I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
MAI HNH TRANG
KINH NGHIệM CủA CáC NƯớC ASEAN
TRONG việc GIảI QUYếT TRANH CHấP BIÊN GiớI, LãNH THổ
TRÊN BIểN THÔNG QUA CƠ CHế TàI PHáN quốc tế
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2015
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
MAI HNH TRANG
KINH NGHIệM CủA CáC NƯớC ASEAN
TRONG việc GIảI QUYếT TRANH CHấP BIÊN GiớI, LãNH THổ
TRÊN BIểN THÔNG QUA CƠ CHế TàI PHáN quốc tế
Chuyờn ngnh: Lut quc t
Mó s: 60 38 01 08
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: PGS. TS NGUYN B DIN
H NI - 2015
1.1.2. Chủ quyền trên biển của quốc gia ................................................ 7
1.2.
Khái quát tranh chấp chủ quyền biên giới - lãnh thổ trên biển ...... 11
1.2.1. Khái niệm tranh chấp quốc tế ..................................................... 11
1.2.2. Tranh chấp chủ quyền biên giới - lãnh thổ trên biển ................... 12
1.3.
Phân loại tranh chấp chủ quyền biên giới - lãnh thổ trên biển ...... 14
1.3.1. Tranh chấp vùng biển chồng lấn ................................................ 14
1.3.2. Tranh chấp vùng nước lịch sử .................................................... 16
1.3.3. Tranh chấp đảo, quần đảo .......................................................... 18
1.4.
Giải quyết tranh chấp biên giới - lãnh thổ trên biển
thông qua cơ chế tài phán quốc tế ........................................... 19
1.4.1. Tòa trọng tài quốc tế Lahaye (PCA) ........................................... 19
1.4.2. Tòa án quốc tế về Luật biển (ITLOS) ......................................... 26
1.4.3. Tòa trọng tài về Luật biển theo phụ lục VII ................................ 29
1.4.4. ICJ (ICJ) .................................................................................... 32
Chƣơng 2: MỘT SỐ VỤ TRANH CHẤP VỀ BIÊN GIỚI-LÃNH
THỔ TRÊN BIỂN CỦA CÁC NƢỚC ASEAN ĐƢỢC GIẢI
QUYẾT THÔNG QUA CƠ CHẾ TÀI PHÁN QUỐC TẾ ...............37
2.1.
với đảo Đá Trắng, các đá “South Ledge” và “Middle Rocks” ......... 69
3.1.3. Từ vụ tranh chấp giữa Bangladesh và Myanmar về phân
định hàng hải trên vịnh Benagal ................................................. 70
3.1.4. Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả trong đấu tranh
bảo vệ chủ quyền biên giới, lãnh thổ trên biển của Việt Nam ..... 71
3.2.
Kinh nghiệm về kiềm chế tranh chấp và lựa chọn hƣớng
giải quyết tranh chấp ............................................................... 76
3.2.1. Kiềm chế và quản lý tranh chấp ......................................................... 76
3.2.2. Đưa tranh chấp ra bên thứ ba ............................................................. 77
3.2.3. Lựa chọn cơ quan tài phán để giải quyết tranh chấp ................... 79
3.3.
