Mt s bi hc kinh nghim trong phỏt trin ngoi thng ca Trung Quc v gi ý i vi Vit
Nam
trờng đại học ngoại thơng
khoa kinh tế ngoại thơng
Đề tài:
Một số bài học kinh nghiệm trong
phát triển ngoại thơng của trung quốc
và gợi ý đối với việt nam
O
Sinh viên thực hiện : Lê Thùy Dơng
Lớp :
Giáo viên hớng dẫn :
Anh 6 - K38B
TS. Vũ Thị Kim Oanh
hà nội - 2003
Lờ Thựy Dng Anh 6 K38 KTNT
1
Mt s bi hc kinh nghim trong phỏt trin ngoi thng ca Trung Quc v gi ý i vi Vit
Nam
Mục lục
4. Ngoại thơng góp phần giải quyết vấn đề việc làm............................35
Lờ Thựy Dng Anh 6 K38 KTNT
2
Mt s bi hc kinh nghim trong phỏt trin ngoi thng ca Trung Quc v gi ý i vi Vit
Nam
V. Triển vọng hoạt động ngoại thơng Trung Quốc trong thời gian tới
..............................................................................................................36
1. Các nhân tố thuận lợi..................................................................36
2. Các nhân tố bất lợi......................................................................38
Chơng II: Một số bài học kinh nghiệm trong phát
triển ngoại thơng của Trung Quốc...........................40
I. Một số bài học thành công.............................................................40
1. Thực hiện chiến lợc mở cửa theo nhiều phơng vị, nhiều tầng nấc..............40
2. Chủ động thu hút FDI vào phát triển ngoại thơng....................................44
3. Kiên trì cải cách thể chế quản lý ngoại thơng..........................................59
4. Chính sách hợp lý trong đa dạng hóa sản phẩm và thị trờng....................67
5. Chủ động tạo môi trờng cho các doanh nghiệp tiếp cận thị trờng quốc tế
thông qua việc hội nhập các liên kết kinh tế khu vực và thế giới...............72
6. Coi trọng công tác xúc tiến thơng mại....................................................76
7. Một số kinh nghiệm trong việc xử lý các vấn đề sau khi gia nhập WTO.....77
II. Một số bài học không thành công.................................................79
1. Quan điểm lấy lợng thay cho chất đã làm giảm hiệu quả kinh doanh ngoại thơng.................................................................................................... 81
2. Chính sách bảo hộ quá mức trong một số ngành đã ngăn cản việc cải thiện
4. Tiếp tục thực hiện đa dạng hóa mặt hàng, đa phơng hóa thị trờng xuất nhập
khẩu.............................................................................................................. 106
5. Nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến thơng mại.....................................109
6. Đẩy nhanh hội nhập vào các liên kết kinh tế khu vực và thế giới.............110
Kết luận...................................................................................................... 111
Tài liệu tham khảo.................................................................................. 113
Phụ lục
Lờ Thựy Dng Anh 6 K38 KTNT
4
Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt
Nam
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm cuối của thế kỷ XX, nền kinh tế Trung Quốc trỗi dậy mạnh
mẽ, là hiện tượng nổi bật nhất, thu hút nhiều sự chú ý nhất ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương và trên toàn thế giới. Sau hơn 20 năm (1979-2003) thực hiện cải
cách mở cửa, bộ mặt kinh tế xã hội Trung Quốc đã biến đổi sâu sắc.Về nhiều mặt,
Trung Quốc đang chiếm những vị trí đáng kể trong nền kinh tế thế giới, đứng hàng
đầu về tốc độ tăng trưởng với một thực lực kinh tế không nhỏ. Đặc biệt là trong
lĩnh vực ngoại thương, trải qua gần một phần tư thế kỷ, ngoại thương Trung Quốc
đã thu được nhiều thành tựu rực rỡ: từ chỗ xếp hàng thứ 32 trên thế giới về xuất
nhập khẩu (năm 1978) đến nay Trung Quốc đã là cường quốc ngoại thương lớn thứ
5 trên thế giới với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lên tới 620,8 tỷ USD năm 2002
(tăng gấp 30 lần so với năm 1978). Hơn thế nữa, vị thế và ảnh hưởng của Trung
Quốc trong thương mại quốc tế ngày càng được nâng cao, ngoại thương Trung
Quốc đang đứng trước những cơ hội mới để phát triển tốt đẹp hơn, đặc biệt là sau
tích, phương pháp thống kê và so sánh.
