài chính và tín dụng ở nông thôn. Người nghèo có lẽ chỉ là
những người hưởng lợi ít ỏi từ phát triển nhanh chóng, nhưng họ lại luôn phải chịu những hậu
quả nặng nề của đổ bể. Một số nghiên cứu trước đây cho thấy rằng tự do hoá tài chính trong

tiêu cụ thể là:


Xác định khả năng tiếp cận của ng ười nghèo và những người có nguy cơ bị gạt ra khỏi xã
hội/yếu thế với các dịch vụ tài chính từ khi Việt Nam là thành viên của WTO;



Đánh giá những cơ hội, thách thức và những rủi ro tiềm năng đối với các tổ chức tài chính
vi mô ở Việt Nam, gồm quản lý và hoạt động, khả năng tự vững, các khoản quỹ mang tính

1

Mosley P. (1999a), ‘Micro -macro Linkages in Financial Markets: The Impact of Financial Liberalization on Access to Rural
Credit in Four African Countries’, Journal of International Development 11, pp.367 -84.

Việt Nam sau khi gia nh ập WTO: Tài chính vi mô và ti ếp cận của người nghèo ở nông thôn

9


thị trường và phát triển bền vững.


Đề xuất cơ chế dịch vụ tài chính thích hợp nhằm cải thiện khả năng tiếp cận của ng ười
nghèo đến nguồn tín dụng sản xuất và tiếp thị với chi phí chấp nhận được đối với họ.

Những phát hiện của nghiên cứu này sẽ được sử dụng để vân động chính sách vì người
nghèo trong lĩnh vực ngân hàng. Nghiên cứu này cũng đưa ra những khuyến nghị về tổ chức
tài chính vi mô, đặc biệt là những thành viên của mạng lưới M7 trong việc xây dựng những

1.4 Phương pháp luận


Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở rà soát tài liệu, phỏng vấn cá nhân và tổ chức,
phỏng vấn sâu một số ngân h àng như Ngân hàng Nhà nư ớc Việt Nam, Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách xã hội, một số ngân hàng
thương mại trong nước và nước ngoài, và những tổ chức hỗ trợ dịch vụ t ài chính ở
Việt Nam. Các phỏng vấn ở mạng lưới M7 giúp phân tích những thách thức v à cơ hội
của MFIs trong việc thương mại hoá, phân tích những thông tin v à chiến lược của họ
trong bối cảnh mới của WTO.



Nghiên cứu tài liệu bao về khung pháp lý và điều tiết đối với các ngân hàng và các tổ
chức phi ngân hàng trong điều kiện gia nhập WTO.



Đi địa bàn trao đổi ý kiến với mạng lưới M7 ở ba địa bàn sau: tỉnh Sơn La, Quảng Ninh
và Ninh Thuận (xem phụ lục 2. Chương trình đi địa phương).



Khảo sát gồm phỏng vấn cá nhân, toạ đàm và hội thảo ngắn với các bên liên quan,
trưởng nhóm nghiên cứu trình bày những vấn đề chủ yếu và những vấn đề dịch vụ tài
chính vi mô nhằm thu được những ý kiến và nhận định từ những người được hỗ trợ
vốn. Quá trình này cũng có thể xem là những động tác cụ thể để nâng cao nhận thức
về tác động của WTO và vận động (Phụ lục 3 – danh sách những người được phỏng
vấn). Khảo sát ở địa phương gồm làm việc theo nhóm với người nghèo vay theo dịch
vụ tài chính vi mô để xem xét tiếp cận của họ và phản hồi của họ về các dịch vụ tài

Các khoảng cách về chính sách của Việt Nam c òn đang thách thức hoạt động của dịch
vụ tài chính vi mô trong bối cảnh hậu WTO để đảm bảo t ài chính vi mô tiếp tục phục vụ
được người nghèo là gì?



Ngành tài chính vi mô của Việt Nam có thể bền vững v à duy trì vì mục tiêu giúp người
nghèo trong bối cảnh hậu WTO hay không?