Kinh nghiệm về việc chuẩn bị đƣa tranh chấp ra cơ quan
tài phán quốc tế ........................................................................ 83
3.3.1. Lựa chọn nội dung khởi kiện ............................................................. 83
3.3.2. Lựa chọn luật áp dụng giải quyết ....................................................... 90
3.3.3. Xây dựng hệ thống tư liệu .................................................................. 90
3.3.4. Chuẩn bị nhân sự ................................................................................ 92
3.3.5. Nghiên cứu phán quyết của các cơ quan tài phán........................ 94
3.3.6. Tranh thủ sự ủng hộ của dư luận ........................................................ 95
KẾT LUẬN .......................................................................................... 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................. 99
Presentation de la Cour Permanent Tòa trọng tài thường trực Lahaye
d‟Arbitrage
UNCLOS
United Nations Convention on the Law Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển
of the Sea
Tòa án Công lý Quốc tế
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Biển cả có một vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển kinh tế,
quốc phòng, an ninh. Tiềm năng của biển về giao thông vận tải, về du lịch và
về tài nguyên thiên nhiên đem lại những lợi ích kinh tế rất lớn và tầm quan
trọng đặc biệt của biển trong lĩnh vực an ninh quốc phòng là động lực thúc đẩy
các quốc gia mở rộng chủ quyền của mình ra biển. Nhận thức được rõ về tầm
quan trọng của biển, các quốc gia trên thế giới đã và đang xây dựng chiến lược
tiến ra biển, làm chủ biển một cách bài bản, khoa học và toàn diện. Tuy nhiên,
việc rất nhiều quốc gia trên thế giới đều muốn mở rộng chủ quyền của mình ra
biển sẽ dễ dẫn đến mâu thuẫn về mặt lợi ích giữa các quốc gia. Hơn nữa, việc
các quốc gia đều cố gắng mở rộng yêu sách chủ quyền, quyền chủ quyền, đẩy
mạnh khả năng và phạm vi khai thác tài nguyên của quốc gia mình ra biển
càng làm cho các mâu thuẫn, tranh chấp trở nên gay gắt.
Tình hình tranh chấp trên biển giữa các quốc gia trên thế giới hiện nay
diễn biến ngày càng căng thẳng và phức tạp. Từ nhiều năm nay, nhất là những
năm đầu của thập kỷ 70 của thế kỷ XX đến nay trên Biển Đông đang tồn tại
những tranh chấp biển đảo rất quyết liệt và phức tạp, tiềm ẩn những nhân tố
mất ổn định, tác động đến quốc phòng và an ninh nước ta. Trên Biển Đông
luật quốc tế với việc vạch biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam với các
quốc gia láng giềng (Ths Huỳnh Minh Chính), Khai thác chung Biển Đông và
những nguyên tắc công bằng (Dương Danh Huy), Quy chế pháp lý quốc tế
giải quyết tranh chấp chủ quyền ở biển Đông, Lý luận và thực tiễn (TS.Đinh
Xuân Thảo), Tòa trọng tài thường trực La Haye và vấn đề giải quyết tranh
chấp chủ quyền trên Biển Đông của Việt Nam (Bành Quốc Tuấn). Bên cạnh
đó, cũng có rất nhiều luận văn, luận án tiến sĩ, các công trình nghiên cứu khoa
học đã nghiên cứu về vấn đề này dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên,
2
những công trình nghiên cứu khoa học kể trên còn thiên về lý luận. Còn
những bài viết liên quan đến thực tiễn pháp lý, về kinh nghiệm giải quyết
tranh chấp trên biển của các nước trên thế giới cũng như các nước trong khu
vực ASEAN thì chưa thực sự đa dạng và đồng bộ. Trước tình hình diễn biến
trên Biển Đông đang leo thang căng thẳng, đặc biệt là sự hung hăng của
Trung Quốc cùng các hoạt động xây dựng với quy mô lớn làm thay đổi
nguyên trạng các đảo đá trên Biển Đông đang gây ra sự quan ngại không chỉ
đối với Việt Nam mà còn các nước trong khu vực và trên thế giới thì việc giải
quyết tranh chấp và đảm bảo an ninh trên Biển Đông đang là mối quan tâm
hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta. Chính vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu
sâu về kinh nghiệm giải quyết tranh chấp trên biển của các nước ASEAN
cũng như các cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế, đặc biệt là tranh chấp trên
biển là một vấn đề cấp bách và cần được lưu tâm. Chính vì những lý do đó,
học viên xin chọn đề tài luận văn với nội dung “Kinh nghiệm của các nước
ASEAN trong việc giải quyết tranh chấp biên giới, lãnh thổ trên biển thông
qua cơ chế tài phán quốc tế”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này là nghiên cứu về việc
gia trên biển, tranh chấp quốc tế trên biển và cơ sở để giải quyết các tranh
chấp quốc tế trên biển; thực tiễn giải quyết tranh chấp trên biển của một số
nước ASEAN. Từ đó đề xuất những giải pháp cho Việt Nam trong việc giải
quyết các tranh chấp trên biển hiện nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Cơ sở phương pháp luận của đề tài được nghiên cứu là chủ nghĩa MácLenin, phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, những
quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chủ quyền biên giới-lãnh thổ trên biển.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, học viên còn sử dụng những
phương pháp nghiên cứu khoa học khác như phương pháp phân tích, phương
pháp so sánh, phương pháp tổng hợp và phương pháp thực tiễn.