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục bản khóa
luận gồm có 3 chương:
Chương I: Tình hình ngoại thương Trung Quốc từ năm 1979 đến nay
Chương II: Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương
của Trung Quốc
Chương III: Một số gợi ý đối với hoạt động ngoại thương Việt Nam từ bài
học kinh nghiệm của Trung Quốc
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo – Tiến sỹ Vũ Thị Kim Oanh, người đã
tận tình hướng dẫn em trong việc hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này. Em cũng
xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo, bạn bè, Thư viện trường Đại học
Ngoại thương, Viện kinh tế thế giới, Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc đã giúp
đỡ, tạo điều kiện để khóa luận được hoàn thành.
Hà Nội, tháng 12/2003
Sinh viên thực hiện
Lê Thùy Dương
Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT
6
Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt
Nam
Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT
7
rất lớn, trữ lượng than thăm dò được là 700 tỷ tấn, đứng thứ nhất thế giới. Sản lượng
dầu thô đứng thứ năm thế giới. Tài nguyên khoáng sản của Trung Quốc tương đối toàn
diện và đồng bộ, 150 loại khoáng sản được sử dụng trên thế giới đều được phát hiện ở
Trung Quốc, trong đó trữ lượng thăm dò được của hơn 20 loại như: than, vonfram,
sitilium, đồng, chì, kẽm, vanađium, titan... đứng hàng đầu thế giới. Rừng của Trung
Quốc cũng đứng đầu thế giới về chủng loại gỗ với hơn 2500 loại trong đó có 500 loại
cây quý hiếm và 50 loại cây đặc chủng cùng nhiều loại động vật quý hiếm [22].
Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT
8
Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt
Nam
2. Dân cư
Trung Quốc là nước có dân số lớn nhất thế giới, dân số Trung Quốc tính đến cuối
năm 2002 có 1.284.530.000 người [22]. Trung Quốc là một trong những quốc gia có
mật độ dân cư cao nhất và phân bố không đồng đều; mật độ trung bình là 125
người/km2; dao động từ 1,5 người ở vùng tự trị Tây Tạng đến 400-500 người/km 2 ở
các vùng đồng bằng phía Đông, nhiều nơi lên đến 1000-1500 người/km 2 như ở vùng
Bắc và Đông Bắc [7].
Tiềm năng về nguồn nhân lực của Trung Quốc là rất lớn và lâu dài. Số người
trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 61% tổng dân số, trong số này có 60% là lao
động nông nghiệp. Năm 1990, Trung Quốc có lực lượng lao động là 756, 6 triệu người
(từ 15-64 tuổi). Theo tính toán, trung bình mỗi năm Trung Quốc có thêm 21 triệu
người bước vào độ tuổi lao động [7].Nguồn nhân lực dồi dào này cùng với truyền
thống lao động cần cù, sáng tạo và công tác giáo dục ở đây rất được coi trọng nên chất
lượng lao động ngày càng tăng lên. Đó là tài sản vô giá và là nhân tố quan trọng trong
sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước này.
lậu, vấn đề việc làm, chênh lệch giàu nghèo; 2- Trung Quốc đang bước vào giai đoạn
quyết định của cải cách, thời kỳ then chốt của phát triển , có những biến đổi sâu sắc,
đan xen về thành phần kinh tế, lợi ích kinh tế, lối sống, hình thức tổ chức xã hội ... đặc
biệt là sự thay đổi về kết cấu giai tầng, tỷ lệ nòng cốt (giai cấp công nhân và nông dân)
trong Đảng cộng sản Trung Quốc cũng đã thay đổi, đòi hỏi phải đổi mới công tác
chính trị tư tưởng và công tác xây dựng Đảng.
4. Kinh tế Trung Quốc sau hơn 20 năm cải cách mở cửa
* Về tăng trưởng kinh tế
Từ năm 1978, khi bắt đầu cải cách, Trung Quốc đi vào con đường hội nhập với
thế giới và khu vực và đã thu được thành công đáng kể.
Trước cải cách, từ 1952 đến 1978, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của
kinh tế Trung Quốc là 4,4%, thấp hơn bình quân hàng năm của thế giới (4,52%) [15].
Từ năm 1978 đến nay, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của Trung Quốc là
7,6%, cao hơn nhiều so với mức bình quân của thế giới. Giai đoạn 1992-1997, kinh tế
Trung Quốc tăng trưởng ngoạn mục hơn nữa với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân
đạt 11%/ năm. Trong đó, GDP Trung Quốc năm 1996 lớn hơn GDP của ASEAN
khoảng 15%, bằng 3% GDP của thế giới, 23% kinh tế Nhật, 12% kinh tế Mỹ [22].
