Việt Nam sau khi gia nhập WTO - Pdf 67

Gia Nhập WTO
Nhóm 7
Phần 1. Tổng quan WTO và tiến trình gia nhập của VN
1.1 Tổng quan WTO
1.1.1 Giới thiệu chung về WTO
- WTO là từ viết tắt của World Trade Organization, tổ chức thương mại thế giới.
- Ngày thành lập: 1/1/1995
- Trụ sở chính: Geneva, Thụy Sỹ
- Thành viên: 150 nước (tính đến ngày 7/11/2006) chiếm khoảng 90% dân số thế
giới, 95% GDP và 95 % giá trị thương mại toàn cầu.
- Tiền thân của tổ chức này là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
(GATT), được 23 quốc gia ký kết vào năm 1947 nhằm tăng cường giao lưu
thương mại giữa các quốc gia thông qua việc cắt giảm các hàng rào bảo hộ ở mỗi
nước thành viên.
- Cơ cấu tổ chức: GATT chỉ là một hiệp định thương mại đa phương, không phải là
một tổ chức. Trong khi đó, WTO là một tổ chức hoàn chỉnh, bao gồm các cơ quan
có thẩm quyền như Hội nghị Bộ trưởng, Đại hội đồng, các Uỷ ban chức năng và
Cơ quan giải quyết tranh chấp. Giúp việc cho các cơ quan này là Ban Thư ký với
hơn 600 nhân viên, đứng đầu là Tổng thư ký. Trụ sở WTO đặt tại Giơ-ne-vơ,
Thụy Sỹ. Các Thành viên tham gia vào hoạt động của WTO thông qua phái đoàn
đại diện. Các quyết định quan trọng nhất của WTO được thông qua tại Hội nghị
Bộ trưởng (họp ít nhất 2 năm một lần) hoặc tại các cuộc họp của Đại hội đồng
(cấp đại sứ, họp thường xuyên tại Giơ-ne-vơ). Mỗi thành viên có một phiếu biểu
quyết, không phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế hay mức niên liễm đóng góp.
1.1.2 Chức năng
• Quản lý, giám sát và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi các hiệp định của
WTO
• Thúc đẩy tự do hoá thương mại thông qua các cuộc đàm phán đa phương về tự
do hoá thương mại.
• Giải quyết tranh chấp thương mại giữa các Thành viên theo các quy tắc, trình
tự, thủ tục do WTO quy định

Việt Nam gia nhập
- 8/1996: Việt Nam gửi tới Ban thư ký WTO "Bị Vong lục về Chế độ
ngoại thương Việt Nam". Sau đó, Ban Công tác đã tổ chức 9
phiên họp để đánh giá tình hình chuẩn bị của Việt Nam và
2
tạo điều kiện để Việt Nam trực tiếp giải thích chính sách.
- Đầu 2002, Việt Nam đã gửi Bản chào ban đầu về thuế quan và Bản
chào ban đầu về dịch vụ tới WTO. Bắt đầu tiến hành
đàm phán song phương với một số thành viên có yêu
cầu đàm phán từ năm 2002 - 2006.
- 4/2004: Bản chào 4 với những cam kết đột phá
- 10/2004: Kết thúc đàm phán song phương với EU - đối tác lớn
nhất.
- 2005: Năm bản lề của đàm phán song phương (kết thúc được
đàm phán song phương với 20 đối tác và đạt tiến bộ rất quan
trọng trong đàm phán song phương với Hoa Kỳ) Sang đầu
năm 2006, ta kết thúc đàm phán với Niu Dilân, ngay sau đó
là Úc và các nước Mỹ La-tinh còn lại.
- 13/5/2006: Kết thúc đàm phán song phương thứ 13 với Mỹ tại
Washington - đối tác cuối cùng trong 28 đối tác có yêu cầu đàm
phán song phương.
- 26/10/2006: Kết thúc phiên đàm phán đa phương cuối cùng. Ban Công tác
chính thức thông qua toàn bộ hồ sơ gia nhập WTO của Việt Nam.
Tổng cộng đã có 14 phiên họp đa phương từ tháng 7/1998 đến tháng
10/2006.
- 7/11/2006: WTO triệu tập phiên họp đặc biệt của Đại Hội đồng tại
Geneva để chính thức kết nạp Việt Nam vào WTO.
3
Phần 2. Cơ hội - Thách thức và Giải pháp
2.1 Cấp độ quốc gia