1.5 Giới hạn nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện ở Việt Nam, có đề cập đến Đông Nam Á, Nam Á và một số
nước trên thế giới có dịch vụ tài chính vi mô phát triển. Nghiên cứu cũng rà soát một số báo
cáo đã có về ngành ngân hàng, tài chính và m ột số báo cáo liên quan. Tuy nhiê n, số liệu về tài
chính vi mô không nhiều và không được thông kê chính thức. Nghiên cứu này ưu tiên tìm hiểu
mạng lưới M7 với tư cách là dịch vụ tài chính vi mô trong khu vực phi chính phủ, theo yêu cầu
của ActionAid Việt Nam với mẫu tham vấn tại 3 địa bàn trong phạm vi 7 tỉnh hoạt động của
nhóm M7. Nghiên cứu này không đề cập nhiều đến các dịch vụ khác (như TYM của Hội Liên
hiệp Phụ nữ Việt Nam hay CEF ở miền Nam và các chương tr ình phi chính phủ khác cũng
đang tham gia vào thị trường tín dụng rộng lớn ở nông thôn). Điều đó có nghĩa là các phân
tích và khuyến nghị về tính bền vững của các định chế taì chính vi mô có thể không toàn diện
áp dụng cho mọi định chế tài chính vi mô.
Nghiên cứu đã nhận được nhiều ý kiến phản hồi của các bên liên quan về ngụ ý của WTO
và toàn cầu hóa với hoạt động của tín dụng vi mô nông thôn và qua đó nhóm nghiên c ứu cũng
có thể rút ra một số nhận xét:


Nhận thức của người dân về toàn cầu hóa và WTO còn thấp do không đủ thông tin
và các phân tích đúng ở cấp địa phương



sang các định chế khác, rõ nhất là sang những định chế điều hành toàn cầu và khu vực. Thứ
ba, sự phổ biến văn hoá toàn cầu hay các nền văn hoá hình thành từ các hình thái tổ chức xã
hội, lối sống, thái độ và niềm tin.

2. Toàn cầu hoá dẫn đến hội nhập kinh tế. Hội nhập kinh tế đem lại những thay đổi về
những tiêu chuẩn toàn cầu trong việc quản lý kinh tế trong nước. Những tiêu chuẩn đó thể
hiện chủ yếu theo các điều kiện trong “sự đồng thuận Washington”. Những nhóm điều kiện đó
đang hạn chế tự do đối với một số nền kinh tế đang phát triển. Những nền kinh tế đang phát
triển đó đang cố gắng hội nhập với nền kinh tế thế giới với hy vọng tìm kiếm được nhiều cơ
hội hơn nữa để phát triển. Nhưng các cơ hội lại sánh đôi cùng các thách thức. Đối với những
nền kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt Nam, toàn cầu hoá chủ yếu được hiểu là hội nhập
kinh tế quốc tế và tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế giới. Những nền kinh tế này cần tri
thức, thông tin, kinh nghiệm liên quan và hiểu biết đa văn hoá để có thể huy động mọi nguồn
lực cần thiết thúc đẩy phát triển nền kinh tế của mình.

3. WTO quyết định chính sách và thực hành cho mọi thành viên của nó WTO bao gồm
cả Việt nam (thành viên thứ 150 của WTO). WTO đề ra những nguyên tắc và thực hành
thương mại quốc tế, ở đó những cơ hội đều hết sức phức tạp và khó nắm bắt, đặc biệt khi
thành viên là nước đang phát triển. Lợi thế so sánh và những kết quả thu được từ thương mại
dường như ít thay đổi trong thương mại quốc tế trong bối cảnh WTO. Mọi thành viên của
WTO đều tuân thủ cùng những vấn đề của thương mại quốc tế giống như chúng đã tồn tại
trước khi gia nhập WTO: tỷ giá hối đoái, thuế quan, bảo hộ.