4
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 3 chương với nội dung như sau.
Chương 1: Tổng quan lý luận về tranh chấp biên giới-lãnh thổ trên biển
Chương 2: Một số tranh chấp về biên giới-lãnh thổ trên biển của các
nước ASEAN được giải quyết thông qua cơ chế tài phán.
Chương 3: Vận dụng kinh nghiệm của các nước ASEAN cho Việt Nam
trong vấn đề giải quyết tranh chấp biên giới-lãnh thổ trên biển hiện nay
5
Chương 1
TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP
BIÊN GIỚI - LÃNH THỔ TRÊN BIỂN
1.1. Khái quát về chủ quyền quốc gia trên biển
1.1.1. Khái niệm chủ quyền quốc gia
quyền mang tính hoàn toàn, tuyệt đối và riêng biệt trên hai phương diện
quyền lực và vật chất:
- Về phương diện quyền lực, quốc gia có quyền bất khả xâm phạm về
lãnh thổ; quyết định đường lối phát triển đất nước; thực hiện quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp thông qua hệ thống cơ quan Nhà nước từ trung ương đến
địa phương; thực hiện thẩm quyền đối với các cá nhân và tổ chức đang hoạt
động trên lãnh thổ quốc gia.
- Về phương diện vật chất, quốc gia có quyền khai thác, sử dụng, bảo
vệ nguồn tài nguyên nằm phía trong biên giới quốc gia, bao gồm tài nguyên
vùng lòng đất, tài nguyên đất, nước, không khí…Quốc gia thực hiện quyền
lực của mình một cách đầy đủ, trọn vẹn, trên cơ sở tôn trọng lợi ích cộng
đồng dân sư sinh sống trên vùng lãnh thổ đó đồng thời phù hợp với các quyền
dân tộc cơ bản.
Về mặt đối ngoại, các quốc gia có quyền thiết lập hay tham gia các
quan hệ pháp luật quốc tế cụ thể, thực hiện mọi quyền hạn phù hợp với những
nguyên tắc, quy phạm của luật quốc tế. Quốc gia hoàn toàn độc lập, không lệ
thuộc vào bất kỳ chủ thể nào trong việc tham gia vào một quan hệ pháp luật
quốc tế cụ thể. Việc ký kết các điều ước quốc tế, thiết lập quan hệ ngoại giao,
lãnh sự hay gia nhập các tổ chức quốc tế… là những biểu hiện điển hình của
việc thực hiện chủ quyền đối ngoại của quốc gia [18].
1.1.2. Chủ quyền trên biển của quốc gia
Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 đã quy định rõ về
7
vùng biển tiếp giáp lãnh thổ quốc gia ven biển gồm: vùng nội thủy; vùng lãnh
hải; vùng tiếp giáp lãnh hải; vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Quốc gia
ven biển có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng
biển trên [15], cụ thể:
định “Nhà nước thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải và
vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải phù hợp với Công
ước của LHQ về Luật biển 1982” [28, Điều 12]. Điều 17 UNCLOS cũng quy
định quyền đi qua lại không gây hại của tàu thuyền nước ngoài ở lãnh hải.
Tuy nhiên pháp luật quốc gia ven biển quy định quyền qua lại không gây hại
của tàu thuyền với những điều kiện cụ thể và phải tuân thủ pháp luật của quốc
gia ven biển… Cần luu ý là quyền đi qua không gây hại không áp dụng đối
với vùng trời trên lãnh hải. Phương tiện bay nước ngoài muốn bay qua vùng
trời trên lãnh hải của một nước ven biển phải xin phép nước ven biển đó.