ứng sẽ dựa trên nhu cầu của người dân nước đó đối với hàng hóa nước ta chứ
không phải như trước đây, rất nhiều mặt hàng như may mặc, giày da… đều phải
4
chịu hạn ngạch nhập khẩu, dẫn đến việc các doanh nghiệp phải mua bán quota để
có thể xuất khẩu.
 Thứ hai, khi đã là thành viên WTO, hàng hóa xuất khẩu của Việt nam sang thị
trường các nước thành viên khác cũng sẽ ít bị vấp phải hàng rào thuế quan. Theo
các chuyên gia kinh tế, khi chưa là thành viên của WTO, thuế suất áp dụng đối với
các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam tại các thị trường có thể lên tới 30-40%;
thậm chí nếu bị cáo buộc bán phá giá, có khi lên tới 50-70%. Nhưng, khi đã là
thành viên của WTO, mức thuế này sẽ hạ xuống còn 0-5% (nếu không có tranh
chấp thương mại).
Như vậy, có thể thấy rằng, gia nhập WTO sẽ rộng mở cánh cửa xuất khẩu đối với các
doanh nghiệp Việt Nam. Không những thế, chúng ta còn được bảo vệ bởi các quy chế của
WTO nếu xảy ra tranh chấp thương mại. là một thành viên bình đảng như cấc thành viên khác
của WTO, Việt Nam sẽ được hưởng các nguyên tắc cơ bản của tổ chức như: nguyên tắc không
phân biệt đối xử (Đãi ngộ quốc gia, đãi ngộ tối huệ quốc), tự do thương mại, các quy chế, quy
định thương mại phải được công bố công khai, thực hiện ổn định… Những điều này rất có lợi
cho Việt Nam mỗi khi xảy ra những tranh chấp thương mại với các thành viên khác, đặc biệt là
những nước lớn vì Việt Nam là một nền kinh tế nhỏ. Trước đây khi xảy ra các tranh chấp này
như những vụ kiện bán phá giá cá da trơn, hàng may mặc (cùng với Trung Quốc)…, thông
thường nước ta thường là người phải chịu thiệt thòi, phải bắt buộc chấp nhận những mức thuế
trừng phạt do những nền kinh tế lớn áp đặt. Ngày nay với việc được bảo vệ trong những quy
định của WTO, lợi ích của chúng ta sẽ được bảo đảm nhiều hơn trong các cuộc tranh chấp
thương mại này.
2. Môi trường đầu tư, kinh doanh ngày càng hoàn thiện và thông thoáng. Hoàn
thiện dần thể chế kinh tế thị trường.
Như đã nói ở trên, hội nhập kinh tế quốc tế như là con tàu đi vào đại dương. Đại dương
là của rất nhiều người và nó có những luật lệ chung mà mọi chiếc thuyền muốn hoạt động
được trong đó đều phải tuân theo. Do vậy, nền kinh tế muốn hội nhập được phải tuân thủ

Kỳ, EU, Nhật Bản. Nhờ đó mà các doanh nghiệp của chúng ta có thể nâng cao năng suất lao
động, tiết kiệm các chi phí về nhân công, rút ngắn chu kỳ sản xuất của sản phẩm, đồng thời
cũng đã tạo ra được những sản phẩm mới đáp ứng được các yêu cầu khắt khe về chất lượng và
mẫu mã từ các nhà nhập khẩu, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm công
nghiệp Việt Nam. Về vấn đề nhân lực, hội nhập kinh tế quốc tế cũng mang lại cơ hội nâng cao
tay nghề cho người lao động và trau dồi kiến thức, nâng cao kinh nghiệm quản lý cho người
điều hành quá trình sản xuất. Kết quả là các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã
vào Việt Nam ngày một tăng trong hơn 10 năm trở lại đây. Riêng 4 tháng đầu năm 2006, con
số này là trên 2,3 tỷ đô la Mỹ, đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của nền kinh
tế.
4. Chủ động hơn trong việc tham gia xây dựng các chính sách thương mại tòa cầu
như các thành viên khác và bảo vệ lợi ích kinh tế chính đáng của đất nước, của
doanh nghiệp và người lao động.
Là một thành viên bình đẳng như những thành viên khác của WTO, Việt Nam sẽ được
góp tiếng nói của mình trong việc đưa ra những quyết sách chung của WTO. Cũng nhờ đó mà
nước ta có thể chủ động hơn trong việc bảo vệ lợi ích của mình trước những chính sách không
hợp lí và bình đẳng giữa tất cả các quốc gia thành viên. Việt Nam có thể bỏ quyền phủ quyết
đối với những quyết định bất hợp lí trên. Điều này khác hoàn toàn so với trứơc đây khi chúng
ta chưa là thành viên, chúng ta phải chấp nhận mọi quyết định áp đặt.
2.1.2 Thách thức
6
Đi đôi với những cơ hội kể trên là những thách thức không hề nhỏ. Hiện nay, rất nhiều
ngành kinh tế đang lo lắng trước áp lực cạnh tranh của các nước, đặc biệt là những ngành nông
nghiệp, công nghiệp… Cũng có 4 thách thức chủ yếu đối với nền kinh tế nước ta sau khi gia
nhập tổ chức WTO.
1. Sức ép cạnh tranh ngày càng mạnh
Khi gia nhập WTO, chúng ta phải tuân thủ những nguyên tắc chung của tổ chức, cắt
giảm các mức thuế xuống còn từ 0-5%, đói xử với hàng hóa trong nước và nước ngoài phải
bình đẳng. Nói một cách khác, chúng ta phải mở toang cửa đối với hầu hết các lĩnh vực của
nền kinh tế. Một khi không còn hàng rào thuế quan bảo hộ, sức ép cạnh tranh của hàng hóa