Việt Nam sau khi gia nh ập WTO: Tài chính vi mô và ti ếp cận của người nghèo ở nông thôn

13


4.


với thâm hụt ngân sách trung bình là 8% GDP những năm 1980. Thâm hụt ngân sách năm
1999 là 1,3% GDP, năm 2000 là 2,7%, năm 2001 là 2,9%, năm 2002 là 2,3% và năm 2003 là
2,1%. Chính phủ cũng đặt mục tiêu duy trì thặng dư thu nhập vãng lai so với chi tiêu thường
xuyên là 4,5% GDP. Tỷ lệ này là 5,1% năm 1999, 5,2% năm 2000, 3,9% năm 2001, 5,8% năm
2002 và 5,1% năm 2003.
Việt Nam sau khi gia nh ập WTO: Tài chính vi mô và ti ếp cận của người nghèo ở nông thôn

14


7. Nhận thức chính trị về việc gia nhập WTO đã được cân nhắc về những lý lẽ tán
thành và phản đối, sau đó tiến tới đồng thuận. Đôi khi, sự cân bằng cần có cho nên kinh tế
dựa trên tri thức hơn là phân tích sâu sắc những hậu quả của việc gia nhập WTO đối với nông
nghiệp và những hoạt động khác ở khu vực nông thôn. Việc xây dựng năng lực và kỹ năng
cho các ngân hàng thương mại và các thiết chế tài chính khác được cho là ưu tiên, nhưng lại
tập trung chủ yếu nhằm vào những thị trường “lớn”, chứ không cho ngành tài chính vi mô.

8. Tăng trưởng thương mại của Việt Nam theo hướng xuất khẩu hàng hoá là rất đáng
ghi nhận, với lợi thế so sánh đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu hàng nông nghiệp. Tuy nhiên
vấn đề tỷ giá hối đoái vẫn còn một vấn đề khi còn vướng mắc nhằm tăng hiệu quả của việc
thực hiện cơ chế tỷ giá thả nổi có điều tiết. VIệc cấp vốn cho những khu vực sản xuất hàng
xuất khẩu đang phát triển mạnh được ưu tiên và điều đó có nghĩa là cần cấp vốn và tín dụng
ở nông thôn cho việc sản xuất rộng rãi những mặt hàng nông nghiệp hay là mặt hàng xuất
khẩu cũng được ưu tiên. Tuy nhiên, vì tài chính vi mô ch ỉ chiếm tỷ lệ nhỏ - dưới 5% tài chính
và tín dụng nông thôn. Hầu hết các dịch vụ tài chính vi mô không tr ực tiếp liên quan đến việc
sản xuất hàng xuất khẩu, vì thế tài chính vi mô không m ấy hấp dẫn đối với các dịch vụ tài
chính thông thường.
Cơ hội
9. Hệ thống nông nghiệp và lương thực cần phải đảm bảo sự dồi dào của hàng hóa
nông nghiệp. nhưng đối với Việt nam, trợ cấp cho hệ thống nông nghiệp và lương thực sẽ

1. Cơ hội


Nhu cầu về dịch vụ ngân hàng gia tăng, đặc biệt là dịch vụ ngân hàng quốc tế: sự
gia tăng các luồng chu chuyển thương mại hàng hóa hai chiều (từ Việt Nam sang các
nước và từ các nước vào Việt Nam) sẽ kéo theo sự gia tăng nhu cầu về dịch vụ ngân
hàng



Hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của các ngân hàng được nâng cao:
hội nhập quốc tế sẽ buộc các ngân hàng phải hoạt động theo nguyên tắc của thị
trường, sẽ dẫn đến quá trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, phân chia lại thị trường
giữa các nhóm ngân hàng (thương mại nhà nước, thương mại cổ phần và nước ngoài)
theo hướng cân bằng hơn, tiến tới các ngân hàng hoạt động theo hướng chuyên môn
hóa



Cơ hội học hỏi kinh nghiệm, nâng cao trình độ công nghệ và quản trị ngân hàng
được mở rộng



Khơi thông và thu hút ngu ồn vốn: hội nhập quốc tế, gia nhập WTO góp phần khơi
thông dòng vốn nhờ loại bỏ hàng rào thuế quan, tăng xuất nhập khẩu, thu hút FDI và
ODA; các ngân hàng trong nư ớc có khả năng huy động các nguồn vốn từ thị trường tài
chính quốc tế.