Quốc gia ven biển có quyền thực hiện quyền tài phán của mình đối với một
vụ vi phạm hình sự xảy ra trên con tàu khi nó đi qua lãnh hải và hậu quả của
nó mở rộng đến quốc gia ven biển; vụ vi phạm đó có tính chất phá hoại hòa
bình, an ninh trật tự của quốc gia ven biển; thuyền trưởng hay viên chức lãnh
đạo của quốc gia mà tàu mang cờ yêu cầu. Bên cạnh đó, Công ước cũng quy
định quyền của quốc gia ven biển áp dụng mọi biện pháp trừng phạt hoặc đảm
bảo về mặt dân sự mà luật nước mình quy định đối với tàu đi qua lãnh hải sau
khi rời khỏi nội thủy của quốc gia đó.
Vùng tiếp giáp lãnh hải: là vùng biển nằm ngoài lãnh hải và tiếp giáp
với lãnh hải, phạm vi của vùng tiếp giáp không vượt quá 24 hải lý tính từ
đường cơ sở. Trong vùng tiếp giáp lãnh hải quốc gia ven biển thực hiện các
thẩm quyền có tính riêng biệt và hạn chế đối với các tàu thuyền nước ngoài.
Vùng đặc quyền kinh tế: là vùng biển nằm ở phía ngoài vùng tiếp giáp
lãnh hải, đặt dưới một chế độ pháp lý riêng, theo đó các quyền chủ quyền và
quyền tài phán của quốc gia ven biển cũng như các quyền và các quyền tự do
9
của các quốc gia khác đều do các quy định thích hợp của Công ước điều
chỉnh. Quốc gia thực hiện các quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với vùng
được xác định như trên. Đa số các quốc gia trên thế giới quy định chiều rộng
lãnh hải từ 3-12 hải lý. UNCLOS 1982 quy định chiều rộng lãnh hải của quốc
gia ven biển không quá 12 hải lý, kể từ đường cơ sở được vạch ra theo đúng
công ước. Chế độ pháp lý đối với các đảo, quần đảo được quy định tương tự
trong công ước luật biển và pháp luật quốc gia.
1.2. Khái quát tranh chấp chủ quyền biên giới - lãnh thổ trên biển
1.2.1. Khái niệm tranh chấp quốc tế
Trong quá trình cùng tồn tại, hợp tác và đấu tranh cùng phát triển giữa
các quốc gia, việc tranh chấp phát sinh và tồn tại giữa các quốc gia là điều tất
yếu. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi các mối quan hệ hợp tác giữa các quốc
gia ngày càng trở nên phổ biến, sâu sắc thì nguy cơ phát sinh tranh chấp ngày
càng trở nên thường trực. Mặc dù trên thực tế, các tranh chấp quốc đã và đang
tiếp tục xuất hiện và các chủ thể luật quốc tế nhận thức được tác động tiêu cực
của tranh chấp quốc tế đến quan hệ quốc tế nhưng cho đến này vẫn còn nhiều
quan điểm, định nghĩa khác nhau về tranh chấp quốc tế và chưa có một định
nghĩa thống nhất trong các văn bản pháp lý về tranh chấp quốc tế. Theo Pháp
viện thường trực quốc tế-cơ quan giải quyết tranh chấp của Hội quốc liên
(tiền thân của Liên hợp quốc), tranh chấp là sự bất đồng về một quy phạm
pháp luật hoặc sự kiện nào đó giữa các chủ thể nhất định (trong trường hợp
này là giữa các quốc gia) khi một trong các bên đưa ra yêu sách, đòi hỏi đối
với bên kia nhưng bên đó không chấp nhận hoặc chỉ chấp nhận một phần.