xã hội của nước ta. Nếu không kiểm sóat và xử lý đúng sẽ dẫn đến rối loạn thị trường, thậm chí
khủng hoảng kinh tế. Chính vì vậy nên chúng ta cần có những giải pháp để hạn chế những tác
động tiêu cực trên.
4. Chất lượng nguồn nhân lực
Về chất lượng của nguồn nhân lực thì đây cũng là một điểm yếu của nền kinh tế Việt
Nam. Hiện tại, chát lượng nguồn nhân lực của nước ta hãy còn thấp, trình độ lao động chưa thể
đảm bảo đáp ứng được với nền sản xuất với dây chuyền công nghệ tiên tiến. Bên cạnh đó, vấn
đề đào tạo nguồn nhân lực cũng có những bất cập. Các chương trình đào tạo tại bậc đại học
hiện nay nhìn chung đều bị đánh giá là nặng về lí thuyết, nguồn nhân lực sau đào tạo thường
không đáp ứng được nhu cầu thực tế cuả công việc mà thường là cần phải được đào tạo lại mới
có thể làm đuợc việc. Nguồn nhân lực đối với bất kể nền kinh tế nào, dù lớn hay nhỏ, đếu có
vai trò rất quan trọng tới sự phát triển của nền kinh tế đó. Chất lượng nguồn nhân lực thấp sẽ
trở thành sức ì và lực cản đối với sự phát triển của nền kinh tế.
2.1.3 Giải pháp
1. Hoàn thiện hệ thống luật và nhận thức rõ vai trò của mình
Đối với Nhà nước, điều cấp thiết là tập trung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường phù
hợp với thông lệ của WTO, bao gồm cả bốn nội dung: Luật chơi, người chơi, cách chơi và sân
chơi. Trong đó, “luật chơi” - là hệ thống pháp lý và các chuẩn mực; “người chơi” - là chủ thể
kinh tế thị trường chính, bao gồm cả tập thể, cá nhân, các thành phần kinh tế; “cách chơi” -
chính là cơ chế để thực thi quy tắc; và “sân chơi” - các thị trường, yếu tố cơ bản phải gấp rút
hoàn thành. Vai trò chủ yếu của nhà nước là xây dựng môit trường vĩ mô để các doanh nghiệp
trong và ngòai nước có thể hoạt động và hoạt đông thuận lợi trong đó. Bên cạnh đó, nhà nước
cũng cần phải phân định được vai trò quản lý kinh tế của nhà nước với chức năng kinh doanh
của các doanh nghiệp nhà nước. Nhà nước không phải là chủ thể tham gia hoạt dộng trực tiếp
trên thi trường mà là người quản lý và điều tiết thị trường.
2. Các chính sách thúc đẩy phát triển công nghệ
Năng lực cạnh tranh phụ thuộc rất hiều vào trình độ của công nghệ sản xuất. Trong bối
cảnh hiện nay, công nghệ đã trở thành một lực lượng sản xuất. Chính vì vậy, nhà nước cần
phải có những chính sách thích hợp để khuyến khích việc chuyển giao công nghệ từ các quốc
gia phát triển như Nhật, Mĩ… Đi tắt đón đầu về công nghệ để có thể nâng cao trình độ của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status