2. Thách thức

là quy định về quản trị điều hành chưa phù hợp với thông lệ quốc tế: tạo ra sự
phân biệt đối xử giữa các loại hình tổ chức tín dụng, giữa các nhóm tổ chức tín dụng,
còn có sự bảo hộ của nhà nước đối với các NHTMNN; một số quy định pháp luật thể
hiện sự can thiệp hành chính quá sâu vào ho ạt động của các tổ chức tín dụng, hạn
chế quyền tự chủ kinh doanh của các tổ chức tín dụng; hiệu lực thi hành pháp luật
trong lĩnh vực ngân hàng chưa cao dẫn đến các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ
chức tín dụng chưa được bảo vệ hợp lý

Trích bài tham luận của ông Bùi Huy Thọ - Phó trưởng Ban Giám sát Các Tập đoàn
Tài chính, Ủy ban Giám sát Tài chính Qu ốc gia

II. 3 – Chính sách về tài chính-ngân hàng của Việt Nam đối mặt với những thách thức
của WTO
11.

Mục tiêu chủ yếu của chính sách tiền tệ ở Việt Nam là giữ ổn định giá trị đồng tiền Việt

Nam (VND), kiểm soát lạm phát và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Tín dụng được hướng
vào những hoạt động để khai thác sử dụng toàn bộ tiềm năng của các khu vực kinh tế khác
nhau. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ như
tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, hoạt động của thị trường mở và những công cụ khác
nhằm điều chỉnh cung tiền. NHNN áp dụng hình thức tỷ suất tái chiết khấu đồng nhất đối với
tất cả các ngân hàng thương mại từ năm 1999. Chính sách tín dụng tiếp tục được tăng cường
để thỏa mãn các yêu cầu của cấp vốn để đạt tăng trưởng kinh tế phù hợp với các mục tiêu
chính sách tiền tệ. Cơ chế tín dụng đã được sửa đổi theo hướng cởi mở hơn nhằm tăng hiệu
quả, nâng cao tính tự chủ và tính trách nhiệm của các tổ chức tài chính, và tăng cường chất
lượng tín dụng.
12.

Sự đô la hoá mạnh đồng tiền Việt Nam là nguồn rủi ro thực sự đối với hệ thống tiền tệ

của tổ chức phi chính phủ tự quy định lãi suất cho chương trình.
14.

Đối với ngành ngân hàng tài chính, Pháp L ệnh Ngân hàng nhà nước, Pháp lệnh các tổ

chức tín dụng đã được thay bằng Luật Ngân hàng nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng.Việc
sắp xếp lại các ngân hàng thương mại nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả đã được áp dụng
từ năm 2001 với nhiểu biện pháp. NHNN dự kiến cho đến năm 2010 sẽ cổ phần hoá hầu hết
các ngân hàng thương mại nhà nước, NHNN sẽ tiếp tục thực hiện chức năng quản lý nhà
nước, thanh tra và giám sát các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng. Chất lượng
tài sản, kỷ cương, quản lý rủi ro đã được cải thiện đáng kể trong các ngân hàng thương m ại
hoặc cổ phần. Cho vay chính sách đã được tách khỏi các hoạt động tín dụng thương mại và
được giao cho các ngân hàng chính sách xã h ội.
15.

Khi tham gia vào WTO, Việt nam cũng đã xây dựng được một số luật theo yêu cầu của

WTO, về các lĩnh vực đầu tư, phát triển kinh doanh. Những luật này cũng có tác động tới các
hoạt động tín dụng, tuy nhiên không hẳn có tác động trực tiếp và rõ ràng đối với sự phát triển
của tài chính vi mô của Việt Nam (bảng 1)
Việt Nam sau khi gia nh ập WTO: Tài chính vi mô và ti ếp cận của người nghèo ở nông thôn

18


Bảng 1: Lộ trình chính sách liên quan đến TCVM
Năm

Luạt ban hành


Luật đầu tư

Tuẩn thủ Công ước quốc tế: các nhà đâu tư có
quyền tiếp cận như nhau tới nguồn vốn, trao
đổi ngoại tệ, đất và tài nguồn, có các cơ hội
đầu tư công bằng, có quyền khiếu nại v.v

2003

Luật đất đai

Các doanh nghiệp được cầm cố tài sản (liên
quan đến đất đai) và quyền sử dụng đất làm
đảm bảo và thế chấp cho các hoạt động tín
dụng

2009

Luật Thuế thu nhập cá Một hệ thông thuế đơn
nhân (sửa đổi)

Tương thích với luật thuế tiêu thụ đặc biệt và
Luật thuế Doanh nghiệp

Việt Nam sau khi gia nh ập WTO: Tài chính vi mô và ti ếp cận của người nghèo ở nông thôn

19


CHƯƠNG 3

ở châu Âu, Châu Á - Philippines, Trung Quốc, Bangladesh, và… Việt Nam.