Hiến chương Liên hợp quốc, điều 34, 35 đã đề cập đến “tình thế” tức là khả
năng dẫn đến tranh chấp. Quan điểm về tranh chấp nói trên đã có sự phân biệt
về “tình thế” đối với quan điểm trước đây của Pháp viện thường trực, là tình
trạng căng thẳng phát sinh khi có sự va chạm về quyền lợi các bên, không gắn
liền với các yêu sách rõ ràng giữa họ với nhau.
11
phòng mà biển và đại dương đã, đang và sẽ mang lại cho các quốc gia trên thế
giới, đặc biệt là các quốc gia có biển. Chính vì vậy, từ trước đến nay trên thế
giới đã xảy ra rất nhiều tranh chấp giữa các quốc gia đối với các vùng biển
thuộc chủ quyền (nội thủy, lãnh hải) và quyền chủ quyền quốc gia (tiếp giáp
lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa). Các tranh chấp về biển từ trước
đến nay là một trong những loại tranh chấp quốc tế có nguy cơ làm bùng nổ
chiến tranh, xung đột giữa các quốc gia, có nguy cơ đe dọa hòa bình và an
ninh quốc tế. Có thể kể đến một số tranh chấp trên biển hiện nay đang tạo nên
xung đột, căng thẳng về chính trị giữa các quốc gia hiện nay như tranh chấp
giữa Trung Quốc và Nhật Bản đối với chủ quyền quần đảo Senkaku/Điếu
Ngư, tranh chấp giữa Nhật Bản và Hàn Quốc xung quanh quần đảo
Docdo/Takeshima, hoặc trong khu vực là tranh chấp giữa Việt Nam với các
quốc gia trong khu vực như Trung Quốc, Malaisia, Philippin, Bruneil và vùng
lãnh thổ Đài Loan liên quan đến chủ quyền, quyền chủ quyền trên Biển Đông
nói chung và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nói riêng.
Về phương diện pháp luật quốc tế từ những năm 50, 60 của thế kỷ XX,
các quốc gia đã nỗ lực xây dựng một “Bộ luật” quốc tế về biển trong đó có
các biện pháp giải quyết các tranh chấp biển. Cụ thể, tại Hội nghị quốc tế về
biển lần thứ nhất họp tại Jeneve năm 1958, cộng đồng quốc đã đề ra giải pháp
giải quyết có tính chất bắt buộc những tranh chấp về đánh cá ở biển quốc tế.
Thế nhưng trên thực tế, các quy tắc giải quyết tranh chấp này không được áp
dụng trên thực tế. Ngoài ra, cộng đồng quốc tế cũng dự thảo một nghị định
thư trao cho Tòa án quốc tế quyền giải quyết những tranh chấp thuộc nội dung
của các Công ước về biển khác nhưng do không đạt được số lượng 2/3 số
phiếu tán thành, nên nghị định the này đã không được thông qua [15].
Khi Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển được kí kết và có hiệu
lực ngày 16/11/1994, với các nội dung cơ bản, toàn diện về các vấn đề liên
13
14
gia. Nếu biên giới biển chưa được xác định, các bên đưa ra yêu sách chủ
quyền với các đảo và vùng biển xung quanh, điều này sẽ tạo ra các vùng
chồng lấn và hệ quả tất yếu là sự xung đột, căng thẳng giữa các quốc gia. Trên
thế giới có hơn 200 tuyến biên giới trên biển chưa được xác định, trong đó
khu vực châu Á-Thái Bình Dương có tới 60 tuyến biên giới. Những khu vực
có vùng biển chồng lấn chưa phân định đường biên giới biển sẽ trở thành khu
vực xung đột và tranh chấp gây bất lợi cho an ninh trên biển.
Việc hoạch định đường biên giới phân chia các vùng biển chồng lấn
của hai hay nhiều quốc gia hữu quan trong luật quốc tế gọi là phân định biển.