Nhiều nhà quan sát xem sự tăng trưởng này là thần kỳ, đặc biệt là khi so sánh với các
nước xã hội chủ nghĩa cũ trong lúc các này trải qua sự suy thoái kinh tế trầm trọng
trong suốt giai đoạn từ đầu đến giữa thập niên 90. Trong những năm 1997-1999, do
tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực, nền kinh tế Trung Quốc cũng chững
lại, và có dấu hiệu suy giảm. Tuy nhiên, ngay sau đó Trung Quốc đã lấy lại được xu
thế tăng trưởng.
Năm 2000 là năm cuối của kế hoạch năm năm phát triển kinh tế xã hội lần thứ
chín ( 1996-2000), cũng là năm đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng trong nền
kinh tế Trung Quốc. Với những cố gắng gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO),
tái cơ cấu nền kinh tế, tập trung cải cách xí nghiệp quốc doanh, thúc đẩy phát triển
khoa học công nghệ, cải cách cơ bản về nông nghiệp và mở rộng nhu cầu nội địa,
Trung Quốc đã đảo ngược xu hướng suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế kéo dài liên
1999
2000
2001
2002
2003(dự đoán)
Trung Quốc
7,1%
7,5%
7,3%
8,0%
8,6%
Thế giới
2,8%
4,7%
2,2%
2,8%
3,4%
Nguồn: Đánh giá của IMF và WB, Kinh tế Việt Nam & Thế giới các số 2000-2001, 20012002,2002-2003 ( Chuyên san ra hằng năm của Thời báo Kinh tế Việt Nam)
Tăng trưởng kinh tế nhanh kéo theo thu nhập bình quân đầu người dân Trung
Quốc tăng lên đáng kể. Từ năm 1978 đến năm 2000, thu nhập thực tế của dân cư đô
thị tăng bình quân 6%/ năm, và thu nhập thực tế của dân cư nông thôn tăng với mức
bình quân 8%/ năm. Năm 2001, con số này lần lượt là 8,5% và 4,2%. Năm 2002, con
số tương ứng là 13,4% và 4,8%.Thu nhập của nông dân tăng đã làm số dân nghèo theo
thống kê chính thức giảm mạnh từ mức 33% vào năm 1978 xuống còn 4% vào năm
1997 và 3% vào năm 2001 [22].
* Về công nghiệp
Vào giai đoạn chuyển giao thế kỷ, Trung Quốc đã trở thành trung tâm sản xuất
hàng công nghiệp của thế giới, từ các ngành có hàm lượng lao động cao như dệt may,
giày dép đến các ngành dùng nhiều tư bản và công nghệ cao. Thực tế, Trung Quốc đã
trở thành nước có sản lượng công nghiệp lớn thứ 4 trên thế giới, chỉ sau có Mỹ,
Nhật Bản và Đức.
Hiện nay, Trung Quốc đã chiếm trên 20% sản lượng thế giới trong các ngành đồ
điện gia dụng cao cấp như đầu máy video, DVD, máy điều hoà không khí, tivi màu…
Trong ngành điện thoại di động và máy tính cá nhân, Trung Quốc cũng sản xuất trên
10% sản lượng thế giới [25].