18.

Hiện nay, có khoảng 60 tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô ở Tây Âu, gần một

nửa số đó được thành lập năm 2000 hoặc muộn hơn, với hoạt động quy mô nhỏ là chủ yếu.
Chỉ có một số ít có tầm quốc gia như France Adie và Finland Finerva. 10 tổ chức có kế hoạch
phát triển danh mục cho vay để đầu tư khoảng 240% năm 2006. Chẳng hạn, Adie
(Association pour le Droit à l‘Initiative Economique), ra đời năm 1989, hiện đã có khoảng 300
nhân viên, 700 tình nguyện viên. Adie cung cấp dịch vụ cho những người thất nghiệp và
những người nhận trợ cấp xã hội – nhóm này chiếm 50% số người vay. Adie cho vay tới
5.000 EUR với tỷ giá thị trường, chính phủ trợ cấp tiền khởi động ban đầu và những khoản
cho vay không lãi suất. Adie còn tư vấn kinh doanh cho những doanh nghiệp vi mô. Thu nhập
chỉ bao gồm chi phí, khoảng 30%. Từ năm 1989, Adie đã cho 23.000 khách hàng vay. Năm
Việt Nam sau khi gia nh ập WTO: Tài chính vi mô và ti ếp cận của người nghèo ở nông thôn

20


2004, có 10.000 người vay. Một ví dụ khác là Fundació Un Sol Món, tr ụ sở tại Tây Ban Nha,
được thành lập bởi ngân hàng tiết kiệm Caixa Catalunya năm 2000, Fundació Un Sol Món
hoạt động cấp khu vực. Nhóm khách hàng chính c ủa gồm những người không có đặc quyền
và cộng đồng, những nhà doanh nghiệp làm ăn đơn lẻ thuộc lĩnh vực dịch vụ. Các sản phẩm
của nó là các khoản cho vay kiểu ngân hàng truyền thống từ 5.000 đến 8.000EUR. Từ cuối
năm 2004, lãi suất (6%) bao gồm rủi ro (4,6%) và bắt đầu bao gồm cả chi phí buôn bán (hiện
là 75%). Từ năm 2000, hơn 600 khoản vay vi mô đã được thực hiện với tổng giá trị là 5,6 triệu
EUR.
19.




phi chính phủ được thành lập với rất nhiều chương trình nhỏ có một số tổ chức lớn sinh lời
như Fundusz Mikro. Từ năm 2002, MFI lớn nhất Đông Âu về danh mục cho vay và số người
vay có hiệu quả và khả năng vươn xa là ngân hàng tài chính vi mô ProCredit Bank Bulgaria
(số người vay có hiệu quả năm 2003: 16,000, tổng số tiền cho vay là 790 triệu USD). Fundusz
Mikro được thành lập tại Ba Lan năm 1994


Hoạt động rộng khắp đất nước (32 chi nhánh), 93 nhân viên. Nhóm khách hàng là
những doanh nhân vi mô.



Sản phẩm: cho vay để khởi động các doanh nghiệp vi mô với luồng tiền dương; sử
dụng biện pháp cùng ký kết thay cho việc thế chấp;



Từ năm 1994, có 33.800 doanh nghiệp vi mô được vay vốn. 11.058 người vay có
hiệu quả.


20.

Tháng Tư năm 2005.

Ở Đông Âu tài chính vi mô nh ằm các mục đích khác nhau: được tham gia trong xã hội,

phát triển doanh nghiệp vi mô, phát triển khu vực, tạo việc làm. Các dịch vụ tài chính vi mô tạo

thêm (nhiều hơn, lâu hơn, lãi suất thấp hơn)

Việt Nam sau khi gia nh ập WTO: Tài chính vi mô và ti ếp cận của người nghèo ở nông thôn

22




Thực hiện theo cách cho vay phi chính thức (“bên cho vay”): nhân viên cho
vay có trách nhiệm đối với toàn bộ quy trình vay, mức lương quy định theo
lãi suất thu được (phụ thuộc vào số lượng, tần suất và chất lượng cho vay)



Phi tập trung hoá, kiểm soát hiệu quả và có sự hỗ trợ của công nghệ thông
tin.