Việc phân định biển khi các vùng biển của các nước láng giềng “đụng nhau”,
chồng lấn lên nhau, cho dù đó là lãnh hải hay vùng đặc quyền kinh tế, thềm
lục địa đều phải bảo đảm thực hiện nguyên tắc hợp tác hòa bình, không dùng
vũ lực, theo con đường đàm phán thỏa thuận với nhau đúng luật quốc tế để
đạt được giải pháp công bằng. Pháp luật quốc tế và thực tiễn giữa các quốc
gia cho thấy rằng việc phân định biển thường được tiến hành bằng con đường
thoả thuận. Sự thoả thuận giữa các bên liên quan này cũng chính là yếu tố
quyết định phương pháp và thẩm quyền phân định biển. Theo đó, các bên liên
quan có thể thoả thuận lựa chọn hình thức đàm phán để cùng phân định biển
hoặc lựa chọn một bên thứ ba như toà án hoặc trọng tài quốc tế đứng ra phân
định biển. Chính vì vậy, trong nhiều trường hợp vấn đề phân định biển trở
thành một tranh chấp quốc tế và việc giải quyết tranh chấp đó phải có sự tham
gia của một cơ quan tài phán quốc tế. Nhìn chung, phân định biển là quá trình
phức tạp vì nó liên quan đến nhiều vấn đề có tính nhạy cảm như chủ quyền và
lợi ích quốc gia. Sự thành công và khoảng thời gian yêu cầu cho quá trình
phân định biển dài hay ngắn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ
quan như: địa hình biển, lập trường, thái độ và sự thiện chí của các quốc gia
liên quan, vị trí và giá trị của vùng biển phân định.
một bộ phận gắn liền với lục địa;
16
- Ở cách xa đường hàng hải quốc tế;
- Có ý nghĩa quan trọng đặc biệt về chiến lược, quốc phòng, an ninh,
kinh tế,… đối với quốc gia ven biển;
- Về mặt lịch sử, quốc gia ven biển đã chiếm hữu, khai thác, sử dụng từ
lâu đời mà không có nước nào phản đối.
Chế độ pháp lý: vùng nước lịch sử là vùng nước có chế độ nội thủy.
Thực tiễn trên thế giới có rất nhiều nước dựa trên các điều kiện cụ thể
về địa lý, kinh tế, quốc phòng, an ninh và lịch sử… của vùng nước, vịnh để
xác định vùng nước lịch sử của quốc gia mình. Tuy nhiên, việc xác định vùng
nước lịch sử giữa các quốc gia không hề đơn giản bởi nhiều quốc gia có
đường bờ biển kế cận, chồng lấn. Điều này dẫn đến những xung đột, căng
thẳng giữa các quốc gia.
Trước khi ký kết Hiệp định vùng nước lịch sử vào ngày 07/07/1982,
[10] Việt Nam và Campuchia cũng trải qua quá trình đàm phán căng thẳng để
có thể đi đến quyết định thống nhất. Việt Nam và Campuchia là hai nước láng
giềng có vùng biển kế cận nhau. Trong lịch sử, hai bên có vấn đề tranh chấp
chủ quyền đòi hỏi một số đảo ven bờ và chưa tiến hành đàm phán phân định
ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Giữa bờ biển Việt
Nam và Campuchia có trên 150 hòn đảo lớn và nhỏ, được chia thành bẩy cụm
và một số đảo lẻ. Ngoài một số đảo lớn như Phú Quốc có diện tích 573 km 2,
Phú Dự - 25 km2, Thổ Chu - 10 km2 và một số đảo như Hòn Dứa, Nam Du
trên dưới 5 km2, còn lại các đảo đều nhỏ có diện tích dưới 1 km2. Năm 1982,
hai bên đã ký Hiệp định về vùng nước lịch sử, trong đó xác định rõ chủ quyền
đảo của mỗi bên theo một đường mà Toàn quyền Đông Dương Jules Brévié
đề xuất năm 1939, thiết lập một vùng nước lịch sử chung hai bên cùng nhau
đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong đó, quần đảo Hoàng Sa
là nơi tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam, Đài Loan và Trung Quốc còn
quần đảo Trường Sa là nơi tranh chấp chủ quyền của sáu quốc gia và vùng
18