* Về nông nghiệp
Với dân số 1,3 tỷ người - đông nhất trên thế giới - vấn đề lương thực luôn luôn
đứng ở vị trí được coi trọng hàng đầu đối với người dân Trung Quốc. Cuộc cải cách
do Đặng Tiểu Bình lãnh đạo, bên cạnh chủ trương thúc đẩy phát triển công nghiệp,
dịch vụ, cũng hết sức quan tâm chú trọng tới phát triển nông nghiệp, từng bước hiện
đại hóa ngành nông nghiệp. Từ một đất nước nghèo đói, lượng lương thực thực phẩm
trong nước không đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước, phải thường xuyên nhập khẩu
Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT
12
Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt
Nam
lương thực thực phẩm với khối lượng lớn, sau hơn 20 năm, bộ mặt nông nghiệp
Trung Quốc đã có nhiều thay đổi đáng kể. Tổng giá trị sản lượng nông lâm ngư nghiệp
và chăn nuôi của Trung Quốc năm 1997, sau khi trừ đi nhân tố giá cả, tăng 3,4 lần so
với 1978, bình quân mỗi năm tăng 6,6%. Năm 1997, Trung Quốc đã vươn lên đứng
đầu thế giới về sản lượng nhiều loại sản phẩm như ngũ cốc (444 triệu tấn), bông (4,6
triệu tấn), hạt có dầu (9,6 triệu tấn), thịt (41,2 triệu tấn) [7]. Trong năm 2000, sản
13
Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt
Nam
Qua hơn 20 năm cải cách, đất nước Trung Quốc đã trải qua nhiều thăng trầm,
chuyển biến, nền kinh tế Trung Quốc vừa phải đối mặt với những khó khăn, thách
thức nhưng cũng gặt hái được rất nhiều thành tựu. Sự phát triển kỳ diệu của Trung
Quốc là nhờ đâu nếu không phải từ sự nỗ lực hết mình của người dân Trung Quốc
trong công cuộc xây dựng đất nước với mục tiêu đưa Trung Quốc từng bước hội nhập
với kinh tế thế giới, từng bước trở thành một cường quốc kinh tế lớn mạnh. Chắc chắn
rằng trong những năm tới đây, Trung Quốc sẽ vẫn còn tiếp tục phát triển, nền kinh tế
sẽ ngày càng hội nhập, trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế thế giới.
Nền kinh tế Trung Quốc trong hơn 20 năm qua phát triển rất sôi động, nhưng
đặc biệt là trong lĩnh vực ngoại thương thì những chuyển biến lại càng diễn ra nhanh
hơn, mạnh hơn. Có thể nói ngoại thương là “đầu tàu” trong phát triển kinh tế Trung
Quốc trong giai đoạn cải cách mở cửa hiện nay. Trong lĩnh vực này, Trung Quốc đã
có những bước tiến thành công, gặt hái nhiều thành tựu. Tuy nhiên để làm được điều
đó thì ngoại thương Trung Quốc đã phải trải qua nhiều giai đoạn phát triển, vừa làm
vừa rút kinh nghiệm mới dần dần đi vào đúng quỹ đạo phát triển.
II. CẢI CÁCH HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG TRUNG QUỐC QUA
CÁC GIAI ĐOẠN
* Sự cần thiết phải cải cách mở cửa ngoại thương Trung Quốc
Trước khi thực hiện cải cách mở cửa nền kinh tế vào cuối năm 1978, Trung Quốc
đã có những quan hệ kinh tế với nhiều nước trên thế giới nhưng quy mô nhỏ, phạm vi
hẹp. Các quan hệ đã chỉ dừng lại ở một nền ngoại thương kém phát triển và một ít viện
trợ nhằm mục tiêu chính trị. Những hoạt động thông thường như vay nợ, nhận đầu tư
từ nước ngoài, tổ chức du lịch...đều không đáng kể. Chính sách bế quan tỏa cảng vốn
của Trung Quốc đã trở nên lạc hậu và kém hiệu quả, không thể phù hợp với xu thế mở
rộng quan hệ đối ngoại, hòa nhập kinh tế, tăng cường mậu dịch và hợp tác trên đà phát
triển sôi động trong các nước trên thế giới.
Bên cạnh đó, những thách thức của những tiến bộ khoa học kỹ thuật như vũ bão
và cuộc cách mạng ngành nghề mới trên phạm vi toàn cầu, của phát triển giao lưu và
quốc tế hóa kinh tế cao độ cũng buộc Trung Quốc phải tự xét lại mình, tự đổi mới, tiếp
thu thành quả khoa học kỹ thuật hiện đại, tạo ra sự phát triển mạnh mẽ. Đặc điểm của
cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật là khoa học kỹ thuật trở thành sức sản xuất trực
tiếp, trí tuệ đóng vai trò trọng tâm tạo ra những hiệu quả kinh tế gấp nhiều lần trước
kia. Con người không những tác động đến đối tượng sản xuất mà còn có khả năng tạo
ra cả đối tượng sản xuất, những năng lượng mới, những vật liệu mới. Công nghệ mới,
lao động chất xám đã làm cho năng suất lao động phát triển lên đến mức vô cùng to
lớn, thúc đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa sản xuất. Nền kinh tế quốc gia đã vượt ra
ngoài phạm vi một nước để tham gia vào sự phân công lao động quốc tế. Đó là xu thế
phát triển của thế giới.