Tối đa hoá lợi ích của khách hàng (tiện lợi, trình tự thủ tục không mất thời
gian)

22.

Tài chính vi mô của Ấn Độ phát triển cho đến hiện nay một phần nhờ nhóm tự lực

(SHG) và vì lợi ích tăng trưởng đáng kể của các tổ chức tài chính vi mô (MFIs) cung c ấp
những dịch vụ tài chính giá trị nhỏ cho những gia đình thu nhập thấp. Mô hình dịch vụ tài
chính vi mô này là theo kinh nghi ệm của SHGs của các tổ chức phi chính phủ theo truyền

24.

Ở Việt Nam, Ngân hàng Thế giới đã và đang hỗ trợ sự phát triển của khu vực ngân

hàng nông thôn (là một phần của dự án tài chính nông thôn). Dịch vụ ngân hàng di động cũng
được ngân hàng đầu tư phát triển triển khai, được thử nghiệm từ những năm 2000-2001 với
khoảng 159 xe ngân hàng lưu động. Mỗi xe ngân hàng lưu động này phục vụ khoảng 62 điểm
một tháng, mở thêm khoảng 2000 tài khoản tiết kiệm mới, trị giá khoảng 19 tỷ động, và
khoảng 2000 khoản vay, trị giá 10 tỷ dư nợ/ tháng. Những xe ngân hàng lưu động này giúp
các hộ gia đình nông thôn, bao gôm các h ộ gia định dân tộc thiểu số nâng cao đời sống việc
làm qua việc tiếp cận dịch vụ ngân hàng. Đây có lẽ là hình thức mô hình mang lại ích lợi lớn
nếu được áp dụng ở cả các ngân hàng ngoài quốc doanh.

III.2 Năng lực cạnh tranh của khu vực tài chính vi mô ở Việt Nam\
Khung phân tích: Mô hình kim c ương
Môi trường tài chính vi mô, chiến lược, các đối thủ cạnh tranh. Nhin chung, các quy ết định và chiến

lược của các tổ chức tài chính vi mô đã có tác động đến năng lực cạnh tranh trong tương lai. Các t ổ
chức tài chính vi mô nếu kết hợp chiến lược với nhau sẽ nâng cao được năng lực cạnh tranh và đối
mặt được với các thách thức của quá trình toàn cầu hóa
Điều kiện Cung: Tính hiệu quả, chất lượng và đầu vào cho các tổ chức tài chính vi mô như con

người, vốn, phương tiện, công nghệ và khoa học còn yếu
Điều kiện Cầu: trong bối cảnh hội nhập của Việt nam, nhu cầu về tài chính vi mô rất cao, để giảm

nghèo nhanh hon và giúp ngư ời nghèo phát triển kinh tế, tuy nhiên, dịch vụ tài chính vi mô cần đáp
ứng được các điều kiện cạnh tranh, đa dạng hóa các dịch vụ và mức độ công nghệ thông tin
 Các ngành phụ trợ liên quan: Ở Việt Nam, sự phát triển nhanh chóng của một số ngành phụ trợ như

công nghệ thông tin, ngân hàng, sản xuất chế biến nông sản v.v có thể giúp tăng tính cạnh tranh và


Cơ hội
Kênh Huy động nguồn vốn nhiều hơn
Nhu cầu nhiều hơn

Các ngành dịch vụ liên quan:
Ngành nông nghiệp và dịch vụ phát triển
nhanh
Ngành Công nghệ thông tin, ngân hàng trực
tuyến

Ngân hàng chính
sách
Quỹ tín dụng
nhân dân
Ngân hàng
NN&PTNT
ình qu

Các quỹ do các tổ
chức xã hội, Phi chính
phủ
Chương trình mục
tiêu XĐGN

Ngân hàng thương
mại

NS nhà nước, các
chương tr

Giao dịch tài chính
vi mô/ngân hàng

Việt Nam sau khi gia nh ập WTO: Tài chính vi mô và ti ếp cận của người nghèo ở nông thôn

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status