Sự phát triển với tốc độ cao của một số nước Châu Á-Thái Bình Dương cũng là
một sức ép góp phần thúc đẩy Trung Quốc mở cửa. Tất cả các nước NICs và các nước
ASEAN do nhận thấy xu thế toàn cầu hóa của nền sản xuất, cho nên đã điều hướng
sản xuất của mình chuyển từ chỗ thay thế nhập khẩu sang chỗ hướng về xuất khẩu,
tham gia mạnh mẽ vào nền thương mại thế giới. Rõ ràng là họ đã trước sau thoát khỏi
tình trạng đóng cửa, vươn mạnh ra bên ngoài, khắc phục tư tưởng sợ phụ thuộc vào
nước ngoài, Chính điều này đã làm cho các nước này có tốc độ tăng trưởng đáng ngạc
nhiên, đặc biệt là Nam Triều Tiên có tốc độ tăng trưởng về xuất khẩu trong những
năm 60 và 70 là 35% và 27%, trong khi đó thì thương mại thế giới chỉ tăng tương ứng
có 9% và 7%. Vào những năm 70 tỷ lệ xuất nhập khẩu đối với GDP của Nam Triều
Tiên và Đài Loan là 34% và 50% [15].
Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT
15
thuộc các Bộ được tổng hợp lại trong tài chính của Chính phủ trung ương. Các doanh
nghiệp lớn có quyền kinh doanh xuất nhập khẩu được kiểm toán một cách độc lập.
Các chính quyền địa phương về mặt nguyên tắc có trách nhiệm với mọi khoản lỗ lãi
trong các hoạt động xuất nhập khẩu mà họ tham gia.
- Cải cách chế độ hoạt động ngoại thương, bao gồm chuyển từ chế độ kinh doanh
một kênh sang chế độ kinh doanh nhiều kênh, chuyển từ chế độ kinh doanh một chức
năng sang chế độ sản xuất kiêm kinh doanh xuất nhập khẩu, cho phép các doanh
nghiệp tham gia vào ngoại thương kinh doanh xuất nhập khẩu một cách độc lập và áp
dụng chế độ đại lý đối với một số loại hàng hóa.
Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT
16
Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt
Nam
- Thực hiện chế độ giữ lại ngoại hối. Để khuyến khích các chính quyền địa
phương, các bộ và các doanh nghiệp tham gia vào xuất nhập khẩu một cách tích cực,
chế độ giữ lại ngoại hối được áp dụng năm 1979. Nói cách khác, trên cơ sở Nhà nước
thống nhất quản lý ngoại hối và đảm bảo cho những nhu cầu quan trọng của các dự án
quan trọng, các doanh nghiệp có quyền giữ lại một phần ngoại tệ mà họ kiếm được và
có quyền tự quyết đối với việc sử dụng số ngoại tệ này. Họ có thể tham gia vào thị
trường ngoại hối và có thể bán số ngoại hối không sử dụng cho các doanh nghiệp cần
mua.
Với những cải cách bước đầu trong hoạt động ngoại thương, từ sau năm 1978, hoạt
động ngoại thương của Trung Quốc diễn ra khá sôi động. Kim ngạch ngoại thương năm
1979 mới chỉ đạt 29,33 tỷ USD thì đến năm 1987 đã đạt 82,652 tỷ USD nghĩa là tăng 2,8
lần so với năm 1979. Trong thời gian này, ngoại thương Trung Quốc phát triển với tốc độ
trung bình là 14,2% một năm, đưa Trung Quốc từ chỗ xếp thứ 28 trên thế giới về tổng
hóa ngoại thương cũng được cải thiện thêm một bước. Trừ 21 loại hàng hóa xuất khẩu
vẫn nằm dưới chế độ quản lý thống nhất và vẫn theo chế độ xuất khẩu hai kênh, tất cả
các loại hàng hóa đã được chuyển từ chế độ hai kênh sang chế độ một kênh duy nhất.
Điều này có nghĩa là các chính quyền địa phương sẽ ký hợp đồng trực tiếp với Chính
phủ. Một khi chế độ này được thực hiện thì chế độ tài chính trong ngoại thương cũng
được cải cách theo. Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ký hợp đồng trực tiếp với Nhà
nước về các chỉ tiêu lợi ích kinh tế nhất định, và theo thông lệ quốc tế, Nhà nước đã
thực hiện đầy đủ các ưu đãi về thuế xuất khẩu. Ngân sách của các chi nhánh địa
phương của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu được gắn với các ngân sách của các
chính quyền địa phương và tách ra khỏi ngân sách của Chính phủ trung ương.
- Chế độ quản lý ngoại thương đã được tiếp tục cải cách dưới hệ thống mới này
nhằm xác định lại quyền quản lý các hoạt động thương mại. Từ tháng 10/1988, chức
năng của Bộ ngoại thương cũng đã được đổi mới: ngoài việc nghiên cứu xác định
chiến lược phát triển ngoại thương, quản lý giấy phép, hạn ngạch xuất nhập khẩu, còn
chịu trách nhiệm kế toán ngoại hối, tăng cường giám sát quản lý công tác thống kê, chỉ
đạo công tác kinh doanh và kế toán tài vụ của các xí nghiệp ngoại thương, tham gia
điều tiết mức thuế và cân đối công tác ngoại thương giữa các khu vực.
- Việc thi hành hệ thống hợp đồng trách nhiệm theo hướng cân đối trách nhiệm,
quyền hạn và lợi nhuận của các công ty ngoại thương có tác dụng giải quyết các vấn
đề khác nhau của địa phương, các ngành, các công ty ngoại thương và các xí nghiệp
sản xuất, đồng thời còn đóng vai trò quan trọng thúc đẩy phương thức hoạt động bên
trong của các xí nghiệp, đó là nguyên nhân tạo ra được lợi nhuận và mở rộng ngoại
thương.
Giai đoạn này chỉ kéo dài có 3 năm nhưng ngoại thương Trung Quốc đã có
những bước tiến lớn. Vào năm 1990 kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc đạt
115,4 tỷ USD so với 102,784 tỷ USD năm 1988 tăng lên 12%. Điểm đặc biệt là sau
một thời gian dài nhập siêu đến năm 1990 Trung Quốc đã xuất siêu với thặng dư là
8,746 tỷ USD. Số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu hàng năm hơn 100 triệu USD từ
48 loại vào năm 1987 đã lên đến 83 loại vào năm 1990. Tỷ trọng hàng công nghiệp
quản lý ngoại tệ đã giúp các công ty có được nhiều ngoại tệ hơn cho các nhu cầu mở
rộng tái đầu tư của họ. Nhiều xí nghiệp và các viện nghiên cứu khoa học đã được phép
tham gia các hoạt động ngoại thương. Đồng thời với việc thu hẹp, giới hạn các mặt
hàng xuất nhập khẩu cần xin giấy phép, Trung Quốc đã giảm thuế nhập khẩu nhằm
mở rộng tự do thương mại.
- Tự do hơn nữa thị trường ngoại hối. Trước hết hủy bỏ chế độ hai tỷ giá, thống
nhất tỷ giá của đồng Nhân dân tệ với các ngoại tệ khác, chủ yếu dựa vào thị trường
cung và cầu ngoại tệ. Chính sách này được đưa ra nhằm mang lại đầy đủ vai trò quan
trọng của tỷ giá hối đoái, như là một biện pháp điều chỉnh ngoại thương. Thị trường
giao dịch ngoại tệ giữa các ngân hàng đã được thành lập, nhằm trợ giúp cho cơ chế
xây dựng tỷ giá hối đoái và nhận ra những tác động có thể làm thay đổi đồng Nhân
dân tệ đối với tài khoản hiện hành. Cuộc cải cách về tỷ giá hối đoái đã thúc đẩy cải
cách trong hệ thống quản lý nhập khẩu. Một số quy định hạn chế phi thuế quan bị hủy
bỏ hoặc là bị giảm bớt, đã mở rộng thêm "tự do" cho hoạt động nhập khẩu.
- Chính phủ ký hợp đồng với các tỉnh, khu tự trị, thành phố hạch toán tài chính
độc lập, công ty chuyên doanh xuất nhập khẩu, doanh nghiệp sản xuất kiêm xuất nhập
khẩu các loại hàng hóa chuyên ngành nhất định cũng như với các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu khác. Các hợp đồng đó quy định hạn ngạch xuất khẩu, hạn ngạch thu ngoại
hối và hạn ngạch ngoại hối phải nộp cho Chính phủ. Các hạn ngạch trong mỗi hợp
đồng được đánh giá và điều chỉnh theo từng năm.
Nhìn chung, những cải cách trong giai đoạn này đẩy mạnh hơn nữa việc mở rộng
quyền hạn, chủ động sản xuất kinh doanh ngoại thương; khơi dậy tính tích cực, năng
Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT
19
Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt
Nam
90% kim ngạch buôn bán toàn cầu [14]. Lợi ích mà Trung Quốc nhận được là vô cùng
to lớn khi Trung Quốc được hưởng Quy chế Tối huệ quốc (MFN) vô điều kiện, điều
đó chắc chắn sẽ thúc đẩy quá trình giao lưu buôn bán, xuất nhập khẩu hàng hóa và
dịch vụ của Trung Quốc với các nước và khu vực trên thế giới không ngừng tăng lên.
Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT
20
Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt
Nam
- Thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, Trung Quốc sẽ tránh được
những rào cản không đáng có của “chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch”, bảo vệ tối đa quyền
lợi hợp pháp của Trung Quốc trong thương mại quốc tế.
* Về phía WTO
Xét từ góc độ tiềm lực phát triển và quy mô to lớn của nền kinh tế–thương mại
Trung Quốc, từ mối quan hệ tương hỗ đôi bên cùng có lợi giữa nền kinh tế Trung
Quốc với các quốc gia có nền kinh tế phát triển trên thế giới, từ thị trường to lớn cho
tới tư thế và phương thức ứng xử của Trung Quốc trong vai trò một nước lớn có tiếng
nói trên trường quốc tế, tất cả đều chứng minh rằng WTO sẽ không thể được coi là
hoàn chỉnh khi chưa có sự tham gia của Trung Quốc-nước đang phát triển lớn nhất
trên thế giới:
- Không có sự tham gia của Trung Quốc trong việc xây dựng những nguyên tắc
của WTO, phạm vi ứng dụng của những nguyên tắc ấy chắc chắn sẽ hạn chế.
- Không có sự tham gia của một thị trường rộng lớn như Trung Quốc, thị trường
quốc tế khó có thể là thống nhất.
Có thể thấy, Trung Quốc cần WTO và WTO cần Trung Quốc, việc Trung Quốc
gia nhập WTO là phù hợp với lợi ích của cả Trung Quốc và các nước trên thế giới.
doanh nghiệp có vốn đầu tư nưóc ngoài.
1997 - Khủng hoảng tài chính ở Châu Á .
Trung Quốc vẫn giữ ổn định được đồng Nhân dân tệ, tuy nhiên việc tự do hoá đã
chậm lại, Trung Quốc lo sợ việc mở cửa quá nhanh sẽ làm xấu hơn tình trạng kinh tế
cũng như những cải cách vừa đạt được. Mặc dù, Trung Quốc đã cắt giảm thuế nhập
khẩu từ 23% xuống còn 17% nhưng thuế đối với một sồ mặt hàng khác như ôtô…vẫn
còn khá cao.
1999
04/03/1999 - Đại diện thương mại Mỹ Charlene Barshefski đã tới Bắc Kinh đàm
phán nhưng không có kết quả do có những bất đồng lớn trong lĩnh vực nông sản và
dịch vụ.
08/04/1999 - Thủ tướng Chu Dung Cơ thăm Mỹ với nhiều thoả hiệp và nhượng
bộ nhằm hoàn tất đàm phán và ký hiệp định nhưng Mỹ tiếp tục yêu cầu cao hơn
07/05/1999 - NATO ném bom sứ quán Trung Quốc ở Belgrade, đàm phán
Trung-Mỹ bị ngừng lại
11/09/1999 - Trong Hội nghị APEC tại NewZealand, Tổng thống Bill Clinton và
Chủ tịch nước Giang Trạch Dân đã nối lại đàm phán nhưng hai bên vẫn chưa đạt được
thoả thuận.
08/11/1999 - Tổng thống Bill Clinton cử bà Barshefski sang Trung Quốc để cố
đưa ra một thoả thuận chung nhưng không có kết quả.
13/11/1999 - Thủ tướng Chu Dung Cơ hội đàm với Đại diện thương mại Mỹ
Charlene Barshefski
15/11/1999 - Mỹ và Trung Quốc tuyên bố Hiệp định thương mại đã được ký kết.
Trung Quốc cam kết mở cửa nhiều lĩnh vực từ nông sản đến dịch vụ viễn thông. Tổng
thống Bill Clinton thuyết phục Quốc hội Mỹ ban Quy chế thương mại bình thường
vĩnh viễn cho Trung Quốc.
2000
19/05/2000 - EU và Trung Quốc ký kết Hiệp định thương mại
Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT
4.2.2. Quá trình đàm phán
Đàm phán gia nhập WTO được Trung Quốc tiến hành theo hai phương thức
song song và bổ sung cho nhau. Trong suốt 15 năm, cùng với nhiều cố gắng khác,
Trung Quốc luôn giữ được thái độ tích cực, đã tiến hành gần 30 lần hội nghị Nhóm
công tác đa phương và hàng trăm lần đàm phán song phương.
4.2.2.1. Đàm phán đa phương
Ngày 11/07/1986, Đại sứ Trung Quốc tại Liên hiệp quốc Tiền Giai Đông gửi
công hàm cho GATT, chính thức đề xuất việc chính phủ Trung Quốc xin khôi phục
địa vị nước tham gia ký kết Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT. Đến
tháng 6/1987, GATT đã thành lập “Nhóm công tác về địa vị nước tham gia ký kết
Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT
23
Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt
Nam
Hiệp định chung của Trung Quốc”. Để đạt được thoả thuận trong các đàm phán đa
phương, từ năm 1986 đến nay Trung Quốc đã thực hiện hàng loạt các biện pháp mở
cửa và cải cách thể chế mậu dịch, tăng cường đàm phán với các bên ký kết hiệp định
chủ yếu. Các cố gắng của Trung Quốc được thể hiện ở các điểm chính sau:
- Đẩy nhanh nhịp độ cải cách mậu dịch:
Đại hội 14 Đảng Cộng sản Trung Quốc(1992) tuyên bố xây dựng nền kinh tế thị
trường xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc, làm cho thể chế kinh tế Trung
Quốc thích ứng với yêu cầu của GATT. Trong những năm 1986-1992, Trung Quốc đã
cải cách mạnh mẽ thể chế quản lý ngoại thương, xoá bỏ dần sự độc quyền nhà nước,
huỷ bỏ dần trợ cấp xuất khẩu, thực hiện hạch toán kinh doanh. Từ 1994, Trung Quốc
huỷ bỏ kế hoạch pháp lệnh đối với tổng mức nhập khẩu, thu ngoại hối xuất khẩu và
dùng ngoại hối nhập khẩu thay bằng kế hoạch mang tính chỉ dẫn. Năm 1994, Trung
* Hiệp định thương mại Trung-Mỹ
- Quá trình đi đến ký kết:
Để đi đến ký kết hiệp định thương mại Trung–Mỹ, hai bên đã có một quá trình
đàm phán lâu dài đầy khó khăn. Trong những năm 1986-1989, hai bên đã thực hiện 10
lần đàm phán có tiến triển và đạt được nhiều thoả thuận. Nhưng năm 1989, do sự kiện
Thiên An Môn đàm phán bị hoãn lại. Năm 1992 sau khi Đặng Tiểu Bình đi thị sát các
tỉnh Miền Nam Trung Quốc, kêu gọi Trung Quốc cần học tập kinh nghiệm của Chủ
nghĩa tư bản, thổi luồng gió mới cho những cải cách táo bạo thì hai bên nối lại hội
đàm. Trong thời kỳ 1992-1995, Trung Quốc thực hiện nhiều cố gắng để gia nhập
WTO vào cuối năm 1994 nhưng Mỹ đưa ra yêu cầu cao nên Trung Quốc không chấp
nhận. Trong những năm 1995-1998, Trung Quốc không tỏ ra hăng hái như trước, thậm
chí có lúc lạnh nhạt. Tháng 4/1999, Thủ tướng Chu Dung Cơ thăm Mỹ với nhiều thoả
hiệp và nhượng bộ với Mỹ nhằm hoàn tất đàm phán và ký kết hiệp định nhưng phía
Mỹ tiếp tục đòi yêu cầu cao hơn. Ngày 8/5/1999, Mỹ ném bom sứ quán Trung Quốc ở
Nam Tư làm quan hệ hai bên như “rơi xuống vực”. Đàm phán Trung-Mỹ bị ngưng lại.
Với cuộc gặp gỡ Giang Trạch Dân-Clinton ngày 11/09/1999 trong hội nghị APEC tại
NewZealand, hai bên nối lại đàm phán và ngày 15/11/1999 hai bên Trung Quốc và Mỹ
mới ký được hiệp định thương mại.
- Những nội dung cơ bản của hiệp định Trung-Mỹ:
Về thuế quan và phi thuế quan: Trung Quốc đã đồng ý giảm mức thuế
quan trung bình từ 22,1% xuống còn 17%, trong vòng 5 năm, xoá bỏ toàn bộ hạn
ngạch và các hạn chế về số lượng, nhưng trong một vài lĩnh vực đặc biệt, các hạn
ngạch sẽ được xoá bỏ trong vòng 2-3 năm.
xuất khẩu
Về bù xuất khẩu: Trung Quốc sẽ đồng ý xoá bỏ tất cả các khoản trợ cấp